Bộ Lạc Là Gì ? Khái Niệm Bộ Lạc Trong Triết Học

--- Bài mới hơn ---

  • Bộ Lạc Là Gì? Đặc Điểm Của Bộ Lạc? Đặc Trưng Mới Của Nó?
  • Khái Niệm Đường Kinh Lạc Và Tác Dụng Đường Kinh Lạc
  • Dn Nhật Lạc Quan Về Triển Vọng Kinh Doanh Tại Việt Nam
  • Dn Lạc Quan Về Triển Vọng Phục Hồi Và Phát Triển Kinh Tế
  • Khi Niềm Hoan Lạc Bị Coi Là Bệnh Hoạn
  • Bộ lạc là một tập hợp dân cư được tạo thành từ nhiều thị tộc do có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết với nhau, trong đó có một thị tộc gốc tạo thành bộ lạc gọi là bào tộc . Đặc trưng của bộ lạc là có cùng ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng và cùng chung sống …

    Bộ lạc là một tập hợp dân cư được tạo thành từ nhiều thị tộc do có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết với nhau, trong đó có một thị tộc gốc tạo thành bộ lạc gọi là bào tộc.

    Đặc trưng của bộ lạc là có cùng ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng và cùng chung sống trên một vùng lãnh thổ. Mặc dù chưa thật sự ổn định nhưng việc xác lập chủ quyền về mặt lãnh thổ là đặc trưng mới của bộ lạc so với thị tộc.

    Bộ lạc có hình thức sở hữu cao hơn thị tộc. Ngoài sở hữu riêng của thị tộc, bộ lạc còn có những sở hữu khác bao gồm vùng lãnh thổ, nơi trồng trọt, săn bắt và chăn nuôi…

    Lãnh đạo bộ lạc là một hội đồng các tộc trưởng. Trong bộ lạc có một thủ lĩnh tối cao nhưng mọi quyền hành quản lý bộ lạc đều do hội nghị của hội đồng các tộc trưởng và thủ lĩnh quân sự quyết định. Hình thức phát triển cao nhất của bộ lạc là liên minh bộ lạc được hình thành từ sự liên kết nhiều bộ lạc.

    Trong xã hội nguyên thuỷ, bộ lạc là hình thức tốt nhất để phát triển sản xuất. Chính trong thời kỳ này, công cụ sản xuất bằng kim loại đã được hình thành tạo nên hình thức phân công lao động xã hội đầu tiên giữa trồng trọt và chăn nuôi, nông nghiệp với thủ công nghiệp… Đó là tiền đề khách quan của sự xuất hiện sở hữu tư nhân. Dựa trên sở hữu tư nhân, bộ tộc ra đời thay thế cho hình thức bộ lạc và liên minh các bộ lạc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hãy Sống Lạc Quan, Và Bạn Sẽ Sống Lâu!
  • Trọn Bộ Những Stt Lạc Quan Yêu Đời Thu Hút Ngàn Like
  • Asdc: Dịch Vụ Trừu Tượng Định Nghĩa Hội Nghị
  • Định Nghĩa Câu Lạc Bộ Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Câu Lạc Bộ
  • Khái Niệm Về Câu Lạc Bộ
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Không Gian Và Thời Gian: Phân Tích Triết Học. Lỗi Lôgic: Nguyên Nhân, Các Dạng Lỗi Lôgic Chính. Xem “lỗi Lôgic” Là Gì Trong Các Từ Điển Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Mô Hình 3 Lớp (Three Layer) Là Gì Và Có Gì Hay?
  • Tìm Hiểu Về Mô Hình 3 Lớp (3 Layer)
  • Layout Là Gì? Vì Sao Cần Chú Ý Layout Trong Thiết Kế Đồ Họa?
  • Lý Thuyết Tập Mờ Và Logic Mờ
  • Điều Khiển Mờ Là Gì? Ứng Dụng Điều Khiển Mờ Trong Máy Giặt
  • Vấn đề mắc lỗi logic trong diễn đạt rất phù hợp trong thời đại của chúng ta. Nhiều người mắc lỗi logic trong bài phát biểu của họ. Một số do không biết các quy luật logic, những người khác chỉ đơn giản là bỏ qua các quy luật này. Nhưng tính nhất quán của lời nói là một phẩm chất giao tiếp rất quan trọng không thể bị bỏ qua. Đó là vào anh ta rằng sự hiểu biết chính xác của câu hoặc thậm chí nội dung của toàn bộ văn bản phụ thuộc vào ý nghĩa của câu nói.

    Nói cách khác, một trong những biện pháp đầu tiên của các chế độ chính trị bất hợp pháp là kiểm duyệt và đàn áp những người chỉ trích và bất đồng chính kiến. Về mặt tôn giáo, điều này được thực hiện bằng cách nói xấu các thành viên cũ, đặc biệt nếu họ đang cố gắng giải thích lý do tại sao họ rời nhóm tôn giáo mà họ thuộc về. Trong nhiều trường hợp, việc khái quát hóa quá mức, các thuật ngữ xúc phạm và thậm chí cấm mọi liên hệ được sử dụng để tạo ra ý tưởng rằng tất cả các thành viên cũ đều có những sai sót cố hữu, bỏ qua khả năng bỏ qua cân nhắc lương tâm, bất đồng về giáo lý và nhiều yếu tố có thể buộc ai đó phải trung thực đánh giá quá cao niềm tin của bạn.

    Điều rất quan trọng là phải xây dựng bài phát biểu của bạn nhất quán và không mâu thuẫn, tuân thủ các quy luật logic. Ngay cả Aristotle cũng cảnh báo chúng ta về những sai lầm logic trong bài diễn thuyết. Ông lập luận: “Lời nói phải tuân theo các quy luật logic”. Nếu không, bạn có thể không hiểu chính xác, hoặc thậm chí không hiểu gì cả. Và lời nói hợp lý ngăn chặn sự bóp méo suy nghĩ của bạn trong khi nói, đồng thời cũng giúp bạn dễ dàng hiểu từng câu và toàn bộ văn bản hơn.

    Việc người nói chuyện với chúng ta vẫn hút thuốc không có nghĩa là thuốc lá ít tác hại hơn. Không phải ví dụ tốt nhất hành vi, nhưng ở giai đoạn này anh ta sẽ không đúng. Ví dụ: nếu ngân hàng của bạn bổ nhiệm một người có tội phạm tài chính khét tiếng làm giám đốc, bạn không thể là người đáng chê trách khi tìm kiếm một tổ chức khác. Trong trường hợp này, tính trung thực của con người cũng quan trọng như tính logic của những gì anh ta nói.

    Trong ngôn ngữ, cũng có những mâu thuẫn chết người mà không thể giải quyết đơn giản bằng cách sửa lỗi. Những mâu thuẫn như vậy được gọi là nghịch lý. Không nghi ngờ gì, việc suy ngẫm về những nghịch lý là một trong những bài kiểm tra tốt nhất về khả năng logic và là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để đào tạo chúng.

    Mục đích của việc này kiểm tra công việc khám phá các lỗi logic và nghịch lý. Để đạt được mục tiêu, cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

    Vì vậy, một biện pháp phòng ngừa hợp lý và hợp lý. Nó được tóm gọn trong cụm từ “thiếu bằng chứng không chỉ ra sự vắng mặt.” Đó là về việc sử dụng thiếu bằng chứng hoặc chống lại điều gì đó để chứng minh quan điểm khác. Bạn không có bằng chứng rằng Chúa tồn tại.

    Bạn không có bằng chứng rằng không có Chúa. “Tất nhiên là có một dòng suối; không ai có thể chứng minh rằng nó không phải là. ” Nó chỉ ra rằng sự thiếu bằng chứng đơn giản không chứng minh được gì. TRONG trường hợp tốt nhất bạn có thể đề xuất, nhưng đừng bao giờ đóng câu hỏi. Bây giờ, nếu chúng ta có hai luận điểm trái ngược nhau, và một luận điểm không có bằng chứng đáng tin cậy có lợi cho nó, và luận điểm kia, hãy ở lại với anh ta. Nhưng nếu anh ta cũng không có bằng chứng, sẽ không phải là vấn đề của người khác sẽ làm cho anh ta hợp pháp.

      để tiết lộ khái niệm về lỗi lôgic và các dạng của nó. Lỗi nội dung và hình thức. Phép ngụy biện và mô phỏng;

      định nghĩa nghịch lý là gì;

      tập thể dục.

    1. Khái niệm về lỗi lôgic và các dạng của nó. Lỗi nội dung và hình thức. Phép ngụy biện và mô phỏng.

    Lỗi lôgic là những sai sót trong lập luận, suy luận, định nghĩa khái niệm, chứng minh và bác bỏ do vi phạm pháp luật và sự biến dạng của các hình thức tư duy. Các lỗi lôgic đã được nghiên cứu bởi Aristotle trong Sự phản bác các lập luận ngụy biện. Trên cơ sở này, theo logic truyền thống, bắt đầu với các công trình của chất dẻo, nó đã được phát triển miêu tả cụ thể lỗi lôgic. Phù hợp với các phần của bằng chứng được xác định trong logic truyền thống, các lỗi logic được chia thành:

    Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận để không rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan giả tạo và cho phép mình bị lừa dối bởi những phân đôi sai lầm, như trong ví dụ sau… “Mối liên hệ còn thiếu” giữa con người và động vật linh trưởng vẫn chưa được tìm thấy. Điều này cho chúng ta thấy rằng Thuyết Tiến hóa là sai, và sách Sáng thế ký trong Kinh thánh nói về việc Chúa tạo ra cặp vợ chồng đầu tiên là đúng.

    “Bạn không nghĩ rằng nếu tôn giáo phát triển quá nhiều vì điều này một khoảng thời gian ngắn Có phải vì Chúa ở cùng cô ấy không? ” Mười triệu người không thể sai được. Tham gia nhà thờ của chúng tôi quá. “Đó là một sự thật siêu phàm rằng một triệu người đã chấp nhận quy tắc đức tin này.”

      Lỗi trong cơ sở, nghĩa là, trong cơ sở chứng minh:

      lý do sai, hoặc lỗi chính, khi luận điểm được chứng minh là cố gắng suy luận từ những tiền đề (lập luận) sai;

      dự đoán về cơ sở, hoặc cơ sở chưa được chứng minh, khi luận điểm được chứng minh đang cố gắng suy luận từ những tiền đề đó, có thể không sai, nhưng bản thân chúng vẫn cần phải chứng minh sự thật của chúng;

      Đặc biệt, trong tôn giáo, điều đó còn tồi tệ hơn: nếu mười triệu người tin vào một điều, thì khoảng 300 triệu người tin vào điều hoàn toàn khác; và ngay cả tôn giáo quan trọng nhất cũng không có được lợi thế lớn như vậy về mặt số lượng, vì tổng của phần còn lại vẫn lớn hơn số tín đồ của tôn giáo đó. Có những cách thông minh hơn và trung thực hơn để tìm kiếm sự đồng thuận giữa người đối thoại và khán giả.

      một vòng luẩn quẩn, hoặc một vòng tròn trong chứng minh, khi luận điểm được suy ra từ các tiền đề và lần lượt các tiền đề được suy ra từ luận điểm, do đó thu được một vòng tròn không chứng minh được luận điểm hoặc tiền đề.

      sự thay thế của luận điểm, hoặc sai lệch so với luận điểm, khi bắt đầu chứng minh một luận điểm, sau một thời gian trong quá trình chứng minh tương tự, họ bắt đầu chứng minh một luận điểm khác, thường giống với luận điểm ban đầu chỉ ở bên ngoài;

      chứng minh quá mức, hoặc ai chứng minh quá mức cũng không chứng minh được gì khi chứng minh quá nhiều, do đó từ những tiền đề này không chỉ theo luận điểm cần chứng minh mà còn có một số vị trí sai lầm.

      Thật dễ dàng cho thấy sự phi lý của điều này bằng cách thay đổi động cơ sợ hãi. Tôi tin rằng bù nhìn sống trong tủ, bạn không tin điều đó. “Tốt hơn nên bỏ phiếu để kết tội bị cáo, hoặc bạn có thể là nạn nhân tiếp theo của anh ta.” Sự hấp dẫn đa dạng đối với đám đông, nhưng lập luận quan trọng trong trường hợp này là “càng nhiều tuổi càng tốt”. Khi một người chuyển sang truyền thống, anh ta đang đánh cược rằng những niềm tin cũ luôn đúng, điều này rõ ràng là không đúng, vì y học chứng minh hầu như mỗi ngày.

      Chiêm tinh học là một nghệ thuật thần thánh được thực hành hàng ngàn năm trước ở phương Đông. Người ta nói rằng các vị vua cổ đại của Babylon sẽ sử dụng nó để biết những ngày thuận lợi nhất cho trận chiến. Ngay cả các hoàng đế Trung Quốc cũng sử dụng các ngôi sao để hướng dẫn các bước của họ trong chính phủ. Với đáng kính này chương trình giáo dục không thể chấp nhận được rằng họ vẫn không coi nó là một khoa học.

      “Tất nhiên là có yêu tinh, truyền thuyết về chúng có hàng thế kỷ, hàng thế kỷ tồn tại.” “Cuốn sách thiêng liêng của chúng tôi đã hơn 3.000 năm tuổi và còn nguyên vẹn, vì vậy chỉ nó mới có thể chứa đựng sự mặc khải thực sự của thần thánh.” Các vị tử đạo đầu tiên sử dụng hoặc tin vào điều này.

      Những thực hành này có từ những thế kỷ đầu của Hội thánh chúng ta. Làm thế nào bạn có thể hỏi họ? Ví dụ, chế độ nô lệ đã được coi là chính đáng ở vô số dân tộc trong hàng nghìn năm, và ngày nay chúng ta không cần phải chấp nhận nó như một tập quán hợp pháp. Khi chúng ta muốn củng cố luận điểm của mình, chúng ta có thể chuyển sang ý kiến u200bu200bcủa những người được tôn trọng để xác nhận nó. Điều này hoàn toàn đúng và thậm chí là đáng mơ ước. Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng cẩn thận với việc lựa chọn trích dẫn của mình và cuối cùng chúng ta sẽ trích dẫn bất kỳ nhân vật nổi tiếng nào như thể họ có quyền hạn hơn bất kỳ người phàm nào khác trong những vấn đề mà họ không phải là chuyên gia.

      tổng quát hóa vội vàng, khi một thuộc tính nhất định, chỉ được tìm thấy trong một phần nhỏ của các đối tượng của một lớp nhất định, được chuyển giao cho tất cả các đối tượng của lớp chỉ với lý do không có đối tượng nào không có thuộc tính này.

      pha trộn nhân quả với một trình tự đơn giản trong thời gian, khi lập luận theo quy tắc sai lầm: “sau cái này, rồi vì cái này”

      tăng gấp bốn lần các thuật ngữ, khi thuật ngữ thứ tư xuất hiện trong chủ nghĩa âm tiết, trong đó các nội dung khác nhau được lồng vào và do đó không thể kết nối các thuật ngữ cực đoan của chủ nghĩa âm tiết trong phần kết luận.

    3) Sai sót trong lập luận, tức là ở dạng suy luận, lập luận:

    Để an tâm hơn vào lúc này, khi chúng tôi đối diện với lời khai của các cơ quan chức năng này, tốt hơn hết là nó đủ chi tiết để chúng tôi có thể chắc chắn rằng họ biết họ đang nói về điều gì và lý do tại sao họ thuận lợi hay không. một ý tưởng nào đó. Ý thức chung yêu cầu rằng trước khi bạn cúi đầu trước danh hiệu và sự nổi tiếng, hãy cho chúng tôi biết những lập luận nào đang được sử dụng và liệu chúng có thực sự đáng tin cậy hay không. Rốt cuộc, ngay cả những người khôn ngoan cũng có lỗi và hiểu lầm của họ.

    Đây là những từ dùng để chỉ những điều khó chịu tiềm ẩn. Đỉnh cao của nó sử dụng những cách diễn đạt được coi là đúng về mặt chính trị, phổ biến ở Hoa Kỳ đến mức chúng thậm chí còn buồn cười. “Anh chàng được thử thách theo chiều dọc là một gã gnome.”

    Tất cả các quốc gia đều là liên bang.

    Belarus là một quốc gia.

    Một lỗi được gọi là chính thức nếu kết nối giữa các câu lệnh trong suy luận không tương ứng với các luật logic. Một ví dụ về lỗi chính thức:

    Một số quốc gia là liên bang.

    Belarus là một quốc gia.

    Do đó, Belarus là một liên bang.

    “Người Mỹ gốc Phi là một người da đen.” Những người khác linh hoạt hơn và ít hài hước hơn. “Thu giữ bất hợp pháp tiền công – trộm tiền công.” 4. “Chúng tôi mời bạn rời khỏi cơ sở – để trục xuất khỏi cơ sở.” Các phép ngụy biện thường không có căn cứ, nhưng chỉ một vài trong số chúng được sử dụng khi cần thiết để tránh làm tổn hại đến tính nhạy cảm của một người, điều này được phóng đại trong trường hợp đúng về mặt chính trị. Một lập luận tốt phải rõ ràng, ngắn gọn, và tốt nhất là không có các từ ngữ có thể làm gián đoạn giao tiếp. Nếu chúng được sử dụng quá thường xuyên, có thể xảy ra trường hợp người đối thoại của chúng ta cố gắng giảm thiểu hoặc ngụy tạo điều gì đó.

    Aristotle, người đã thu hút sự chú ý của các lỗi lôgic, đã xác định hai loại trong số đó: mô tả và ngụy biện. Mô tả là những sai lầm lôgic không cố ý của con người do trình độ tư duy kém và không biết các quy tắc lôgic. Sai lầm trong suy luận như vậy không phải là nội dung của nó sẽ đúng hay sai, mà là hình thức suy luận không tương ứng với các quy tắc của lôgic. Thuyết diễn ngôn khác với thuyết ngụy biện ở bản chất vô tình của nó một lỗi lôgic được cố ý phạm phải.

    “Nếu Chúa có thể làm bất cứ điều gì, ông ấy có thể tạo ra một tảng đá nặng đến mức ngay cả ông ấy cũng không thể nhấc nổi?” Một lần nữa, câu hỏi này là vô nghĩa, vì thừa nhận rằng Chúa có thể tạo ra một viên đá như vậy cũng là thừa nhận rằng Ngài không thể làm được mọi thứ; và thừa nhận rằng anh ta không thể tạo ra một viên đá cũng giống như việc phủ nhận sự toàn năng của mình. Do đó, không có căn cứ nào có thể dẫn đến suy luận chính đáng.

    Một ví dụ về thuyết minh họa:

    Áo khoác của tôi được làm bằng vải.

    Vật chất là vĩnh cửu.

    Vì vậy, áo khoác của tôi là vĩnh cửu.

    Sophisms (từ sophisma tiếng Hy Lạp lừa, hư cấu, câu đố) đó là suy luận được xây dựng không chính xác có chủ ý, dựa trên các lỗi lôgic được thực hiện để giới thiệu ai bất cứ điều gì để làm bối rối hoặc xấu hổ. Phép ngụy biện đã được biết đến từ thời cổ đại.

    Một ví dụ khác tiêu biểu cho các tôn giáo Cứu rỗi, đặc biệt là các tôn giáo Cơ đốc. Đức Chúa Trời là đấng toàn trí sáng tạo ra mọi thứ. Không, cái ác là tạo vật của hắn. Hãy xem: nếu Đức Chúa Trời là đấng tạo ra mọi thứ và trên hết là toàn tri, thì làm sao chúng ta có thể nói rằng cái ác không phải cũng là sự sáng tạo của Ngài? Khi họ đứng, các tuyên bố mâu thuẫn với nhau, bởi vì ngay cả khi Đức Chúa Trời không trực tiếp tạo ra điều ác, nhưng nếu Ngài toàn trí và tạo ra chúng sinh, đã biết rằng họ sẽ làm những việc ác, thì điều nhất có thể nói rằng Ngài là người gián tiếp của họ. người sáng tạo.

    Chính ý tưởng trở thành nguồn gốc của tất cả những gì tồn tại có nghĩa là không chỉ tạo ra những gì chúng ta nghĩ là tốt mà còn cả những gì chúng ta nghĩ là xấu. Nhưng nếu điều ác được tạo ra bất chấp ý muốn hoặc sự hiểu biết của Đức Chúa Trời, điều này có ý nghĩa hơn, thì nó sẽ không toàn năng. Và sau đó chúng ta sẽ có một mâu thuẫn khác.

    Một ví dụ về ngụy biện:

    Người ngồi dậy đứng dậy.

    Ai dậy thì đứng.

    Do đó, người ngồi là người đứng.

    Trong cuộc chiến chống lại các lỗi logic, việc sử dụng các phương tiện logic có tầm quan trọng không nhỏ. Những phương tiện này mang lại kết quả thích hợp trong những lĩnh vực mà tài liệu thực tế cho phép làm rõ hình thức lập luận được quy định bởi lôgic hình thức, xác định các liên kết bị bỏ sót của bằng chứng, diễn đạt chi tiết bằng lời của kết luận, định nghĩa rõ ràng về các khái niệm. Trong những lĩnh vực này, việc sử dụng logic là một phương tiện hữu hiệu để loại bỏ sự nhầm lẫn, không nhất quán và thiếu bằng chứng trong tư duy.

    Thông thường mọi sách giáo khoa logic đều có một chương về các lỗi trong lập luận. Nói chung, những lỗi này được phân loại như sau: A) thuần túy lôgic, hoặc hình thức, B) bán lôgic, hoặc bằng lời nói, C) tài liệu.

    A. Lỗi chính thức

    Lỗi chính thức là những lỗi không phù hợp với kiểu suy luận được lập luận. Khi đưa vào dạng giả định, tất cả những lỗi tương tự là ví dụ về các đối số bắt nguồn từ một tuyên bố hệ quả hoặc một phủ định trước đó; nếu không, các đối số này khẳng định một hàm ý, hoặc kết nối logic, nơi không có. Một ví dụ về trường hợp thứ hai là thuyết âm tiết trong đó thuật ngữ ở giữa không được phân bổ. Chủ nghĩa âm tiết như vậy tóm lại thành một lập luận bốn thuật ngữ, trong đó các tiền đề không cho chúng ta cơ sở hay bằng chứng nào để đưa ra kết luận. ĐẾN loại này lỗi cũng bao gồm loại sau.

    B. Lỗi bán lôgic hoặc lỗi diễn đạt

    Có vẻ như tất cả các lỗi thuộc loại này đều đồng ý với đúng mẫu kết luận, nhưng một phân tích cẩn thận cho thấy điều ngược lại: ấn tượng về sự đúng đắn là kết quả của sự mơ hồ, tức là sử dụng cùng một từ hoặc dấu hiệu bằng lời nói cho hai thuật ngữ khác nhau. Có vẻ như lập luận có dạng: A là B B là C, do đó A là C. Tuy nhiên, trên thực tế, hình thức của lập luận này như sau: A là B và D là C, có C.

    Điều quan trọng cần lưu ý là không phải mọi ví dụ về sự mơ hồ đều là sai lầm. Nếu chúng ta xem xét bất kỳ từ điển giải thích nào bằng tiếng Anh, sau đó đảm bảo rằng có ít từ chỉ có một nghĩa. Mặc dù chỉ có một cách để viết từ “có”, nhưng có nhiều cách để nói từ đó, với các sắc thái ý nghĩa khác nhau. Lỗi chỉ xảy ra khi lập luận rằng những tiền đề nhất định nhất thiết phải dẫn đến một kết luận nhất định và khi phát biểu đã cho là sai do không có mối liên hệ thực sự, được che giấu bằng cách sử dụng cùng một từ để chỉ những điều khác nhau.

    Tất cả những lỗi này đều xuất phát từ việc sử dụng từ ngữ không rõ ràng, tuy nhiên, một số dạng phổ biến đặc biệt cần được đề cập.

    1. Sai sót cấu thành thường xảy ra nhất khi chúng ta suy luận từ thuộc tính của các yếu tố hoặc cá thể đến thuộc tính của tổng thể chúng tạo thành. Khi được áp dụng cho tính toàn vẹn, một từ có thể có ý nghĩa rất khác so với khi được áp dụng cho một thành phần đơn lẻ. Vì vậy, thực tế là tất cả các binh sĩ của một trung đoàn cụ thể đều mạnh không dẫn đến kết luận rằng trung đoàn mà họ tạo thành cũng mạnh. Trong hai trường hợp này, từ “mạnh” có nghĩa khác nhau. Thực tế là tất cả các binh sĩ đều là người Ireland không có nghĩa là trung đoàn là người Ireland. Anh ta có thể là một phần của quân đội Anh hoặc thậm chí là Pháp.

    2. Phép chia sai là lỗi ngược lại vừa được xét và bao gồm trong việc xem xét các thuộc tính của các số nguyên như thể chúng là các thuộc tính các bộ phận riêng biệt… Nếu chúng ta nói rằng nhân loại nói chung đạt được mục tiêu của mình thông qua thử và sai, thì không có nghĩa là bất kỳ cá nhân hoặc nhóm cá nhân nào, theo phương pháp này, cuối cùng sẽ luôn đạt được thành công. Việc Thượng viện La Mã là một hội đồng khôn ngoan không chứng tỏ rằng mọi thành viên đều khôn ngoan. Tương tự như vậy, sự ngu ngốc nói chung vốn có trong một hội thánh nào đó, có thể được đánh giá bằng các sắc lệnh của cuộc họp đó, không chứng minh rằng các thành viên riêng lẻ của hội thánh là những người ngu ngốc. Mọi người có những tính cách khác nhau, ở trong một nhóm và tại một thời điểm.

    Sai lầm này phổ biến ở các nhà đạo đức nghiêm khắc, nhà pháp lý, nhà lý thuyết giáo dục và các nhà lý thuyết xã hội khác, những người cố gắng tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi cụ thể mà mọi người phải đối mặt từ một số quy tắc đạo đức, luật pháp, sư phạm hoặc xã hội khác tuyệt đối. Từ bằng chứng rằng nói dối là xấu, rằng công lý nên được mở rộng cho mọi người, tài sản cần được bảo vệ, v.v., các nhà tư tưởng như Khắc kỷ, Kant và Blackstone kết luận rằng không nên nói dối ngay cả khi để cứu mạng sống. đối với một người vô tội, rằng tội phạm không bao giờ có thể được tha thứ và vì mục đích công cộng, nhà nước không thể tước đoạt tài sản của người đó trái với ý muốn của họ, ngay cả khi nó trả cho anh ta theo giá trị thị trường. Tất cả các quy tắc trên đã được chứng minh là mong muốn nói chung vì những lý do trừu tượng. Tuy nhiên, về mặt logic, nó không tuân theo một cách hợp lý rằng trong những trường hợp cụ thể, một sự cân nhắc cực kỳ quan trọng không thể được đánh giá cao hơn những người khác. Sự giao tiếp của con người đòi hỏi việc nói dối phải bị lên án, nhưng sự cân nhắc này có thể vượt quá nhu cầu cứu mạng con người.

    Tránh sự mơ hồ là vô cùng khó khăn. Quy trình khoa học nhằm tránh sự mơ hồ thông qua việc sử dụng các thuật ngữ chuyên môn, cũng như thông qua việc kiên trì tìm kiếm các ví dụ minh họa sự thật của tiền đề và sự sai lầm của kết luận. Nếu phát hiện như vậy, lập luận được đề cập được coi là không có cơ sở.

    C. Sai sót trọng yếu

    Tuy nhiên, giả định rằng mọi thứ diễn ra sau một sự kiện đều là hệ quả của nó là hậu quả của nó là hậu quả của nó ( sau đó, do đó, vì điều này) là sai, và tất cả các lập luận dựa trên giả định này không chứng minh được những gì chúng định chứng minh. Tương tự, việc khẳng định bằng chứng của một phán quyết là sai lầm nếu nó ít hay nhiều hình thức ẩn đã được đưa vào bưu kiện của chúng tôi. (Lỗi này được gọi là “chấp nhận vấn đề gây tranh cãi như đã quyết định “, hoặc” nguyên tắc nhỏ “). Lấy một câu hỏi làm tiền đề không có nghĩa là chứng minh nó.

    1. Một dạng riêng biệt của lỗi này được gọi là suy luận vòng. Nó bao gồm việc đưa một phán đoán vào cơ sở của chúng ta, bản thân nó phụ thuộc vào phán đoán được chứng minh. Do đó, một lập luận vòng tròn sẽ là một nỗ lực để chứng minh tính không thể sai lầm của Qur’an bằng cách đánh giá rằng nó được viết bởi một nhà tiên tri của Chúa (Mohammed), nếu sự thật của sự kiện Mohammed là một tiên tri của Chúa phụ thuộc vào thẩm quyền của Qur’an. Theo một nghĩa nào đó, tất cả khoa học đều là vòng tròn, bởi vì tất cả các bằng chứng đều dựa trên các giả định không xuất phát từ các bằng chứng khác, nhưng được chứng minh bằng cách sử dụng một tập hợp các hệ quả có được từ chúng.

    Do đó, chúng tôi sửa chữa các quan sát của mình và loại trừ các sai sót khỏi chúng, tuân theo một số nguyên tắc, nhưng bản thân các nguyên tắc này chỉ được chứng minh vì chúng đồng ý với dữ liệu thực nghiệm. Nói cách khác, khoa học không thể chỉ dựa trên các nguyên tắc. Ngoài ra, nó không thể dựa vào các quan sát thực nghiệm được coi là bình đẳng và độc lập. Nguyên tắc và quan sát thực nghiệm kiểm soát lẫn nhau. Đồng thời, có sự khác biệt giữa vòng tròn, bao gồm một số lượng nhỏ các phán đoán, mà chúng ta có thể tránh bằng cách bác bỏ tất cả các phán đoán này hoặc bằng cách xây dựng các phán đoán mâu thuẫn với chúng, và vòng tròn khoa học lý thuyết và quan sát của con người, rộng lớn đến mức chúng ta không thể đưa ra bất kỳ điều gì. các lựa chọn thay thế.

    Khi chúng ta nhận ra rằng phán đoán trong câu hỏi là sai, chúng ta bắt đầu thấy bản chất ảo tưởng của những bằng chứng đó, cũng như sự thiếu sức mạnh thử thách trong chúng. Tuy nhiên, trong quá trình thẩm vấn chéo tại tòa, các luật sư thường nhầm lẫn giữa các nhân chứng và buộc họ phải thú nhận và do đó phải chứng minh (trước bồi thẩm đoàn) phán đoán sai lầm bằng cách biến nó thành một phần câu hỏi của bạn; trong trường hợp như vậy, cả câu trả lời khẳng định và phủ định cho câu hỏi của họ sẽ ngụ ý sự chấp nhận sự thật, điều mà nhân chứng sẽ không chấp nhận nếu được hỏi trực tiếp về điều đó.

    Từ chối tinh vi

    Một kiểu phản bác ngụy biện khác là làm mất uy tín một lập luận hoặc làm cho nó trở nên lố bịch bằng cách củng cố nó quá mức. Điều này thường không được thực hiện trực tiếp, nhưng gián tiếp. Vì vậy, vào năm 1910, khi chính phủ tự do của Vương quốc Anh đe dọa thu thập đủ số phiếu bầu để vượt qua quyền phủ quyết của Hạ viện, báo chí bảo thủ đã phản ứng bằng một bức tranh biếm họa trong đó mọi tài xế taxi hoặc quản gia đều là lãnh chúa. Tương tự, một người bị chỉ ra những sai sót nhất định trong trình độ học vấn của mình, v.v., cố gắng bác bỏ những lời chỉ trích bằng cách giả vờ rằng anh ta bị buộc tội trọng tội hoặc những cuộc tấn công thấp hèn, điều này hoàn toàn vô lý khi gán cho anh ta.

    Số lượng các thủ thuật tinh vi khác nhau là rất lớn và việc liệt kê đầy đủ chúng nằm ngoài phạm vi logic. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là các quy tắc logic thường được sử dụng trong các lập luận ngụy biện để bác bỏ các lập luận hợp lệ. Ví dụ, các nhà phê bình triết học thường cho rằng việc đối phương không đưa ra định nghĩa rõ ràng về các thuật ngữ của mình khiến lập luận của anh ta trở nên vô căn cứ. Nhưng giả định rằng tất cả các từ có thể được định nghĩa tự nó là sai. Tương tự như vậy, các nhà phê bình thường cho rằng việc sử dụng các từ có nhiều hơn một nghĩa dẫn đến một lập luận chung là không thể giải thích được. Tuy nhiên, rất ít từ không có nhiều nghĩa, và ý nghĩa thực sự trong bất kỳ đoạn văn nhất định nào tốt nhất là do chính văn bản đưa ra, thay vì các định nghĩa hoặc quy định trước đó về cách sử dụng nó.

    Nếu bạn nhận thấy lỗi, hãy chọn một đoạn văn bản và nhấn Ctrl + Enter

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Có Tư Duy Logic Trong Việc Học Lập Trình?
  • Lập Trình Logic Python Với Ví Dụ
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Plc Lad/ld (Ladder Logic/ladder Diagram)
  • Ưu Điểm Của Mẫu Không Logic (Như Ria Mép) Là Gì?
  • Bài Soạn Cách Xây Dựng Dự Án Theo Khung Logic
  • Sự Khác Biệt Chính Giữa Triết Học Phương Đông Và Phương Tây Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tủ Sách Triết Học Phương Đông: Nhập Môn Triết Học Đông Phương
  • Vài So Sánh Giữa Triết Học Phương Đông Và Phương Tây
  • Minh Triết Phương Đông Và Triết Học Phương Tây
  • Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông
  • Các Quy Luật Cơ Bản Của Tư Duy
  • Sự khác biệt chính giữa triết học phương Đông và phương Tây là gì?

    Trong câu trả lời sau đây, theo triết học phương Đông, tôi chủ yếu xem xét sáu trường phái triết học Ấn Độ

    Nhìn chung, sự khác biệt là:

    • Triết học phương Tây đi theo một sự phát triển theo chiều dọc, nó có thể được hiểu là những lời dạy của Plato, Socrates, Epicurus, Aristotle dẫn đến các nhà triết học theo thuyết duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, Kant thống nhất ở một mức độ nào đó hai ý nghĩ này. Ý tưởng của Kant sau đó được các nhà triết học khác sử dụng.
    • Triết học phương Đông đi theo sự phát triển theo chiều ngang song song, các trường phái triết học khác nhau phát triển Độc lập với nhau, mỗi trường hoàn thành theo khía cạnh riêng của nó. Ví dụ, Phật giáo, Jainism, Sankhya, trường phái tư tưởng Yoga khá phát triển và khác biệt với nhau.
    • Triết học phương Tây là sự tò mò trí tuệ về các khía cạnh nhận thức luận hoặc siêu hình học. Mặt khác, mục đích chính của triết học phương Đông là giải thoát cá nhân, chấm dứt sự đau khổ hay Niết bàn của anh ta. Tất cả các trường phái triết học phương Đông, ngoại trừ Charvaka đều chú trọng đặc biệt đến sự giải thoát, và tất cả những người thúc đẩy chính của triết học phương Đông đều đạt được sự giải thoát theo cách riêng của họ, có thể là Phật, Mahavira, Shankaracharya. Trái ngược với điều này, không một triết gia phương Tây nào thực sự có thể tuyên bố đã đạt được giải thoát.
    • Triết học phương Tây ban đầu được thực hành theo một cách rất giống nhau. Bản thân Biết về bản thân mình được khắc trên tiền sảnh của đền thờ Apollo ở Delphi ở Hy Lạp cổ đại. Được thực hành nổi tiếng bởi Socrates, triết học được tham gia như một loại chăm sóc bản thân, hoặc một cuộc điều tra về cách tồn tại của bản thân và thế giới. Các triết lý của Stoics, Epicureans, Skeptics và Boethius đã được điều trị một cách rõ ràng. Nhưng sau thế kỷ 18, triết học ngày càng trở nên hàn lâm hơn; nó đã được loại bỏ khỏi sử dụng thực tế, cá nhân và chuyển đổi. Mục tiêu của triết học phương Tây đã trở thành khám phá cơ sở của sự thật khoa học và giới hạn khả năng của con người để biết điều đó.

    Mảnh vỡ so với toàn diện

    “Theo Fritjof Capra, sự nhấn mạnh của suy nghĩ hợp lý được tóm tắt trong tuyên bố nổi tiếng của Descartes, ‘Cognito, ergo sum’ – ‘Tôi nghĩ, do đó, tôi tồn tại.’ Điều này đã khuyến khích người phương Tây đánh đồng bản sắc của họ với lý trí của họ hơn là với toàn bộ sinh vật. Sự phân chia giữa tâm trí và cơ thể đã dẫn đến một quan điểm về vũ trụ như một hệ thống cơ học bao gồm các vật thể riêng biệt, lần lượt bị giảm đến các khối xây dựng cơ bản có tính chất và tương tác được cho là xác định hoàn toàn tất cả các hiện tượng tự nhiên.

    Quan niệm cơ học này về toàn thế giới vẫn là nền tảng của hầu hết các ngành khoa học của chúng ta và tiếp tục có ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của chúng ta. Các ngành học trở nên rời rạc và điều này đã phục vụ như một lý do căn bản để đối xử với vũ trụ như thể nó bao gồm các phần riêng biệt được khai thác bởi các nhóm khác nhau. “

    Trong triết học phương tây, chúng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của các bộ phận của một tổng thể hơn là toàn bộ. Chúng ta thấy những thứ như tâm trí và cơ thể là hai phần riêng biệt với bản sắc riêng biệt, thay vì xem chúng là hai phần bằng nhau nhưng đối lập nhau tạo thành một tổng thể lớn hơn. Tâm lý này có thể được tìm thấy hàng ngày trong xã hội Mỹ, có thể là trong chính trị, tôn giáo, hoặc thậm chí là quan hệ chủng tộc.

    Triết học phương Đông, mặt khác, nhấn mạnh toàn bộ. Đó là một trong những lý do các nhà hiền triết Trung Quốc và Ấn Độ không bao giờ phân biệt giữa tôn giáo và triết học hoặc phân loại triết lý của họ thành các nhánh. Tất cả những lời dạy của họ không có nghĩa là được coi là những sự thật riêng biệt, mà là những phần cuối cùng sẽ dẫn đến sự mặc khải của một Chân lý:

    “Bản chất của quan điểm thế giới phương Đông là nhận thức về sự thống nhất và mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau của mọi sự vật và sự kiện, kinh nghiệm của tất cả các hiện tượng trên thế giới như là biểu hiện của một sự thống nhất cơ bản. Tất cả mọi thứ được coi là những phần độc lập và không thể tách rời của một tổng thể vũ trụ, như những biểu hiện khác nhau của cùng một thực tại tối hậu. Các truyền thống phương Đông đề cập đến thực tại tối thượng, không thể chia cắt này như Brahman trong Ấn Độ giáo, Dharmakaya trong Phật giáo và Đạo trong Đạo giáo. “

    Các quan niệm khác nhau về Tạo hóa hoặc năng lượng sáng tạo phản ánh sự phân chia giữa triết học phương đông và phương tây. Hãy nhớ rằng trong khi chúng ta tách rời triết học và tôn giáo ở phía tây, hai người song hành với nhau trong hầu hết các truyền thống phương Đông.

    Ở phía tây, có Chúa. Theo tôn giáo của bạn, bạn tôn thờ Chúa theo một cách nhất định và sống cuộc sống của bạn theo một cách nhất định. Thần Áp-ra-ham được hầu hết dân số trên thế giới tôn thờ. Vị thần này là một “anh ta” và anh ta cảm thấy giống như những cảm xúc mà con người làm: tức giận, ghen tuông, hạnh phúc, tình yêu, v.v … Vị thần này là siêu nhiên và có thể bẻ cong quy luật tự nhiên theo ý muốn của anh ta. Trớ trêu thay, mặc dù con người được cho là do Thiên Chúa tạo ra, và mặc dù người ta nói rằng mọi thứ Chúa tạo ra đều tốt, con người bị coi là bẩn thỉu, tội lỗi, xấu xa và không xứng đáng với tình yêu của Chúa. Đàn ông phải làm việc để có được tình yêu của Thiên Chúa, bằng cách tôn thờ đứa con trai duy nhất của mình, bằng cách cầu nguyện cho anh ta năm lần mỗi ngày và hành hương đến Mecca, bằng cách cắt bao quy đầu, hoặc một số hành động sùng đạo khác.

    Tôn giáo phương Tây và tập trung vào các khía cạnh công khai (bên ngoài) của các truyền thống tôn giáo, và nó tập trung vào các mảnh vỡ tạo nên tôn giáo (tôn giáo của bạn, giáo phái của bạn, bạn đến nhà thờ nào, bạn ăn gì, kinh sách nào bạn đọc, v.v. .). Triết học phương Tây tập trung vào các bộ phận hơn là toàn bộ.

    Đối lập ý tưởng này là viễn cảnh phía đông về Tạo hóa hoặc năng lượng sáng tạo. Trong Đạo giáo, có Đạo. Đạo không phải là một vị thần. Đó không phải là anh hay cô. Nó là nguồn gốc của mọi giới tính và do đó vượt qua nó. Đạo là nguồn gốc của mọi sự sống, và nó là thứ duy trì mọi sự sống. Nói một cách dễ hiểu hơn về phương Tây, Đạo có thể được gọi là năng lượng mạnh mẽ tạo ra và hỗ trợ sự sống. Mục tiêu của Đạo giáo là kết nối với năng lượng này bằng cách sống một lối sống tự nhiên và cân bằng hơn. Một người không tôn sùng Đạo, một người tự xếp mình với nó. Một người không cầu nguyện với Đạo, một người thiền và chiêm ngưỡng Đạo. Bạn kết nối với Đạo bằng cách sắp xếp chính mình với khái niệm âm dương, bằng cách đơn giản là đi theo dòng chảy của tự nhiên. Đạo không “siêu nhiên” theo nghĩa là nó thực hiện phép lạ; đúng hơn, đó là thứ tạo ra và chi phối “luật” của tự nhiên.

    Khái niệm đạo Bà la môn của đạo Hindu tương tự như Đạo, cũng như khái niệm Phật giáo về Phật pháp. Đây không phải là các vị thần. Họ không yêu cầu chúng ta cầu nguyện với họ bằng một ngôn ngữ nhất định hoặc tôn thờ họ. Thay vào đó, họ đại diện cho thực tế cơ bản, đáng kể đằng sau một thế giới luôn thay đổi. Mọi thứ trong vũ trụ không ngừng phát triển và co lại, được sinh ra và chết đi. Mọi thứ đang trở thành một thứ khác. Nhưng đằng sau sự trở thành này là một cái gì đó mà IS. Cái mà IS là cái mà các triết học phương đông nhấn mạnh, không phải cái mà trở thành.

    Các truyền thống phương Đông tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh bí truyền (bên trong) của tôn giáo và triết học, và họ tập trung vào toàn bộ hơn là các bộ phận. Nó không quan tâm lắm đến một số nghĩa vụ cứng nhắc đối với một vị thần bí ẩn siêu nhiên, nhưng nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vượt qua thế giới vật chất, từ đó tìm thấy bản chất bên trong thần thánh thực sự của mình và vị trí của một người trong vũ trụ.

    Hòa bình so với hòa hợp

    Ở Mỹ, mọi người cứ tranh cãi về quyền lợi, nhưng điều chúng ta cần là cân nhắc.

    Nhưng trong sự hài hòa, có sự cùng tồn tại.

    Giáo dục

    Ông mô tả sự hài hòa như bắt chéo tay của bạn với nhau. Không có gì bắt buộc với bất cứ ai. Chẳng hạn, chúng ta sống chung với thiên nhiên. Nơi hai bàn tay tôi bắt chéo là nơi chúng ta hiểu nhau. Nhưng trong khi có thể có một số điều mà chúng ta có thể không nhìn thấy, nơi cánh tay của chúng ta không chạm vào, một số điều tôi không hiểu về bạn, tôi không bận tâm. Tôi chỉ chấp nhận nó.

    Sự khác biệt chính là

    thái độ đối với biện chứng

    .

    Có rất nhiều triết lý châu Âu, và có rất nhiều triết lý từ bên ngoài châu Âu. Cố gắng để ăn mòn tất cả mọi thứ vào phương Tây và phương Đông với một số đặc điểm rõ ràng gọn gàng là một bài tập vô ích.

    Một điểm khác biệt là thái độ đối với phép biện chứng. Triết học phương Tây tập trung nhiều vào tranh chấp, mang tính biện chứng nặng nề, hơn cả hầu hết các triết lý của Đông và Nam Á. Điểm này là khó khăn hơn nhiều so với lần trước bởi vì có nhiều ngoại lệ. Triết học Ấn Độ có nhiều hơn trong cách tranh luận và lập luận chặt chẽ với sự chú ý đến ngữ nghĩa hơn là triết học Trung Quốc, ví dụ. Nó vẫn dựa trên các bài thánh ca Vệ đà và những bài thơ mà bạn có thể tìm thấy trong Upanishad, có hình thức các bài thánh ca và câu chuyện thường xuyên hơn các chuyên luận, mặc dù ở đó

    Chúng tôi

    một số chuyên luận ở đó. Trên thực tế, sự xuất hiện của Phật giáo đến Trung Quốc từ Ấn Độ đã tạo ra sự kích thích cho các phương thức tư tưởng truyền thống ở Trung Quốc được thể hiện rõ ràng theo cách mà trước đây họ chưa từng thấy, bởi vì Phật giáo đã đưa ra một phương thức lý luận biện chứng chính xác hơn cho Trung Quốc. Một ngoại lệ khác là Mohism. Người Mohammed, người đã có nhiều tiến bộ về khoa học, toán học và kỹ thuật, đã nhấn mạnh rất nhiều đến tranh luận là phương thức lý luận và theo đuổi sự thật thống trị của họ, và Mohism thậm chí còn phát triển thêm một trường học nữa

    Minh Gia

    hoặc Trường Tên, tập trung vào ngữ nghĩa. Sự tập trung vào ngữ nghĩa này đã được kết hợp sâu hơn vào dòng suy nghĩ của Nho giáo, và sự cải chính của những cái tên mà thậm chí còn được đặt vào trong Luận ngữ; một số học giả nghĩ rằng đây là một phép nội suy của tư tưởng Mohist cụ thể.

    Các ngoại lệ, tuy nhiên, thường chứng minh quy tắc. Trong những năm 1800, một số trí thức Trung Quốc, những người muốn Trung Quốc bắt kịp châu Âu và hiện đại hóa, đã bắt đầu tìm kiếm triết học Trung Quốc lịch sử cho một cái gì đó tương tự như tư tưởng phương Tây. Họ đã tìm thấy gì? Tất nhiên, chủ nghĩa Mohammed. Trường phái Mohist đã chết từ lâu vào những năm 1800, nhưng thực tế là các học giả Trung Quốc thời đó đã nhận ra sự tương đồng của nó với tư tưởng phương Tây sẽ cho bạn biết điều gì đó về ưu thế của phép biện chứng trong tư duy phương Tây. Mohism là biện chứng, vâng, nhưng nó đã chết vì đơn giản là nó không thể tồn tại trong bối cảnh văn hóa của nó. Bạn có thể nói điều gì đó tương tự về ảnh hưởng của Hy Lạp đối với triết học Hồi giáo. Lập luận về Người đàn ông nổi của Avicenna đã đưa ra một cái gì đó giống như thuyết nhị nguyên của Cartesian, hàng thế kỷ trước Descartes và đây là kết quả của ảnh hưởng của Hy Lạp đối với tư tưởng Hồi giáo, nhưng thành phần biện chứng của Hy Lạp trong triết học Hồi giáo không thể tồn tại xung đột với chính Hồi giáo. Chỉ có ở châu Âu nơi phương pháp biện chứng thực sự phát triển mạnh mẽ.

    Câu hỏi: Sự khác biệt rất lớn giữa triết học phương Tây và triết học phương Đông là gì?

    Tôi đã chờ đợi một vài ngày để trả lời câu hỏi này bởi vì tôi không chắc câu trả lời của mình có tốt không, nhưng sau nhiều suy nghĩ tôi tin rằng nó khá hoàn chỉnh.

    Ở Hy Lạp cổ đại, khi triết học phương Tây đang phát triển vào thời kỳ tiền Socrates, thì thần thoại cũng là quan điểm tôn giáo của thời đại. Nhiều tên của thời đại, như Homer, cảm thấy họ có thể giải thích thế giới thông qua các tác phẩm thần thoại về các sự kiện được cho là xảy ra trong quá khứ. Những người khác, như Thales, cảm thấy như thể đang quan sát thế giới và cố gắng tìm ra cách nó hoạt động là cần thiết để đạt được kiến ​​thức. Theo thời gian, hai trường phái tư tưởng này tách ra do phương pháp mà cả hai đều sử dụng và, do đó, chúng vẫn là những hình thức tư duy riêng biệt trong thế giới phương Tây. Sẽ không đến thời Trung cổ nơi mà thần học và triết học hợp nhất khá nhiều, nhưng ngay cả khi đó sự hợp nhất này rất hạn chế. Các ý tưởng tôn giáo của các nhà triết học trong thời trung cổ, mặc dù được coi trọng, nhưng không bao giờ thực sự có được chỗ đứng và do đó hai người vẫn giữ nguyên các kiến ​​thức riêng biệt.

    Vậy, một trong những khác biệt chính giữa triết học phương Tây và phương Đông là gì? Rất đơn giản,

    đó là cách mà cả hai đều phản ứng với ảnh hưởng tôn giáo.

    Trong khi triết học phương Tây phát triển và vẫn là một lĩnh vực kiến ​​thức riêng biệt từ thần thoại Hy Lạp và thần học Kitô giáo, thì triết học phương Đông đã trộn lẫn các quan điểm tôn giáo của thời kỳ với các triết học. Như vậy, hai triết lý khác nhau

    nói chung

    hỏi những câu hỏi rất khác nhau. Trong khi Triết học phương Tây luôn có một thành phần siêu hình lớn, thì Triết học phương Đông đã phát triển nhiều hơn để tập trung đặc biệt vào bản chất con người và làm thế nào chúng ta có thể đạt được hòa bình trong cuộc sống.

    trong chính họ

    Vì vậy, thực sự, toàn bộ sự khác biệt của triết học ‘phương Tây’ và ‘phương Đông’ là vô cùng độc đoán ngay từ đầu.

    Triết học phương Tây là một truyền thống duy nhất được phát triển trong buổi hòa nhạc, triết học phương Đông không hoàn toàn liên kết với nhau, nhưng phát sinh trong các nền văn hóa khác nhau với các truyền thống khác nhau. Nói cách khác, Leibniz và Descartes và Kant đều đọc cùng một triết gia cổ đại, nhưng, Santideva đến từ một nền văn hóa Phật giáo Ấn Độ, Mozi đến từ văn hóa Nho giáo Trung Quốc, v.v. Triết học phương Tây có cấu trúc nguyên khối nhiều hơn triết học phương Đông, trên thực tế, triết học phương Đông chỉ là phương Đông theo quan điểm của văn hóa nguyên khối của triết học phương Tây.

    Có thể có ngoại lệ cho bất kỳ tuyên bố nào về điều này, nhưng sự khác biệt chính là các triết học phương Tây (WP) là nhị nguyên và do đó duy vật trong khi phương Đông (EP) thì không. Bằng “nhị nguyên”, tôi không nói đến thuyết nhị nguyên của tâm trí / cơ thể của Descartes mà là sự đồng nhất với một tâm trí / cơ thể và hậu quả là sự đồng nhất với phần còn lại của thực tế. Điều này dẫn đến một số niềm tin sai lầm và cuối cùng chịu trách nhiệm cho tất cả đau khổ. Những niềm tin như “Tôi là một người. Vật chất là có thật, chỉ có * vật chất là có thật và nó tồn tại độc lập với tôi”.

    Tất nhiên, cách tiếp cận phương tây không phải là tất cả xấu. Tốt hơn hết là đừng ngồi trong lán bùn chết vì bệnh. Nhưng bây giờ, internet đang xóa bỏ sự khác biệt giữa đông và tây, đã đến lúc tận dụng tốt nhất cả EP và WP, nhận ra rằng có, chúng ta có thể làm cho cuộc sống vật chất của mình thoải mái, nhưng đó không phải là mục đích của cuộc sống và tin rằng nó sẽ chỉ dẫn đến đau khổ.

    * Gần đây Einstein đã cho thấy sự thống nhất giữa vật chất và năng lượng, vốn là vấn đề đối với chủ nghĩa duy vật vì năng lượng khó xác định, phải làm với sự biến đổi của vật chất.

    Tôi đã nghiên cứu điều này trong hai ngày nay và thật khó để hiểu tất cả những khác biệt mang lại lịch sử triết học lâu dài ở phương Đông và phương Tây, nhiều trường phái triết học được thực hành ở cả hai khu vực và khó khăn trong việc xác định ‘phương đông’ và ‘miền Tây’. Tuy nhiên, tôi muốn liệt kê một vài điểm khác biệt mà một vài ngày nghiên cứu đã tiết lộ.

    Hệ thống chính thức

    Triết học phương Tây đã sớm thích các hệ thống chính thức. Một hệ thống chính thức là một mô hình toán học cho thực tế

    .

    Nó bắt đầu bằng các ký hiệu, thuộc tính của chúng (tiên đề) và các quy tắc để thao tác chúng. Hình học của Euclid là một ví dụ ban đầu của một hệ thống chính thức. Trong khi các nhà tư tưởng phương đông đã nghiên cứu toán học và hình học, họ đã không gắn nó với một chủ nghĩa hình thức gây khó khăn cho việc khái quát hóa. Ví dụ, toán học Vệ Đà đưa ra các quy tắc (hoặc thủ thuật) khác nhau để nhân các loại số khác nhau (kết thúc sau 5 giây, kết thúc sau 9 giây, v.v.) trong khi toán học phương tây hài lòng với một quy tắc chung.

    Thực tế Platonic

    Chủ nghĩa hoàng đế

    Chủ nghĩa hoàng đế đã phổ biến hơn ở phương tây. Empericism là ý tưởng rằng “sự thật” duy nhất là nhận thức cảm tính. Triết học phương Đông đã chấp nhận nhiều hơn các phương thức nhận biết khác.

    svcministry.org © 2021

    --- Bài cũ hơn ---

  • Theo Quan Niệm Triết Học Mac_Lenin Phát Triển Là Gì ?
  • Kinh Tế Nhà Nước Là Gì ?
  • Các Kiểu Và Hình Thức Của Nhà Nước
  • Triết Học: Bài 2 Xã Hộ̣i Và Tự Nhiên
  • Chương 5: Các Nhà Triết Học Tự Nhiên
  • Khái Niệm Là Gì Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Với Tính Cách Một Vấn Đề Triết Học
  • Khái Niệm Triết Học Mác Lênin
  • Chủ Nghĩa Kinh Viện Giai Đoạn Suy Thoái. Cuộc Đấu Tranh Chống Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Những Đại Biểu Chính Của Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Lý Thuyết: Triết Học Khai Sáng Pháp Thế Kỷ Xviii
  • Khái Niệm Là Gì Triết Học, Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Quan Niệm Về Phạm Trù Vật Chất Của Các Trào Lưu Triết Học Duy Vật Thời Cổ , Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Chỉ Thị 05 Ct Tw Của Bộ Chính Trị, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm 3t, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm 511, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm C, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm 4g, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm 4k, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4m, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm 131, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Erp, Khái Niệm 3r, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm 3d, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm P, Khái Niệm 2g, Khái Niệm 331, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm 7p,

    Khái Niệm Là Gì Triết Học, Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Quan Niệm Về Phạm Trù Vật Chất Của Các Trào Lưu Triết Học Duy Vật Thời Cổ , Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Chỉ Thị 05 Ct Tw Của Bộ Chính Trị, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Chỉ Thị 01-ct/tw, Ngày 22/3/2016 Của Bộ Chính Trị Về Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền, Triển Khai T, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm 3t, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm 511, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm C, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm 4g, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm 4k, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4m,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Khả Năng Và Hiện Thực Của Triết Học
  • Quan Hệ Triết Học Mỹ Học Nghệ Thuật Học Trong Văn Hóa Nghệ Thuật
  • Mối Quan Hệ Giữa Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì
  • Nhân Sinh Quan, Thế Giới Quan Là Gì? Khái Niệm Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Gió Là Gì? Các Nguyên Nhân Sinh Ra Gió Và Các Loại Gió Chính
  • Thủy Triều Là Gì? Nguyên Nhân Sinh Ra Thủy Triều
  • Tính Nhân Bản Và Cái Gốc Văn Hóa
  • Tính Nhân Bản Trong Các Loại Hình Văn Hóa
  • Nhân Sinh Vô Thường Có Nghĩa Là Gì?
  • Nhân sinh quan và thế giới quan là những khái niệm mà rất nhiều trong chúng ta đã nghe qua. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nhân sinh quan là gì? Thế giới quan là gì? Để giải đáp cho câu hỏi này, mời các bạn tham khảo bài viết bên dưới:

    Vậy nhân sinh quan là quan niệm về sự sống con người.

    Hiểu đơn giản thì nhân sinh quan là sự xem xét, suy nghĩ về sự sống của con người, hoặc nói văn vẻ hơn, nhân sinh quan là quan niệm của mỗi chúng ta về những định luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người.

    Thế giới quan là hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội), về vị trí con người trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trong thực tiễn xã hội. Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều yếu tố trong đó có hạt nhân là tri thức.

    Nhân sinh quan là một bộ phận của thế giới quan (hiểu theo nghĩa rộng), gồm những quan niệm về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? trả lời những câu hỏi đó là vấn đề nhân sinh quan. Khác với loài cầm thú, bất kì người nào cũng có quan niệm của mình về cuộc sống. Trong đời thường, đó là nhân sinh quan tự phát, “ngây thơ” của đại chúng; các nhà tư tưởng khái quát những quan điểm ấy, nâng lên thành lý luận, tạo ra nhân sinh quan tự giác, mang tính nguyên lý triết học.

    Nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người. Nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong mỗi chế độ xã hội cụ thể. Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan có tính giai cấp. Giai cấp đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng; nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính bi quan, yếm thế. nhân sinh quan có tác dụng lớn đến hoạt động; những quan niệm về nhân sinh quan trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng, mục tiêu cho hoạt động (lí tưởng sống). Nếu phản ánh đúng khuynh hướng khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp llý; nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên.

    Chủ nghĩa Mác là khoa học về các quy luật phát triển của lịch sử, chỉ rõ hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, và qua đó mà tự cải tạo, tự nâng mình lên, đó là nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội. Vì vậy, sứ mệnh của mỗi người là thúc đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, những hoạt động lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người, đồng thời qua đó mà hoàn thiện những năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình. Đó là nhân sinh quan cách mạng, mang tính khoa học của giai cấp vô sản và của con người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Để làm cho nhân sinh quan cách mạng chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội, phải cố gắng về nhiều mặt, trong đó giáo dục chiếm một vị trí quan trọng. Ngoài những giờ học chính khoá, nhà trường còn phải phối hợp với gia đình và xã hội trau dồi nhân sinh quan cách mạng (nhân sinh quan cộng sản) cho học sinh, hình thành cho học sinh một hệ thống tư tưởng, tình cảm hướng tới chân, thiện, mĩ, cùng cộng đồng xây dựng cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh, giàu tính nhân văn, mang lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi gia đình và cả xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘tam Quan’ Không Hợp, Mãi Mãi Chỉ Là Người Dưng Qua Đường
  • Ý Nghĩa Tên Zalo Là Gì, Ý Nghĩa Biểu Tượng Logo Zalo
  • Phong Cách Zen Nhật Bản Là Gì? 10+ Cách Decor Nhà Theo Xu Hướng Thiền
  • Phong Cách Nội Thất Zen Nhật Bản
  • Top 10 Mạng Xã Hội Trung Quốc Được Sử Dụng Phổ Biến Nhất Năm 2021 ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Khái Niệm Nhà Nước Pháp Quyền Từ Góc Nhìn Triết Học :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Việc Thực Hiện Công Khai, Minh Bạch Và Trách Nhiệm Giải Trình
  • Hành Trình Từ “chuyên Chính Vô Sản” Đến “làm Chủ Tập Thể” Và “nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam” :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Định Nghĩa Đất Hnk Là Gì Theo Quy Định Của Nhà Nước?
  • Các Loại Đất Được Phân Loại Như Thế Nào Theo Quy Định Của Luật Đất Đai ?
  • Đề Thi Công Chức Kho Bạc Nhà Nước Năm 2021 (Trọn Bộ)
  • Vận dụng các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin về nhà nước, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, theo định hướng nhận thức của Đảng ta về vấn đề Nhà nước pháp quyền Việt Nam và kế thừa thành quả của các nhà khoa học Việt Nam, chúng tôi mạnh dạn phát biểu một định nghĩa về khái niệm “nhà nước pháp quyền” như sau:

    Nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật và được đảm bảo thực thi bâng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân.

    Trước hết, chúng tôi cho rằng, “nhà nước pháp quyền” tồn tại với tính cách một khái niệm. Điều đó có nghĩa là, “nhà nước pháp quyền” tồn tại trong tư duy, là sản phẩm của tư duy. Nó không đồng nhất với một mô hình nhà nước hiện tồn, có tính trực quan, mà là sự phản ánh một trình độ tất yếu đạt tới của quyền lực nhân dân trong xã hội được tổ chức thành nhà nước. Nói cách khác, đó là sự phản ánh một trình độ tất yếu đạt tới của bộ máy nhà nước. Nội dung của nó là khách quan, là bản chất của nhà nước ở một giai đoạn trong quá trình tự phát triển, được khái quát từ sự vận động và phát triển của các nhà nước hiện tồn, song tuyệt nhiên không đồng nhất với bất cứ một nhà nước hiện tồn nào.

    Đây là một quan niệm có tính phương pháp luận trong nghiên cứu nhà nước pháp quyền được rút ra từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước. Cũng giống như “vật chất” là một phạm trù triết học, chỉ tồn tại trong tư duy và là sản phẩm của tư duy thuần tuý (Ph.Ăngghen), “nhà nước pháp quyền” được định nghĩa như trên là một phạm trù của triết học duy vật biện chứng về lịch sử. Nhà nước pháp quyền là một trạng thái mà sự phát triển của nhà nước nhất định sẽ đạt tới, bất kể ý thức của con người có nhận thức dược hay không. Vì thế, nó có tính khách quan và phổ biến. Tuy nhiên, với mỗi dân tộc, con đường, cách thức đi tới nhà nước pháp quyền và nội dung của nhà nước pháp quyền lại mang những dấu ấn riêng của dân tộc ấy. Vì thế, hình thức tồn tại hiện thực của nhà nước pháp quyền rất phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp. Không thể biến mô hình nhà nước ở một quốc gia dân tộc này thành cái chung, giá trị chung, làm chuẩn mực đánh giá, phán xét mô hình nhà nước của một quốc gia dân tộc khác có phải nhà nước pháp quyền hay không, càng không thể từ sự quy chụp như thế để đánh giá quốc gia dân tộc ấy có phải là một quốc gia dân tộc văn minh, phát triển hay không.

    Việc đánh giá một mô hình nhà nước cụ thể không thể căn cứ vào những dấu hiệu, những biểu hiện bề ngoài, tức là không thể căn cứ vào hiện tượng, mà phải căn cứ vào thực chất, vào bản chất của nó. Chúng tôi cho rằng, những căn cứ mà lâu nay người ta dựa vào để đánh giá tính chất pháp quyền của một nhà nước, như “sự thống trị của pháp luật trong đời sống xã hội”, “quan hệ giữa các cơ quan lập pháp – hành pháp – tư pháp là quan hệ quyền lực ràng buộc và hạn chế quyền lực”, đều là những biểu hiện bề ngoài, hoặc là của quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, hoặc là của quyền lực nhà nước và cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước. Thực chất của vấn đề là ở chỗ, nhà nước và pháp luật có thể hiện được trình độ phát triển của quyền lực nhân dân hay không, hay nói cách khác, chỉ có quyền lực của nhân dân lao động được luật hoá và đảm bảo thực thi có hiệu quả bằng các thiết chế chính trị – xã hội nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân mới làm nên tính chất pháp quyền của nhà nước.

    Điều quan trọng không phải là hình thức pháp quyền, tức pháp luật thống trị nhà nước và xã hội, mà là nội dung pháp quyền, tức pháp luật ấy có phải là quyền lực của nhân dân lao động được “đề lên” thành luật hay không. Pháp luật chí là ý chí của một cá nhân (chế độ quân chủ) hay của một thiểu số trong xã hội (ví dụ như pháp luật tư sản) thì chưa thể đạt tới trình độ pháp quyền theo nghĩa đầy đủ nhất. Như vậy, nếu đồng nhất nhà nước pháp quyền với mô hình nhà nước hiện thực cụ thể, nhất là một mô hình nhà nước phương Tây nào đó, rồi coi đó là điểm xuất phát trong tư duy thì thực chất đã đồng nhất một cách trừu tượng cái phổ biến và cái đặc thù, cái bản chất với hiện tượng.

    Tóm lại, nhà nước pháp quyền trước hết cần phải được coi là một khái niệm.

    Thứ hai, nhà nước với tính cách nội dung khách quan được phản ánh trong khái niệm nhà nước pháp quyền là sự thống nhất giữa xã hội được tổ chức theo một cách thức xác định với bộ máy nhà nước – bộ phận biểu hiện tập trung của cách thức tổ chức xã hội ấy. Nội dung khái niệm nhà nước nói chung, pháp quyền nói riêng, nếu chỉ giới hạn ở bộ máy nhà nước, cho dù đây là nơi biểu hiện tập trung nhất chỉnh thể đời sống xã hội, thì vẫn là cách hiểu không đúng tinh thần duy vật thực tiễn của chủ nghĩa Mác. Việc phân tích quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng ghen về nhà nước cho thấy, nhà nước là một khái niệm rất sinh động, có nội hàm vận động phức tạp, phản ánh sự vận động phức tạp của đời sống xã hội. Sự tách rời, cô lập khái niệm nhà nước với tính cách bộ máy nhà nước với khái niệm nhà nước với tính cách xã hội được tổ chức theo cách xác định là sản phẩm của chính trình độ phát triển của xã hội, bị quy định bởi trình độ phát triển của sản xuất vật chất. Nó có tính lịch sử. Song, ngay cả trong tình trạng như vậy, khái niệm nhà nước vẫn là một khái niệm chứa đựng mâu thuẫn, vẫn là hình ảnh của chỉnh thể xã hội với hình thức là quyền lực công, lợi ích chung và nội dung là quyền lực bộ phận (giai cấp), lợi ích riêng (giai cấp). Tình trạng này sẽ bị vượt bỏ, và nhà nước với tính cách bộ máy và nhà nước với tính cách xã hội được tổ chức theo cách thức xác định sẽ đồng nhất trở lại một cách cụ thể.

    Đây cũng là một quan niệm có tính chất phương pháp luận trong nghiên cứu nhà nước pháp quyền. Trong các quan niệm về nhà nước pháp quyền mà chúng ta đã khảo sát ở trên, tuyệt đại đa số đều quan niệm nhà nước pháp quyền theo nghĩa bộ máy nhà nước hay nhà nước chính trị. Bởi vậy, những bàn luận về nguyên tắc, đặc trưng, v.v. của nhà nước pháp quyền đều chỉ tập trung vào bộ máy nhà nước, phần quan trọng nhất là xã hội được tổ chức theo cách xác định lại không được bàn tới, hoặc nếu có thì cũng chỉ với tính cách một hệ quả phải tính tới do quan hệ của nó với nhà nước. Cách tư duy này không tránh khỏi tình trạng không lý giải được thực chất, nguồn gốc những tính quy định pháp quyền của bộ máy nhà nước; do vậy, phải du nhập những tính quy định này từ những giá trị chung, nguyên tắc chung nào đó, hoặc từ một ý niệm tuyệt đối nào đó, hoặc suy một cách võ đoán từ nguyên tắc nhận thức đã bị biến thành nguyên tắc tiên nghiệm khi không xuất phát từ thực tiễn mà từ lý luận về sự quy định của cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng, của kinh tế với chính trị, của xã hội với nhà nước. Nói cách khác, tính tất yếu của nhà nước pháp quyền trở thành tính tuỳ tiện chủ quan. Chỉ có quan niệm nhà nước theo hai lớp nghĩa và quan trọng hơn, sự chuyển hoá giữa hai lớp nghĩa này mới cho phép tìm đến bản chất và tính tất yếu khách quan của nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng.

    Thứ ba, bản chất của nhà nước pháp quyền được phản ánh trong khái niệm nói trên là “quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành pháp luật và đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân”. Đây chính là nội hàm căn bản nhất của khái niệm “nhà nước pháp quyền”.

    Sự hình thành và phát triển của nhà nước pháp quyền diễn ra theo lôgíc sau: Lực thông qua sự thừa nhận chung sẽ trở thành quyền lực; quyền lực được luật hoá và đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác sẽ trở thành pháp quyền và xã hội được tổ chức theo cách như vậy chính là nhà nước pháp quyền.

    Lực vốn là một khái niệm của vật lý học, dùng để chỉ một thuộc tính của sự vật. “Lực (sức mạnh) là khái niệm dùng để chỉ một thuộc tính của bất kỳ hệ vật chất nào, xét trong tương tác với hệ vật chất khác, có khả năng duy trì sự tồn tại hoặc tạo ra sự biến đổi”.

    Khi vận dụng vào khoa học xã hội, khái niệm “lực” được dùng để chỉ thuộc tính sức mạnh, là khả năng áp đặt và buộc người khác/tập đoàn xã hội khác thực hiện theo ý chí của mình trong quan hệ với cá nhân/quan hệ với xã hội. Mỗi cá nhân cũng như mỗi tập đoàn người trong xã hội đều có thể có một lực nhất định trong quan hệ với cá nhân hay tập đoàn khác, và vì thế tạo nên một kiểu tổ chức xã hội nhất định. Quan hệ lôgíc giữa “lực” và kiểu tổ chức xã hội đã được nhiều nhà nghiên cứu xã hội sử dụng khi tiến hành phân tích cấu trúc hệ thống xã hội. Chẳng hạn, nhà tương lai học người Mỹ A.Toffler cho rằng có 3 loại lực được tạo nên từ vũ khí, tiền bạc và trí tuệ, và tương ứng với nó là các kiểu tổ chức xã hội nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, đối với các lực lượng cấu thành xã hội, sức mạnh dựa trên cơ sở sở hữu các tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội nói chung và cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ đối với tư liệu sản xuất là cách thức tổ chức xã hội căn bản – cách thức tổ chức xã hội thành các giai cấp và quan hệ giữa các giai cấp. C.Mác và Ph.ăng ghen viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức cái cơ sở hiện thực, trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị, và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”(l).

    Quan điểm này diễn đạt theo một cách khác có nghĩa là trên cơ sở sức mạnh kinh tế sẽ tổ chức nên chỉnh thể đời sống xã hội. Sự phân tích bản chất của đời sống xã hội sẽ không thể thu được kết quả khách quan nhất nếu không bắt đầu từ sự phân tích sức mạnh và quan hệ sức mạnh của các lực lượng trong xã hội đo quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất trong xã hội quy định. V.I.Lê nin đã khẳng định quan điểm có tính chất phương pháp luận này khi nói rằng, nếu không quy sự phát triển các quan hệ xã hội thành sự phát triển các quan hệ sản xuất và nếu không quy sự phát triển các quan hệ sản xuất thành sự phát triển của lực lượng sản xuất thì không thể có được lời giải đáp cho câu hỏi về quy luật khách quan của sự tồn tại và phát triển của xã hội, hay nói cách khác là không có căn cứ để hiểu quan điểm nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử: “sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử- tự nhiên”. Từ quan điểm có tính chất phương pháp luận đã trình bày ở trên, C.Mác và Ph.ăng ghen đã chỉ ra quy luật tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản; từ đó chỉ ra những quy luật chung nhất của đời sống nhân loại. V.I.Lê nin đã chỉ ra quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền. Hồ Chí Minh cũng đã tìm ra tính tất yếu tồn tại và tất yếu diệt vong của chủ nghĩa thực dân, từ đó thúc đẩy xã hội Việt Nam phát triển đúng theo quy luật khách quan vốn có của nó. Việc tìm hiểu nhà nước pháp quyền như một trình độ phát triển về chất trong quá trình vận động của nó không thể không xuất phát từ quan điểm nói trên.

    là một quan hệ xã hội, trong đó sức mạnh của một bên được thừa nhận, ý chí một bên trở thành ý chí hành động chung.

    Một quan hệ dựa trên sức mạnh sẽ chuyển hoá thành quan hệ quyền lực khi mà bên bị và phải hành động đã tự giác và tự nguyện hành động theo ý chí của bên kia. Sự thừa nhận chung có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức đời sống xã hội và được hiểu là sự thừa nhận của các bên tham gia quan hệ xã hội.

    Vấn đề cần quan tâm ở đây là, nói chung, bất cứ một chủ thể nào nắm giữ sức mạnh cũng luôn muốn trở thành chủ thể quyền lực, muốn được đối phương thừa nhận vị trí và vai trò chi phối của mình trong quan hệ với họ. Nhưng vì mỗi bên khi tham gia vào quan hệ xã hội đều xuất phát từ lợi ích riêng của mình, hơn nữa, do trình độ phát triển của sản xuất quy định, nên việc thoả mãn lợi ích riêng của các bên thường đối lập, thậm chí loại trừ nhau; trong khi đó, “kẻ mạnh không phải lúc ào cũng đủ mạnh để mãi mãi làm người thống trị, nếu như hắn ta không chuyển lực thành quyền và chuyển sự phục tùng thành nghĩa vụ” . Trên thực tế, đúng như J.J Rousseau đã chỉ ra, sức mạnh tự nó không thề trở thành quyền lực, mặc dù giữa lực và quyền lực có mối quan hệ nội tại rất chặt chẽ – không thể có quyền lực nếu không có sức mạnh.Ý chí bộ phận chỉ trở thành ý chí chung khi lợi ích mà nó đại diện đóng vai trò lợi ích chung.

    Chừng nào mà một lực lượng xã hội không nhận thức được và không có đủ khả năng biến lợi ích riêng của mình thành lợi ích chung trên cơ sở kiến tạo lợi ích chung thực sự cho xã hội, thì chừng đó lực lượng ấy không thể có quyền lực thực sự. Tất nhiên, việc núp dưới hình thức lợi ích chung luôn là một sự lợi dụng và sẽ còn bị lợi dụng khi mà kẻ núp dưới hình thức ấy không đủ khả năng tạo ra lợi ích chung thực sự. Khi ấy, sức mạnh đóng vai trò tiêu cực, không phải là công cụ để tạo ra lợi ích chung mà là để duy trì quyền lợi của kẻ núp dưới lợi ích chung. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chứng minh rằng, nếu sản xuất vật chất là nguồn gốc của sự tồn tại và phát triển của xã hội, thì sức mạnh của nhân dân lao động là sức mạnh to lớn nhất trong lịch sử. Chính nhân dân lao động là người sáng tạo ra lịch sử. Vì vậy, để tiến hành những cải tạo căn bản trong xã hội, cần phải tập hợp và phát .huy sức mạnh của nhân dân lao động. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhân dân lao động cũng là người có quyền lực trong xã hội, mặc dù họ chiếm đa số, tức là về lý thuyết, họ có thể tự thừa nhận sức mạnh của mình. Sự phát triển của xã hội loài người trải qua các hình thái kinh tế – xã hội đã chứng minh rằng, các giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới hình thành trong lòng hình thái kinh tế – xã hội cũ chỉ có thể giành và giữ quyền tổ chức đời sống xã hội – tập trung ở bộ máy nhà nước – khi thể hiện mình là cái phố biến, là đại diện cho lợi ích chung của toàn thể xã hội, biến sức mạnh của nhân dân lao động thành sức mạnh phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình. ỏ giai đoạn đầu trong sự tồn tại với tư cách giai cấp của mình, sự thể hiện ấy mang tính bản chất, nhưng cùng với thời gian, sự thể hiện ấy dần chỉ còn là hiện tượng bề ngoài. Điều này đã xảy ra với giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp tư sản. Chỉ đến giai cấp vô sản, vai trò phổ biến của nó trong xã hội mới luôn có tính bản chất, bởi giai cấp vô sản mà hạt nhân của nó là giai cấp công nhân hiện đại chính là chủ thể của các quá trình sản xuất vật chất, và bản thân nó cũng là giai cấp những người lao động. Như vậy, lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, sự hình thành quyền lực của nhân dân lao động là tất yếu. Nhân dân lao động nhất định sẽ trở thành người chủ thực sự của các quan hệ xã hội, của các quá trình xã hội, của toàn thể xã hội.

    là quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước và các thiết chế chính trị xã hội khác.

    Pháp quyền có sự phân biệt với pháp luật. Pháp luật là ý chí của giai cấp nắm giữ sức mạnh kinh tế được đề lên thành luật. Khi giai cấp này đồng thời là đại biểu cho toàn thể xã hội, nghĩa là sức mạnh của nó được toàn thể xã hội thừa nhận, thì ý chí của nó dưới hình thức luật là pháp quyền, còn khi nó chỉ đại diện cho chính mình như một bộ phận trong quan hệ đối lập với các bộ phận khác trong xã hội (nghĩa là sức mạnh của nó không được toàn thể xã hội thừa nhận) thì ý chí của nó dưới hình thức luật chỉ là pháp luật.

    Trong xã hội có giai cấp, bộ máy nhà nước là cơ quan mang hình thức quyền lực công, đại diện cho lợi ích chung. Chỉ có nó mới đủ tư cách và khả năng thể chế hoá một ý chí nào đó thành luật và đảm bảo thực thi ý chí đó bằng một hệ thống các công cụ vật chất, như quân đội, cảnh sát, nhà tù, toà án, v.v., cùng với hệ thống các thiết chế chính trị – xã hội khác. Mặt khác, về bản chất, bộ máy nhà nước là của một giai cấp nhất định và phục vụ cho giai cấp ấy. Cho nên, để một quyền lực có khả năng được thể chế hoá thành luật và được đảm bảo thực thi, việc đầu tiên là chủ thể quyền lực phải giành lấy quyền tổ chức và điều hành nhà nước. Vấn đề nhà nước, do vậy, là vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng xã hội.

    Một điều khác cũng cần lưu ý ở đây là năng lực của bộ máy nhà nước trong việc luật hoá và đảm bảo thực thi quyền lực đã được luật hoá. Quyền lực có thể không trở thành pháp quyền khi chủ thể của nó không giành lấy quyền tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước, nhưng ngay cả khi đã giành được quyền tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước, pháp quyền vẫn không tồn tại nếu bộ máy ấy không đủ sức luật hoá và đảm bảo thực thi quyền lực đã được luật hoá.

    Sự phân tích về lực và quyền lực ở trên cho thấy, nếu nhân dân là người chủ thực sự của sức mạnh xã hội thì sự hình thành quyền lực của nhân dân là tất yếu trong lịch sử phát triển của nhân loại, và nếu quyền lực của nhân dân tất yếu hình thành thì chỉ khi nhân dân giành được quyền tổ chức, điều hành bộ máy nhà nước và bộ máy ấy đủ sức luật hoá cũng như đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân đã được luật hoá mới hình thành nên pháp quyền thực sự và tổ chức xã hội thành nhà nước pháp quyền.

    Như vậy, với các khái niệm công cụ là lực, quyền lực và pháp quyền như trên, ta có thể thấy, tại sao chỉ có xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước và các thiết chế chính trị – xã hội khác thì đó mới là nhà nước pháp quyền.

    Khái niệm này tự nó đã loại bỏ các loại hình nhà nước từ nhà nước tư sản trở về trước ra khỏi ngoại diên khái niệm nhà nước pháp quyền theo nghĩa đầy đủ, đồng thời khẳng định nhà nước pháp quyền là một trình độ phát triển tất yếu đạt tới của nhà nước.

    Các hình thức nhà nước từ nhà nước tư sản trở về trước không phải là nhà nước pháp quyền theo ý nghĩa đầy đủ của nó, mà chí mang những mầm mống của nhà nước pháp quyền, bất kể trong nhà nước ấy, pháp luật có đóng vai trò thống trị hay không và quyền lực nhà nước có được tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập hay không. Các hình thức nhà nước ấy chỉ có mầm mống nhà nước pháp quyền, bởi lẽ, xét về mặt giai cấp , các nhà nước ấy đều được tổ chức theo cách quyền lực của một giai cấp thống trị, thiểu số trong xã hội, được thể chế hoá thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước. Như vậy, nếu căn cử vào khái niệm nhà nước pháp quyền nêu trên, thì các nhà nước ấy tuyệt nhiên không thể được coi là nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, xét về mặt giải phóng con người, sự thay thế giai cấp chủ nô bằng giai cấp địa chủ phong kiến, sự thay thế giai cấp địa chủ phong kiến bằng giai cấp tư sản đều là những bước phát triển quan trọng trong quá trình giải phóng con người cả về chất lượng lẫn số lượng. Bản thân các giai cấp thống trị, ngoài bản chất giai cấp thì ở tầng bậc bản chất sâu hơn, họ vẫn là con người. Mặt khác, cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến cao hơn cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ chiếm hữu nô lệ và cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa lại cao hơn cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến. Quyền lực xã hội cũng phát triển khi lần lượt trải qua các chủ thể là giai cấp chủ nô, giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp tư sản. Theo nghĩa ấy, trong các hình thức nhà nước từ nhà nước tư sản trở về trước tồn tại những mầm mống, những phần của nhà nước pháp quyền và đều là những bước tiến trong hành trình đi tới nhà nước pháp quyền theo nghĩa đầy đủ nhất.

    Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra sự thay đổi chưa từng có trong lịch sử loài người khi nó thay thế lực lượng lãnh đạo xã hội vốn chỉ là một thiểu số bóc lột bằng đa số nhân dân lao động. Đồng thời, nó cũng tạo ra bước chuyển to lớn trong sự giải phóng con người trên cơ sở nắm giữ quyền lực trong xã hội.

    Tính chất mà mọi hình thức nhà nước trước đó không thể có là, khi sức mạnh của nhân dân được tập hợp và phát huy thì đồng thời nó cũng trở thành quyền lực, bởi sức mạnh đó là sức mạnh của đa số trong xã hội. Từ việc giành lấy quyền tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước, nhân dân lao động sẽ tổ chức lại đời sống xã hội bằng cách thể chế hoá ý chí của mình thành luật và đảm bảo thực thi luật ấy bằng bộ máy nhà nước cùng với hệ thống các thiết chế chính trị – xã hội . Ý chí chung ở đây là ý chí chung thực sự. Lợi ích chung ở đây là lợi ích chung thực sự. Do vậy, mâu thuẫn nội tại trong xã hội và trong bộ máy nhà nước có điều kiện tồn tại trong trạng thái thống nhất cao độ. Nhà nước và xã hội tiến nhập trở lại với nhau. Nhà nước dần mất đi tính chất chính trị (bởi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, vẫn tồn tại các giai cấp). Nhà nước pháp quyền là bước phát triển cuối cùng trước khi nhà nước hoàn toàn mất đi tính chất chính trị, nhà nước với tính cách bộ máy và nhà nước với tính cách xã hội được tổ chức theo cách xác định đồng nhất một cách cụ thể với nhau. Đó chính là điều mà C.Mác đã khẳng định khi phê phán triệt để triết học pháp quyền của Hêghen. Nhà nước với tính cách một bộ phận thì là bộ phận thực sự, bên cạnh các bộ phận khác cấu thành chỉnh thể đời sống xã hội; với tính cách chỉnh thể thì là chỉnh thể thực sự khi nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Khái niệm nhà nước pháp quyền như xác định ở trên đã đặt ra nhiều vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

    Theo quan điểm của chúng tôi, chỉ có một khái niệm “nhà nước pháp quyền” theo nghĩa trình độ phát triển cao của nhà nước trong xã hội loài người. Tự bản thân nó, nói “nhà nước pháp quyền” tức là nói “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, và nói “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tức là nói đến nhà nước pháp quyền ở trình độ phát triển đầy đủ nhất, là nhà nước đã đạt đến trình độ dân chủ hoàn bị nhất. Bản chất của “nhà nước pháp quyền”, hay “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là tất cả mọi quyền hành, lực lượng và lợi ích đều ở nơi nhân dân.

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước pháp quyền với tính cách là khái niệm, là nội dung đã “tìm thấy” cái vỏ vật chất, cái hình thức của nó.

    Nếu phân chia khái niệm “nhà nước pháp quyền” thành hai khái niệm “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” thì điều đó không có nghĩa thừa nhận sự tồn tại trong hiện thực một loại hình nhà nước pháp quyền này bên cạnh một nhà nước pháp quyền kia. Nói theo ngôn ngữ của C.Mác, “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” không phải là những “giống” đồng đăng với nhau. “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” vừa là “giống” bởi trong hiện thực, nó đang tồn tại trong cùng không gian – thời gian với “nhà nước pháp quyền xã hội tư bản chủ nghĩa”, là những hình thức của “nhà nước pháp quyền”, vừa là “loài”, bởi nó là sự vượt bỏ so với “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa”, là “tương lai” của “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa”. “Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” là hình thức chưa thể hiện hết nội dung “nhà nước pháp quyền”, còn “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là nhà nước đã thêm hiện hết nội dung của “nhà nước pháp quyền”, là “nhà nước pháp quyền” dưới hình thái vật chất của nó.

    Nói một cách đơn giản hơn, nếu sử dụng hai khái niệm này, thì điều đó chỉ có nghĩa “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” là nhà nước pháp quyền ở trình độ tư bản chủ nghĩa, là nhà nước pháp quyền chưa đầy đủ, còn “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là nhà nước pháp quyền ở trình độ xã hội chủ nghĩa, là nhà nước pháp quyền theo ý nghĩa đầy đủ nhất.

    Sự khác biệt ở đây chính là ở nội hàm của khái niệm trung tâm của nhà nước pháp quyền là “nhân dân”. Nếu chế độ tư bản chủ nghĩa được hiểu là chế độ mà nhân dân với tư cách “chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực trong xã hội” vẫn là một thiểu số nhà tư bản thì hình thức pháp lý của ý chí của chủ thể quyền lực ấy vẫn chỉ là pháp luật và vì thế, chưa thực sự có nhà nước pháp quyền, dù tính chất pháp quyền của nó cao hơn nhà nước phong kiến hay nhà nước chiếm hữu nô lệ. Nếu chế độ xã hội chủ nghĩa được hiểu là chế độ mà nhân dân với tư cách “chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực trong xã hội” là nhân dân lao động chiếm tuyệt đại đa số thành viên của xã hội, là “toàn dân” theo cách nói của Hồ Chí Minh, thì ý chí của nhân dân được đề lên thành luật cũng đồng thời trở thành pháp quyền. Trong điều kiện ấy, toàn bộ tổ chức xã hội và nhà nước là sự tự tổ chức của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; do đó, là xã hội – nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó.

    Dĩ nhiên, nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó – nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – nhà nước dân chủ – không phải cứ muốn là có ngay được. Với trình độ phát triển của xã hội hiện nay, ngay cả ở những nước đã trải qua một thời kỳ lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhà nước pháp quyền trước hết vẫn là một mục tiêu. Nói cách khác, ở các nước xác định mục tiêu phát triển xã hội là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vận dụng triết lý phát triển xã hội dựa trên nền tảng học thuyết Mác – Lê nin và do Đảng Cộng sản chân chính cách mạng lãnh đạo, thì nhà nước pháp quyền vẫn là nhà nước pháp quyền “đang thành” chứ chưa phải là “đã thành”, dù nó đã đạt trình độ cao hơn so với nhà nước pháp quyền ở trình độ tư bản chủ nghĩa. chính vì thế, tiến hành xây đựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính Là hiện thực hóa những nội dung cơ bản: 1.Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực và quyền lợi trong xã hội; 2. Pháp quyền trong chế độ chính trị Việt Nam hiện nay là ý chí của nhân dân được đề lên thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước cùng với các thiết chế chính trị xã hội khác; 3. Bộ máy nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là của dân, do dân, vì dân; 4. Xây dựng hệ thống các thiết chế chính trị – xã hội với tư cách một công cụ thực thi quyền lực của nhân dân cùng với bộ máy nhà nước; 5. Nhà nước quản lý và điều hành xã hội theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; 6. Kiên trì chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động; 7. Củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền.

    Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực chất là xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, nội dung của nó chính là làm cho nhân dân thực sự trở thành chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực và quyền lợi; các công cụ quyền lực trong xã hội, như nhà nước, các thiết chế chính trị – xã hội, pháp luật phải thực sự là công cụ bảo vệ, thực thi quyền lực và quyền lợi của nhân dân; cần phải làm cho chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, phải củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhà Cấp 4 Là Gì? Phân Biệt Nhà Cấp 4 Với Nhà Cấp 1, Cấp 2 Và Cấp 3
  • Phân Loại Nhà Ở Việt Nam
  • Hồ Chí Minh Định Nghĩa Thế Nào Là Nhà Cấp 4
  • Định Nghĩa Nhà Cấp 4 Là Gì
  • Hợp Đồng Hợp Tác Kinh Doanh Mỹ Phẩm
  • Nguồn Gốc Luận Thuyết Của “sứ Mệnh Khai Hóa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Dân Pháp Xâm Lược Việt Nam Là Khai Hóa Văn Minh
  • Cần Chính Xác Trong Cách Hiểu Về Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
  • Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Truyền Thống
  • Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Dân Tộc
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài “đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ” Của Phạm Văn Đồng
  • Khái niệm “sứ mệnh khai hóa” được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật trước và sau cuộc Cách mạng Pháp 1789. Nhưng khái niệm này thực sự phát triển vào thế kỷ 19 cùng lúc với công cuộc khai thác thuộc địa để biện minh cho chính hành động thực dân. “Sứ mệnh khai hóa” được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học, chính trị gia, các thương nhân Pháp. Hoặc bằng xác tín chính trị, hoặc bằng “thực chứng” khoa học, họ đã khẳng định và thực thi “sứ mệnh” cao cả này như một bổn phận của những dân tộc văn minh thượng đẳng đưa những tộc người hèn kém hạ đẳng thoát ra khỏi man rợ. “Sứ mệnh khai hóa” là đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa thực dân Pháp mà các nhà lý luận thực dân Pháp đề cao để phân biệt với kiểu thực dân “con buôn” của Anh hay Hà Lan. Thuyết cứu thế Pháp

    Khái niệm sứ mệnh khai hóa phát triển vào thế kỷ 19 để biện minh cho hành động thực dân. Nó dựa trên thuyết cứu thế của Pháp với niềm xác tín rằng Pháp quốc có sứ mệnh truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và có nghĩa vụ giải thoát các tộc người khỏi những bạo ngược của thiên tai, bệnh tật, dốt nát và khỏi sự chuyên chế bằng cách đem lại cho họ kỹ thuật và y tế, giáo dục và một nền quản trị trong sạch. Như vậy, Pháp quốc sẽ biến đổi các tộc người cả về thể chất lẫn tinh thần. Thuyết cứu thế này có thể được định nghĩa là một loạt các huyền thuyết và ý tưởng chủ đạo, nó bao hàm và chi phối mạnh mẽ hoạt động văn hóa của Pháp trên thế giới. Đó là một thứ :

    Thuyết thế giới đại đồng, ăn sâu vào ý thức quốc gia, như một thứ nhu cầu kiến tạo, chấp thuận và tiếp nhận các hình thức song hành và tiếp nối những kỳ vọng của toàn nhân loại và đem lại lời đáp cho những kỳ vọng đó. . Những nhà tư tưởng tự do chỉ trích cách hành xử của đế chế và chất vấn về sự thượng đẳng của châu Âu với các dân tộc khác.

    Tại Pháp, một bước ngoặt đã xảy ra trong cuộc Cách mạng 1789: khái niệm tiến bộ xã hội được chính thức nhìn nhận như một tiến trình tự nhiên (Pitts 2005: 165‑173). Khái niệm ” văn minh ” được hiểu là những ” tiến bộ tập thể và độc đáo đưa nhân loại thoát ra khỏi tình trạng man rợ ” (Lafon 2001: 163). Trong cuốn Sơ thảo phác đồ lịch sử các tiến bộ nhân loại, Condorcet, triết gia và chính trị gia, đại diện tiêu biểu của tư tưởng Khai sáng, đã miêu tả chín nấc thang của quá trình tiến hóa của nhân loại: cấp thấp nhất là bộ tộc và cấp cao nhất là chính thể Cộng hòa Pháp. Những giá trị tinh thần mới của châu Âu được coi là những giá trị phổ quát cho toàn nhân loại. Sau khi tố cáo ” sự kỳ thị tàn bạo của chúng ta đối với những người mang màu da và tín ngưỡng khác “, Condorcet hình dung ra một tương lai mà ở đó:

    Thương điếm của những kẻ bất lương sẽ trở thành thuộc địa của những công dân, họ sẽ truyền bá sang tận châu Phi và châu Á những nguyên tắc và mẫu mực của tự do, tư tưởng ánh sáng và lý trí của châu Âu.

    Ông tiếp, người châu Âu sẽ tìm thấy ở những xứ sở này vô khối những tộc người đang ngồi chờ đợi từ chúng ta những phương tiện để được khai hóa, để tìm thấy ở những người anh em Âu châu những người bạn và môn đồ.

    Condorcet còn dự kiến tiêu diệt những tộc người quá xa cách hay quá hung bạo bằng hình thức diệt chủng hay đồng hóa.

    Tiêu trừ tối đa, đến mức chúng bị đẩy lùi bởi những dân tộc văn minh, chúng sẽ biến mất dần dần hoặc chính chúng tự lụi tàn trong cộng đồng của chúng. (Condorcet 1794: 261‑269)

    Để biện minh cho công cuộc thuộc địa bằng lập luận là những dân tộc khai sáng có nghĩa vụ khai hóa những tộc người bị rớt lại phía sau, Condorcet nêu ra những lý lẽ và luận chứng căn bản và làm nên định nghĩa của ” sứ mạng khai hóa “.

    Sứ mệnh kép ” này thể hiện một thứ đạo lý Cơ đốc giáo, như vậy, thuyết cứu thế của Pháp hãy còn giữ trong mình một thành tố tôn giáo.

    Là tộc người được Thượng đế lựa chọn để phục sự cho sự hoàn thiện của nhân loại, có ân nghĩa, sống trong đức tin và hy vọng, liệu đó có phải là cứu cánh cao cả nhất mà một dân tộc có thể làm được ? (Damiron 1834: 173)

    Damiron so sánh sứ mạng của tộc người văn minh với tộc người chậm tiến giống như sứ mệnh của con người với thiên nhiên, như thế này:

    So với thiên nhiên, văn minh quả thực lan tỏa ra từ chúng ta, chúng ta phải có nghĩa vụ đem lại văn minh cho nó, sao cho nó xứng là con người và giống con người. :

    Văn minh đang đẩy lùi mông muội. Một dân tộc khai sáng sẽ tìm đến một dân tộc khác đang chìm trong bóng đêm. Chúng ta là những người Hy Lạp của thế giới; chính chúng ta sẽ thắp sáng thế giới. Sứ mệnh của chúng ta đang hoàn thành, ta chỉ còn biết mừng ca. (Hugo, 1841: 113)

    Triết thuyết văn minh chống lại mông muội được tung hô như vậy, đến cả việc bãi bỏ chế độ nô lệ năm 1848 cũng bị lợi dụng vì mục đích khai hóa. Bởi lẽ những nhà tư tưởng thời đó tìm thấy trong việc bãi bỏ chế độ nô lệ lời biện minh cho hành động thực dân. Rằng, chúng tôi, dân tộc khai sáng đến với dân tộc thấp kém để giúp họ từ bỏ khai thác nô lệ. Điều không thể tránh khỏi là chúng tôi sẽ phải dùng đến bạo lực với những dân tộc đó. Và thế là, bãi bỏ chế độ nô lệ và tiến hành công cuộc thực dân xem ra là những minh chứng cho sự vĩ đại của nền văn minh Âu châu (Costantini 2008: 58-5)

    Những học giả ” lãnh sứ mệnh ”

    Vào nửa sau thế kỷ 19, lập luận đạo đức càng được củng cố bởi chủ nghĩa duy lý. Địa lý, sinh học, sinh lý học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học và xã hội học đều được đem ra phụng sự cho sứ mệnh khai hóa.

    Đầu thế kỷ 19, sự phân loại chủng tộc được dựa vào ngành ngôn ngữ học thì đến những năm 1850, các học giả Pháp chuyển hướng: sự phân loại này bây giờ dựa vào sinh học (Blanckaert 2007: 137-171). Trường Nhân loại học Paris, dưới sự dẫn dắt của Paul Broca, đã định nghĩa ra ” hệ hình chủng tộc “, chia loài người thành các cấp bậc giống nòi. Khái niệm này là sự kết nối giữa thuyết tiến hóa của những nhà triết học Khai sáng – sự tiến bộ sẽ đưa người mông muội trở thành người văn minh, với thuyết biến hình của Lamarck và Darwin – phân loại các sinh vật theo trục tiến hóa (Reynaud-Paligot 2006: 103-110). Khái niệm giống nòi thượng đẳng và hạ đẳng được cổ súy qua vô vàn các công trình pha trộn giữa giai thoại sử học, quan sát dân tộc học và đo lường nhân trắc học. Thử đơn cử nhận xét về loài người của Gustave Le Bon, bác sỹ, nhà nhân chủng học, tâm lý học và xã hội học, đại diện tinh túy của trí tuệ Pháp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Một bài báo khoa học của ông nghiên cứu mối liên hệ giữa kích thước của não và trí thông minh thế này: ở trên cao là những giống nòi thượng đẳng như các nhà bác học hay dân tư sản Paris, và dưới thấp là giống nòi hạ đẳng như người giúp việc, nông dân, và phụ nữ cũng nằm trong số này! Nhóm hạ đẳng này ” đại diện cho những hình thái thấp kém nhất trong sự tiến hóa của nhân loại, nó gần với trẻ con và người hoang dã hơn là với người văn minh ” ! (Le Bon 1879: 27). Các kiểu nghiên cứu này dẫn đến ” sự súc vật hóa những giống nòi hạ đẳng ” và ” một điểm nhìn bi quan về khả năng tiến hóa đến văn minh của họ ” (Reynaud-Paligot 2006: 103-110).

    Từ những năm 1870, thứ cố định luận về nòi giống loài người này được tiết chế bớt bởi thuyết Tân Lamarck. Thuyết này dựa trên ảnh hưởng trực tiếp của môi trường sống đến những biến phân tiến hóa và dựa vào sự di truyền đến thế hệ sau các đặc tính đã được định hình ở mỗi cá nhân dưới áp lực của môi trường (Loison 2008: 3-8). Một trong những nhà Tân Lamarck đầu tiên là Jean-Louis de Lanessan, có uy tín trong giới học thuật (bác sỹ và nhà vạn vật học) và chính trường Pháp (Toàn quyền Đông Dương (1891-1894) và Bộ trưởng bộ Hải quân (1899-1902). Ông viết rằng ” một người cha bị giang mai có thể di truyền bệnh lý này ở một cường độ mà chính đứa con cũng dễ mắc phải hoặc di chứng từ đó ” (Lanessan 1883: 224). Thuyết Tân Lamarck ảnh hưởng một cách quyết định đến tư tưởng của chế độ cộng hòa và còn kéo dài đến tận những năm 1950 (Grimoult 2000: 40). Người ta cho rằng nhờ cải thiện điều kiện sống (vệ sinh, y tế, sức khỏe sinh sản…), nhờ giáo dục và nhờ việc định hình các thói quen cần thiết để thụ đắc các đặc tính lành mạnh thì chúng ta có thể cải thiện được các giống người.

    Văn minh dường như tác động đến con người như một tác nhân cải biến, nó tương đồng với sự thuần dưỡng tác động lên động vật. (Lanessan 1883: 250)

    Những nhà Tân Lamarck như Alfred Giard đều dấn thân vào con đường chính trị để chuyên tâm vào sự nghiệp cải cách xã hội. Thuyết Tân Lamarck đã tìm thấy tính ứng dụng cũng như tác dụng của mình trong sứ mệnh khai hóa, vì sứ mệnh này kết hợp giữa tiến bộ vật chất và tinh thần và mang mục đích ” cải thiện ” giống nòi hạ đẳng. Paul Bert, Thống sứ Trung kỳ và Bắc kỳ (1886) và Lanessan, Toàn quyền Đông Dương (1891-1894), tiến hành thực hiện sứ mạng khai hóa với mục đích cải tổ xã hội.

    Ngược lại, một vài nhà khoa học như Gustave Le Bon, Jules Harmand vẫn giữ quan điểm cố định luận về giống nòi. Léopold de Saussure mỉa mai :

    Những quan điểm đối lập nhau này được đem ra tranh luận tại các kỳ Đại hội Thuộc địa từ 1889 đến 1900 (Léon 1991: 45-48). Khái niệm ” sứ mệnh khai hóa ” tìm được đất phát triển thông qua các hiệp hội học giả từ những năm 1870 trở đi (Conklin 1997: 11-13). Những hiệp hội này ” xây dựng và phổ biến một điểm nhìn nhất định nào đó của Chính quốc và Đế chế ” thông qua hoạt động ấn bản mạnh mẽ và mạng lưới giao thoa giữa khoa học, chính trị và kinh tế (Singaravelou 2006: 69). Thành viên các hiệp hội là những nhà khoa học, giảng viên, nhà báo, nhà chính trị, quan chức cao cấp, quân nhân, nhà ngoại giao, nhà thám hiểm, thương nhân. Bản thân một người có thể kiêm nhiệm nhiều vai trò khác nhau. Chẳng hạn, Paul Bert là bác sỹ, nhà sinh lý học và chính trị gia. Với tư cách là thành viên của Hội Dân tộc học Paris, ông truyền bá các luận thuyết về giống nòi trong sách giáo khoa (Reynaud-Paligot 2006: 140). Là chính trị gia, ông được điều phái đến Đông Dương làm quan chức thuộc địa. Rất nhiều các hiệp hội như vậy, được thành lập ngay tại các xứ thuộc địa, trở thành ” phương cách tốt nhất để chinh phục người bản xứ, để làm cho các mối quan hệ xã hội và giao thương thuận tiện hơn với họ, để mở rộng giống nòi Pháp vươn xa ra ngoài biển cả bằng cách sát nhập trong hòa bình, vì nó tăng trưởng quá chậm chạp tại lục địa. (Alliance française 1884: 7) nơi tiếp vận và mắt xích trong bộ máy hành chính thuộc địa hơn là những tổ chức học giả uyên bác độc lập ” (Singaravelou 2006: 67). Các hội địa dư tham gia rất tích cực vào công cuộc bành trướng thuộc địa. Bành trướng thuộc địa lúc này được coi là cần thiết cho những lợi ích kinh tế và nhân khẩu của nước Pháp và đem lại những lãnh thổ mới cho việc hiện thực hóa sứ mệnh khai hóa. Hội Địa dư Thương mại Paris, ” được thành lập để phục vụ cho sự phát triển của các công ty thương mại của Pháp quốc ở mọi góc của Địa cầu “. Hội xuất bản tạp chí L’Exploration, mang phụ đề ” Tờ báo của những cuộc chinh phục văn minh trên mọi chốn của Địa cầu “. Năm 1880, nhà địa dư Onésime Reclus phát minh ra khái niệm ” cộng đồng Pháp ngữ ” ( francophonie). Việc coi tiếng Pháp như là ” vũ khí tuyệt vời nhất của nền Cộng hòa “. Ngay từ buổi ra đời, chương trình học ở đây nhận định rằng làm cho ” biết và yêu ” tiếng Pháp có thể là

    Bìa một cuốn sách tư liệu về hành trình khai hóa thuộc địa của Pháp được xuất bản bởi Palgrave Macmillan năm 1996.

    Bổn phận khai hóa

    Sứ mệnh khai hóa ở cuối thế kỷ 19 được coi như là một trong những nền tảng trụ cột của công cuộc thực dân Pháp. Đối với người Pháp thời đó, thực dân ” khai hóa ” của Pháp khác hẳn với thực dân ” con buôn ” của Anh hay Hà Lan. Lập luận khai hóa này cũng giúp cho người Pháp phản bác lại sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc bình đẳng, tự do bắt nguồn từ Cách mạng Pháp với sự phục tùng của các dân tộc bị trị. Năm 1885, trong một cuộc tranh luận ở Nghị viện về nền móng của chính sách thuộc địa, Jules Ferry, người đề xướng công cuộc thực dân ” khai hóa “, viết năm 1931 rằng đối lập với ” giáo lý khắt khe mặc định sự hạ đẳng vĩnh viễn của một vài giống nòi “, sứ mạng khai hóa của Pháp ” nặn đắp nên, một cách kiên trì, diện mạo của một giống người mới ” trong ” thứ đất sét vô dạng của vô vàn những nhân tố nguyên thủy ” (Sarraut 1931: 155). Sứ mạng này giúp nền Cộng hòa Pháp thoát khỏi cuộc tranh luận cũ kỹ về cuộc xâm chiếm thuộc địa và sự hung bạo của nó. Nếu sự nghiệp thuộc địa được thai nghén trong ” sự đau đớn của kẻ bị trị và kẻ thống trị ” thì đó là vì nó nhắm đến ” lợi ích chung của toàn nhân loại cùng được hưởng lợi thành quả ” (Sarraut 1931: 237). Ngoài những lợi ích cho kẻ bị trị, công cuộc thuộc địa ” đã chuẩn bị sự thống nhất của thế giới, nền tảng của sự đại đoàn kết của gia đình nhân loại ” (Sarraut 1931: 235).

    Trong khi giáo dục đại diện khía cạnh tinh thần của sứ mệnh khai hóa thì y tế (vệ sinh, tiêm chủng…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, đường sắt, thủy lợi…) và an ninh (chống trộm cắp, sự bành trướng của những nước láng giềng) là khía cạnh vật chất. Thực ra, mối liên hệ giữa giáo dục và thuộc địa, hai công trình trọng điểm của nền Đệ Tam Cộng hòa, không hề là ngẫu nhiên. Jules Ferry cùng lúc thực hiện các cải cách giáo dục nhân danh bình đẳng về quyền và công cuộc thuộc địa nhân danh ” nghĩa vụ cao cả khai hóa ” (Ferry 1893: 287).

    Khi đảng cộng hòa nắm trong tay chính phủ và trách nhiệm trước quốc sự khẳng định:

    Chính nhà trường sẽ tạo nên ảnh hưởng lớn đến việc đồng hóa những nhân tố ngoại quốc vào nhân tố Pháp, chính nhà trường sẽ phải truyền bá ngôn ngữ và tư tưởng của chúng ta. (1882: 367)

    Ông than phiền việc ” nước Pháp đã không thực hiện nghĩa vụ của mình với các tộc người Ả rập ” vì ” nước Pháp chẳng làm gì cho sự nghiệp giáo dục họ ” (Leroy-Beaulieu 1882: 373). Thầy dòng Pierre Auguste Raboisson đánh giá rằng:

    Thuộc địa đích thực phải có một thứ giáo dục trí tuệ và tinh thần để truyền bá cho dân bản địa tinh thần và linh hồn của chính quốc. Nó phải nắm giữ một hành động thực tiễn, hiệu quả và lâu dài để thể hiện sự cao cả của đế quốc. (Raboisson 1877: 18)

    Khi đến Bắc kỳ vào năm 1886 nhậm chức Thống sứ Bắc và Trung kỳ, Paul Bert tuyên bố đến dân bị trị:

    Giống như người Trung Hoa trước kia đã cải thiện hiện trạng xã hội của các người bằng cách đem văn minh đến, khai tâm các người qua vị trí nước lập pháp, thì người Pháp cũng vậy, người Pháp hôm nay đến nhà các người để cải thiện nền nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế, và còn để nâng cao dân trí thông qua giáo dưỡng. (1946: 121)

    Chúng ta có thể dẫn chứng ra vô khối những ví dụ của thể loại diễn văn này, chúng mô tả làm thế nào mà ” hình ảnh truyền thống của nước Pháp nhân nghĩa ” đang nỗ lực thực hiện để đem lại ” sự hài hòa giữa mục tiêu tinh thần và sự kiếm tìm phồn thịnh vật chất ” (Pasquier 1931: 7). Số lượng trường lớp và học sinh tăng lên được đưa lên hàng đầu như khẩu hiệu tuyên truyền. Chương ” Giáo dục ” cho cuốn vựng tập giới thiệu Đông Dương trong cuộc Triển lãm thuộc địa 1931 bắt đầu bằng những dòng này:

    Khi đi thăm thú một trong những thành phố lớn của Đông Dương, chúng ta không thể không bất ngờ vì số lượng và tầm quan trọng của các trường học nơi đây. (Commissariat Général à l’Exposition coloniale internationale de Paris 1931 : 136)

    Tuy nhiên, giáo dục chỉ là công cụ phục vụ cho những mục đích chính trị và kinh tế của công cuộc thuộc địa. Đối với những quan chức thuộc địa, từ Éliacin Luro đã định nghĩa như thế này vào năm 1917 :

    Chúng ta cũng muốn nắm giữ đến tận con tim của người bản xứ và xóa bỏ mọi hiểu nhầm giữa họ và ta […] Đề cao xứ sở của họ, giúp họ gắn bó với sự nghiệp của chúng ta, đó là mục đích của cuộc chinh phục tinh thần. Cuộc chinh phục này lâu hơn và sáng láng hơn cuộc trước, nhưng cũng phong phú và đáng ngợi ca. Công cụ để thực hiện không thể là gì khác ngoài trường học. (Hardy 1917:12)

    Ngoài chinh phục trái tim, sự nghiệp thuộc địa cũng có những nhu cầu thiết thân khác, như : khai thác đất đai thì cần đến nhân công bản địa, phải đào tạo họ những kỹ thuật của Tây phương. Những nhu cầu này cấp thiết ở Đông Dương vì số lượng kiều dân Pháp đi khai thác thuộc địa rất ít. Khai thác thuộc địa dẫu gì cũng là công cuộc tốn kém, cần phải biện minh trong mắt công luận, nhất là ở chính quốc, cái giá phải trả. Năm 1885, trong một cuộc tranh luận ở Nghị viện, Jules Ferry nêu lên ba cơ sở nền tảng chính sách thuộc địa của ông : mục tiêu thứ nhất là kinh tế (tìm ra thị trường tiêu thụ), tiếp đến là mục tiêu khai hóa, sau cùng là mục tiêu chính trị (tranh đua với Anh quốc để duy trì sự hiện diện của hải quân Pháp…). Sứ mệnh khai hóa thực chất chỉ chiếm 4 trên tổng số 60 trang trong cuộc tranh luận này (Ferry 1885: 199-220). Năm năm sau, 1890, ông khẳng định lần nữa ” chính sách thuộc địa là con đẻ của chính sách công nghiệp ” (Ferry 1890: 40).

    Thay lời kết : hợp tác hay đồng hóa ?

    ” Sứ mệnh khai hóa ” được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật, được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học và chính trị gia. Và họ, hoặc bằng xác tín chính trị, hoặc bằng ” thực chứng ” khoa học, thành tâm và nhiệt thành tin tưởng ở ” sứ mệnh ” cao cả này.

    Tuy nhiên, có những nhân vật, như Jules Harmand không tin vào sứ mệnh khai hóa, bằng những lý lẽ thẳng thừng :

    Tốt hơn hết là hãy cố mà điều chỉnh các hành động của chúng ta sao cho phù hợp với hoàn cảnh thống trị, sự thống trị bằng chinh phục này bản thân nó đã không dân chủ, và đừng có lạm dụng những trò đạo đức giả nhỏ mọn và cả những trò ” bịp bợm về văn minh ” vì nó chẳng đánh lừa được ai sất. Hãy cố mà tìm cách biện minh cho sự thống trị vì lợi ích chung của cả kẻ thống trị và bị trị. (Harmand 1910: 12)

    Những thực tế trên địa hạt Đông Dương khiến cho nhà cầm quyền thuộc địa phải hiện thực hóa và cụ thể hóa sứ mạng này trên phương diện giáo dục bằng hai mô hình đồng hóa và hợp tác trong công cuộc chinh phục con tim dân bản xứ. Đồng hóa nhằm Pháp hóa con dân bị trị để đưa họ đến gần với văn minh. Ví dụ, dân Nam kỳ ” hiền lành, ôn hòa và dễ dàng cai trị ” thì dễ đồng hóa và sớm trở thành những người Pháp thứ thiệt ! (Dubois de Jancigny 1850: 579) Nhưng một hiểm họa và ám ảnh rình rập người Pháp, đó là đến thời điểm nào đó, dân bản xứ, sau một quá trình ” tiến hóa ” sẽ đỏi hỏi bình đẳng với kẻ đi chinh phục. Hợp tác thực chất là một ” khế ước “, theo Jules Harmand, giữa kẻ thống trị và bị trị. Thay vì san phẳng truyền thống, văn hóa hay ngôn ngữ bản địa, kẻ chinh phục phải tôn trọng nền văn minh lâu đời ” độc đáo và khá phát triển ” của các dân tộc Đông Dương, và chỉ nên giáo dục họ đủ để họ thoát ra khỏi tình trạng ” trì trệ ” (1910: 159). Kẻ bị trị phải chấp nhận sự thống trị thực dân, bù vào họ được hưởng những lợi ích (trật tự xã hội, tiến bộ kỹ nghệ, an ninh, giáo dục, y tế…). Vì thế, vẫn nên hiểu sự hợp tác phải hoàn toàn nằm trong khuôn khổ đô hộ.

    Hiển nhiên là sứ mệnh khai hóa này mâu thuẫn trực tiếp với lợi ích thống trị, vì lẽ, về bản chất nó mâu thuẫn với chính Tuyên ngôn Nhân quyền và nó cũng phản ánh tính hai mặt của tư tưởng Khai sáng. Các nhà Khai sáng tin tưởng rằng con người sẽ tự tìm ra cho mình sự giải thoát và đấng cứu tinh thay vì ngồi chờ đợi Chúa và Thiên hựu. Họ đề cao lẽ phải và tuyên ngôn các lý tưởng cao đẹp như bình đẳng, bác ái nhưng hành động thực hiện không hẳn tương ứng với tuyên ngôn. Quân đội của Napoléon Đệ Nhất xâm chiếm Tây Ban Nha, Ai Cập, Ý hay Áo bằng chiến tranh, bạo lực, trấn áp nhưng vẫn giương cao ngọn cờ phần phật những lý tưởng Khai sáng và tuyên ngôn Cách mạng Pháp 1789. Nhưng công luận và trí thức Pháp chỉ thất vọng về mặt trái của Khai sáng khoảng 30 đến 40 năm sau khi những sự kiện này diễn ra, như những gì Stendhal mô tả trong các tác phẩm của ông.

    Để giết người thì nhân danh nhân quyền cũng như nhân danh Chúa đều dễ như nhau !(Todorov 2011)

    Jules Harmand đã cảnh báo giáo dục chính là ” con dao hai lưỡi cầm vào rất nguy hiểm, thậm chí mũi dao đã bị tẩm độc ” (1910: 258). Thực tế chứng minh, nhiều thập niên sau, giáo dục thuộc địa đã giúp hình thành nên giới trí thức tinh hoa bản xứ. Tiếp thu trực tiếp tư tưởng văn minh và khai sáng đích thực của Âu châu, giới tinh hoa này đối thoại và chất vấn với chính quyền thuộc địa tại chính quốc hay ở các xứ thuộc địa. Cùng với quần chúng, họ lật đổ và xóa bỏ chủ nghĩa thực dân, nhưng bằng những phương cách rất khác nhau.

    Thời đại chúng ta sống, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, đang chứng kiến một thứ thuyết cứu thế kiểu mới, như triết gia và nhà phê bình văn học Tzvetan Todorov phát biểu chống lại cuộc chiến ở Libye: ” Từ 20 năm trở lại đây, chúng ta bị cuốn vào một đòn bẩy cứu thế với niềm tin rằng chúng ta có thể mang lại dân chủ và nhân quyền bằng vũ lực! ” (Todorov 2011).

    Không lẽ lịch sử là một vòng xoáy chôn ốc kiểu này?

    Tài liệu trích dẫn

    Alliance française.1884. ” Programme de l’Alliance Française. ” Bulletin de l’Alliance Française 1: 7.

    Bert Paul. 1946. ” Discours du 2 avril 1886 ” Trang 121 trong sách L’Indochine française, chủ biên Henry Marc et Pierre Cony. Paris: Editions France-Empire.

    Bezancon Pascale. 2002. Une colonisation éducatrice ? L’expérience indochinoise (1860-1945). Paris : L’Harmattan.

    Blanckaert Claude. 2007. ” Un fil d’Ariane dans le labyrinthe des origines? ” Revue d’Histoire des Sciences Humaines Vol. 17-2: 137‑171.

    Blum Léon. 1984. ” Discours à la Chambre des députés, le 9 juillet 1925. ” Trang 370 trong sách Empire colonial et capitalisme français, Jacques Marseille (ed.). Paris: Albin Michel.

    Commissariat Général à l’Exposition coloniale internationale de Paris. 1931. Indochine, Documents officiels. Paris: Société d’Editions Géographiques, Maritimes et Coloniales.

    Condorcet Nicolas de. 1794. Esquisse d’un tableau historique des progrès de l’esprit humain, suivie de réflexions sur l’esclavage des nègres. Paris: Masson et Fils (1822).

    Conklin Alice L. 1997. A Mission to Civilize: the Republican Idea of Empire in France and West Africa, 1895-1930. Palo Alto: Stanford University Press.

    Costantini Dino. 2008. Mission civilisatrice. Le rôle de l’histoire coloniale dans la construction de l’identité politique française. Paris: Editions La Découverte.

    Damiron Jean-Philibert. 1834. Cours de philosophie, par M. Ph. Damiron. Deuxième partie. Morale. Paris: Librairie Hachette.

    Daumalin Xavier. 2008. ” La doctrine coloniale africaine de Paul Leroy-Beaulieu (1870-1916) : essai d’analyse thématique ” Trang 103‑120 trong sách L’esprit économique impérial, chủ biên Hubert Bonin, Catherine Hodeir et Jean-François Klein, Saint-Denis: SFHOM.

    Dorigny Marcel. 2008. ” Anti-esclavagisme, abolitionisme et abolitions en France de la fin du XVIIIe siècle aux années 1840. ” Trang 68-69 trong sách Culture coloniale française, chủ biên Pascal BLANCHARD, Sandrine LEMAIRE et Nicolas BANCEL. Paris : CNRS Editions.

    Dubois de Jancigny Adolphe. 1850. L’Univers. Japon, Indo-Chine, Empire birman (ou Ava), Siam, Annam (ou Cochinchine), Péninsule malaise, etc., Ceylan. Paris: Firmin-Didot frères.

    Dumoutier Gustave. 1887. Les débuts de l’enseignement français au Tonkin. Hanoi: Imprimerie Schneider.

    Ferry Jules. 1893. ” Les fondements de la politique coloniale, Discours prononcé à la Chambre des députés le 28 juillet 1885. ” Trang 210‑211 trong sách Discours et Opinions de Jules Ferry, Paul Robiquet (ed.). Paris: Armand Colin et Cie.

    Ferry Jules, 1890. Le Tonkin et la mère-patrie : témoignages et documents. Paris : Victor-Havard Éditeur.

    Ferry Jules. 1893. ” Discours sur l’égalité d’éducation, prononcé à Paris, à la salle Molière, le 10 avril 1870. ” Trang 287 trong sách Discours et Opinions de Jules Ferry, Paul Robiquet (ed.). Paris: Armand Colin et Cie.

    Grimoult Cédric. 2000. Histoire de l’évolutionnisme contemporain en France, 1945-1995. Genève: Librairie Droz.

    Hardy Georges. 1917. La conquête morale : l’enseignement en A.O.F., Paris: L’Harmattan (2005).

    Harmand Jules. 1910. Domination et colonisation. Paris: Ernest Flammarion.

    Hugo Victor. 1841. Choses vues: souvenirs, journaux, cahiers, 1830-1885. Paris: Gallimard (2002).

    Lanessan Jean-Louis de. 1883. Le transformisme : évolution de la matière et des êtres vivants. Paris: O. Doin.

    Le Bon Gustave. 1879. ” Recherches anatomiques et mathématiques sur les lois de variations du volume du cerveau et du crâne. ” Revue d’Anthropologie 2: 27‑104.

    Leon Antoine. 1991. Colonisation, enseignement et éducation. Paris: L’Harmattan.

    Leroy-Beaulieu Paul. 1882. De la colonisation chez les peuples modernes, 2e éd. Paris: Guillaumin et Cie.

    Loison Laurent. 2008. Les notions de plasticité et d’hérédité chez les néolamarckiens français (1879 – 1946), Eléments pour une histoire du transformisme en France, Thèse d’histoire, Université de Nantes.

    Milza Pierre. 1980. ” Culture et relations internationales. ” Relations internationales 24: 361‑379.

    Nguyễn Ái Quốc. 1925. Procès de la Colonisation française. Paris: Librairie du Travail.

    Nguyễn Thế Anh. 2004. ” Mission civilisatrice (civilizing mission). ” Trang 899-900 trong sách Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, From Angkor Wat to East Timor, Ooi Keat Gin (ed.). ABC-CLIO.

    Pasquier Pierre. 1931. Discours prononcé par Monsieur Pierre Pasquier, Gouverneur Général de l’Indochine à l’ouverture de la Session du Conseil de Gouvernement du 8 Décembre 1931. Saigon: Imprimerie de la Dépêche, Conseil de Gouvernement de l’Indochine.

    Pitts Jennifer. 2005. A turn to empire: the rise of imperial liberalism in Britain and France. Princeton : Princeton University Press.

    Raboisson Pierre Auguste. 1877. Etude sur les colonies et la colonisation au regard de la France. Paris: Challamel Aîné.

    Reynaud-Paligot Carole. 2006. ” Usages coloniaux des représentations raciales (1880-1930) ” Cahiers d’histoire. Revue d’histoire critique 99: 103‑110.

    Reynaud-Paligot Carole. 2006. La république raciale: paradigme racial et idéologie républicaine (1860-1930). Paris: Presses universitaires de France.

    Rosenberg Clifford. 2002. ” Albert Sarraut and Republican racial thought. ” French Politics, Culture and Society 20: 97.

    Salon Albert. 1978. Vocabulaire critique des relations internationales dans les domaines culturel, scientifique et de la coopération technique. Paris: Maison du Dictionnaire.Lafon Jacques. 2001. Itinéraires de l’histoire du droit à la diplomatie culturelle et à l’histoire coloniale. Paris: Publications de la Sorbonne.

    Salon Albert. 1983. L’Action culturelle de la France dans le monde. Paris : F. Nathan.

    Sarraut Albert. 1931. Grandeur et servitude coloniale. Paris: Editions du Sagittaire.

    Saussure Léopold de. 1899. Psychologie de la colonisation française: dans ses rapports avec les sociétés indigènes. Paris: Félix Alcan.

    Say Jean-Baptiste. 1826. Traité d’économie politique, 5e éd. Paris: Rabilly Libraire.

    Singaravelou Pierre. 2006. ” Aux origines coloniales de la francophonie : le rôle pionnier des associations et des sociétés savantes. ” Trang 69 trong sách Les associations dans la francophonie, Sylvie Guillaume (ed.). Pessac: Maison des Sciences de l’Homme d’Aquitaine.

    Société de géographie commerciale. 1876. ” Statuts “, L’Exploration 1: 1.

    Tzvetan Todorov. 2011. ” Il est tout aussi facile de tuer au nom des droits de l’homme qu’au nom de Dieu ! ” ( http://www.lepoint.fr/grands-entretiens/tzvetan-todorov-il-est-tout-aussi-facile-de-tuer-au-nom-des-droits-de-l-homme-qu-au-nom-de-dieu-15-04-2011-1319970_326.php). Truy cập tháng 2/2017.

    Verdo Geneviève. 2010. “Un empire libéral. La vie des idées ( http://www.laviedesidees.fr). Truy cập tháng 9 năm 2010.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Hoa Văn Đặc Trưng Của Mỗi Quốc Gia
  • Tản Mạn Chút Về Văn Hoá Xếp Hàng
  • Nét Đẹp Văn Hóa Xếp Hàng Của Người Nhật
  • Văn Hóa Xếp Hàng Và Ý Nghĩa
  • Văn Hóa Tổ Chức Ở Cấp Độ Trường Đại Học
  • “con Ngoan, Trò Giỏi” Và Dạy Để Trẻ Tự Lập

    --- Bài mới hơn ---

  • Đã Qua Thời ‘con Ngoan, Trò Giỏi’
  • Những Định Nghĩa “nhà Là Nơi” Siêu Thực Tế Vẫn “đốn Tim” Người Đọc
  • Thế Nào Là Nhà Ở ? Có Văn Bản Nào Quy Định Hoặc Định Nghĩa Về Nhà Ở Không ?
  • Nhà Ở Là Gì? Quyền Sở Hữu Và Sử Dụng Nhà Ở Tại Việt Nam?
  • Hệ Điều Hành Wear Os Trên Đồng Hồ Thông Minh Là Gì?
  • Đạo diễn, nhà thơ Đỗ Minh Tuấn bảo vệ khái niệm “con ngoan trò giỏi” như những giá trị văn hóa và nhân bản http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/van-hoa-hoc-duong40/trao-doi-voi-gs-ts-tran-ngoc-them-ve-triet-ly-giao-duc-cua-to-tien Bài này chỉ xin bàn về khía cạnh giáo dục. Giỏi và ngoan?

    “Giỏi” và “ngoan” là hai tĩnh từ dùng cho một trẻ biết hấp thụ hoàn toàn – ở đây là hấp thụ chứ không phải là tiếp cận – những tri thức mà nhà trường truyền cho, những nguyên tắc luật lệ mà gia đình rèn dạy chúng.

    Hấp thụ, tiếp thu, nằm lòng,… là những công việc mà gia đình và trường học chờ đợi ở trẻ. Để đạt đến mục tiêu ấy, các hệ thống quyền lực ở trường, ở nhà, được tổ chức và áp dụng: quyền của cha mẹ, quyền của thầy, kỷ luật, nếp nhà, …

    Kết quả là trẻ bị lệ thuộc vào hệ thống thưởng phạt và chế tài của trường học và gia đình. Học sinh tiên tiến, con ngoan, … một bên, để vinh danh những cá nhân biết tuân thủ. Còn bên kia là những hình phạt, kể cả việc xâm phạm vẹn tròn thân thể của trẻ, khi chúng đi … lệch – mà đúng chuẩn hay lệch chuẩn đều do …người lớn quyết định.

    Giáo dục thành một cách đổ vừa khuôn – đòi hỏi trẻ phải hoàn toàn thích ứng với luật và lệ, những “mẫu” của xã hội.

    Thế nào là một trò giỏi?

    Đối với nhiều người, một trò giỏi, thành công ở trường, là một trẻ ” trả bài ” gần như nguyên văn những gì thầy dạy trong các kỳ thi dựa trên kiểm soát thuộc lòng, từ chương.

    Thời “lều chõng”, sách thánh hiền bất di bất dịch, thì kiểm soát khả năng trả bài là như bình thường. Hiện nay, khoa học thay đổi từng ngày, xã hội cũng thay đổi nữa. Dạy trò là phải chuẩn bị chúng cho tương lai nên đánh giá – trả bài thành …lỗi thời.

    T rong đánh giá các kiến thức, giáo dục phân loại

    Nhiều nhà giáo, từ nửa thế kỷ nay, cặm cụi chống việc chấm điểm xếp hạng và cách phân biệt “trò khôn – trò ngu”. Đúng ra, khi trẻ có vấn đề ở trường thì phải tìm xem các nguyên nhân của vấn đề: nguyên nhân tâm sinh lý, nguyên nhân xã hội, nguyên nhân sư phạm – có thể chương trình và phương pháp dạy không thích hợp với chúng chẳng hạn – rồi tìm cách giải quyết.

    Các nước như Phần Lan, Hà Lan, Bỉ, … đã và đang làm như thế với học trò của họ. Chứ họ không bắt trò phải vào khuôn và đổ hoàn toàn trách nhiệm trên đầu chúng khi chúng không thành công, khi chúng không trả lời đúng chờ đợi của thầy.

    Cách đánh giá – trả bài và chấm điểm xếp hạng hiện không còn giá trị và từ đó kéo theo sự lỗi thời của khái niệm “trò giỏi”.

    Con ngoan là đứa trẻ áp dụng tất cả những gì mà cha mẹ truyền cho như phép nhà, như lễ giáo. Tuân thủ chứ không phê bình. Phận làm con còn có trách nhiệm thực hiện những ước vọng hay cao vọng của gia đình – để được xem như là ngoan, là có hiếu.

    Gia đình là tác nhân đầu tiên đóng vai trò xã hội hóa trẻ – một vai trò rất là quan trọng. Trước khi chào đời trẻ chỉ là một vật thể sinh học. Nhờ gia đình chúng thành một sinh vật có khả năng sống trong xã hội, biết trọng trên nhường dưới, biết phép tắc ở đời. Những luật lệ xã hội căn bản, trẻ “tập tành” trong bối cảnh của gia đình – nhờ được yêu thương, chúng “học” những điều đó rất nhanh và rất tốt. Gia đình ghi dấu hằn trên bản thể của trẻ là như thế.

    Gia đình truyền thống Việt Nam, một phần là do ảnh hưởng của Nho giáo, ràng buộc trẻ nhiều – con ngoan là con ứng xử đúng như ông bà và cha mẹ chờ đợi.

    Trẻ còn được dạy là phải … mang ơn công cha mẹ sinh thành và nuôi dưỡng.

    Cách dạy con truyền thống như thế có thể hiểu được khi kinh nghiệm sống còn là trí khôn của nhân loại, khi xã hội nhà nông ít hay đổi và nhất là vì tâm lý nhi đồng chưa được được bàn đến và quyền của trẻ chưa được để ý.

    Tuy nhiên, ít nhất là từ ba mươi năm nay, trên thế giới có nhiều thay đổi. cha mẹ không còn độc quyền nắm giữ tri thức hay sự khôn ngoan ở đời để “uốn nắn” con thế nào cũng được hay bắt con tuân thủ nếp nhà.

    Con ngoan cũng thành một khái niệm … lỗi thời.

    Cha mẹ đòi con “ngoan” và tái tạo lại những nề nếp qui củ y như những giá trị của quá khứ thì làm sao con cái thích ứng được với hoàn cảnh của toàn cầu hóa, của cách mạng tin học thời 2.0 hay thậm chí 4.0 ?

    Dĩ nhiên, không phải vì những lý do kể trên mà vứt qua cửa sổ tất cả những giá trị truyền thống.

    Liên hệ xã hội dựa trên những giá trị đạo đức nhân bản, tôn trọng người đối diện, đặt lợi ích chung trên lợi ích cá nhân, …những giá trị đó không ai phản đối. Nhưng cũng cần tôn trọng bản thể của trẻ chứ không thể bắt chúng cất cái riêng tư vào ngăn kéo để hi sinh mình cho người lớn, để … ngoan.

    Bồi dưỡng bản thể của trẻ, có lúc cho phép chúng … thiếu ngoan, tức là vun trồng khả năng để chúng có thể đối mặt với những bất định và tính đa diện của xã hội hiện thời. Dạy để chúng tự lập.

    Có người nói: “ảnh hưởng sự gò ép vào khuôn khổ của học đường chỉ được phát hiện rất trể – có khi cả ba mươi năm sau – trên cái ghế dài của nhà phân tâm học”.

    Đó là một cách khôi hài, nhưng không xa thực tế.

    Một trò bị xem như “đèn đỏ của lớp” – vì em học kém – hay bị mệnh danh là “cô rùa” – vì em làm bài chậm – , … tức là không “giỏi” trong mắt thầy, cái ám ảnh này sẽ theo trò ấy suốt đời : mất tự tin, không dám lập nghiệp, mặc cảm tự ti, …

    Ngay đến trong gia đình, nhiều trẻ được giáo dục với đầy cấm kỵ : không được làm điều này, không được nói điều kia, … Lắm khi trẻ “ngoan” vì không có lựa chọn nào khác.

    Và những “đè nén”, “khó thở” trong gia đình có thể là nguyên nhân cho những khó khăn mà chúng gặp phải trên đường đời khi trưởng thành sau này. Thí dụ điển hình là sự tự giới hạn trong sự nghiệp (vì cá nhân ấy vốn… cần có sếp để vâng lời! Cứ như hình ảnh “vĩ đại” của người cha vẫn còn ám ảnh).

    Nhà phân tâm học cũng sẽ nói: những phụ nữ sẳn sàng đưa chân đi lấy chồng ngoại quốc để gửi tiền về giúp cha mẹ để đáp hiếu, để đổi đời, … là một trong những kết quả của cách giáo dục “gieo mặc cảm cho con”, bắt con phải hi sinh mới “trọn đạo”.

    Đó là chưa nói đến những cách “trốn luật” hay “thoát luật” mà trẻ nào cũng có thể sáng chế để chống lại sự áp đảo, đè nén, khó thở, … của kỷ luật trong gia đình hay ở trường – bạo lực của giới trẻ, tự tử của người trẻ, đi hoang hay phạm tội lúc còn vị thành niên, … là ngôn ngữ của những phản ứng thuộc vào loại này.

    Yêu cầu “trò giỏi, con ngoan” và xung đột giữa các “mẫu” văn hóa

    Một cách ngắn gọn “mẫu” ở đây là cách suy nghĩ hành xử, bậc thang giá trị, … Có những văn hóa trọng tôn ti trật tự, văn hóa gia đình truyền thống chẳng hạn. Có văn hóa khác đề cao sự tự do cá nhân, nhóm những người tranh đấu cho nữ quyền là một thí dụ. Có những sách báo phim truyện lại cho những mẫu thực dụng, lấy vật chất làm tiêu chỉ, …

    Gia đình và trường học không là những diễn viên duy nhất dạy hay xã hội hóa trẻ. Trẻ còn chịu ảnh hưởng của bạn bè, các nhóm chính trị tôn giáo xã hội mà trẻ có dịp tiếp xúc và nhất là các phương tiện truyền thông (sách vở, báo chí, phim ảnh, internet, …).

    Một trẻ có bản lĩnh, đã được rèn tính sáng tạo, được dạy tự lập thì sẽ không có vấn đề khi phải lựa chọn giữa các “mẫu” khác nhau, sẽ suy nghĩ để chọn lựa cách hành xử thích hợp nhất cho mình.

    Trái lại, nếu không được chuẩn bị, nếu chỉ biết thụ động tuân thủ, trẻ có thể tiếp tục tuân thủ các mẫu hành xử khác, vì không quen suy nghĩ đắn đo, vì xem đó như một cách để thoát ràng buộc, …

    Tuyên ngôn về quyền của trẻ em, Liên Hiệp Quốc, 1959, bắt đầu bằng câu: Trẻ cần tình yêu thương và cảm thông để có thể hạnh phúc trong sự phát triển của bản thể chúng.

    Phát triển bản thể của chúng chứ không thành con ngoan.

    Hơn nửa thế kỷ nay, nhiều nhà giáo, nhà tâm lý xã hội học, … nghiên cứu về vấn đề tâm lý trẻ đề nghị những phương thức để giáo dục chúng mà không cần đến bạo lực hay áp đặt. Thương thuyết, lý luận, giải thích, … để trẻ hiểu, đồng tình và tự thay đổi, … là phương thức được đưa ra.

    Françoise Dolto, người điển hình của trường phái giáo dục bình đẳng, bảo rằng phải tôn trọng trẻ như một chủ thể. Cha mẹ ở đó như những người đồng hành giúp trẻ khám phá thế giới, vũ trụ và tự khám phá mình.

    Giáo dục là một giáo dục dân chủ chứ không giáo dục để cho vào qui cũ. Trẻ không phải vâng lời người lớn. Mà phải làm sao cho trẻ tìm được những phương thức thích hợp nhất để phát triển và từ đó mà trưởng thành.

    Vì trẻ là một đối tác ngang hàng, một đối tác mà người lớn phải kính trọng. Có được kính trọng trẻ mới hình thành được bản thể của mình một cách độc lập và từ đó trẻ sẽ tự lập tốt nhất, sớm nhất.

    Trường học trong đường hướng đó ?

    Trào lưu thế giới hiện rất rõ: học để phát triển, học để sống với người khác, học để hạnh phúc.

    Học để tự biết mình là ai, không giống anh giống chị hay giống người láng giềng.

    Lại càng không giống theo mẫu mà sách báo, internet, … vẽ ra.

    Trẻ đi tìm cái định nghĩa của “cái tôi” và cố gắng phát triển cái tôi ấy để viết lên chuyện đời của mình.

    Tức là trường học không còn chủ yếu dựa trên kỷ luật và chương trình học.

    Các môn học chỉ là những phương tiện mà trò dùng để học làm người có tri thức chứ không phải người dốt nát.

    Như thế, ta không cần phải đào tạo những trò giỏi hay trò ngoan.

    Kết luận: Quyền của trẻ và quyền của người đi học

    Ngắn gọn, năm điều cần nhắc lại:

    . Giữa thế kỷ thứ XX, Philippe Perrenoud, rồi Jean Thérer, bàn về quyền của người đi học.

    . Bàng bạc qua các lý thuyết giáo dục hiện nay, một khái niệm nổi bật: trao quyền cho trò – trò đóng vai tích cực chủ động trong quá trình học, trong tiếp cận tri thức, trò làm chủ tri thức để phát triển, để khẳng định bản thể của mình.

    . Đánh giá ở trường thành đánh giá – đào tạo chứ không còn là đánh giá – chế tài.

    . Công ước quốc tế “Quyền của trẻ em” cũng chào đời vào năm 1989, Việt Nam là nước thứ nhì phê chuẩn công ước này.

    Dĩ nhiên, công ước này chỉ bàn đến những điều rất tổng quát, nhưng ít nhất văn bản này chính thức thừa nhận sự hiện hữu của trẻ như những cá thể độc lập với gia đình.

    . Đồng thời, tâm lý học nhi đồng, Y khoa và nhất là Thần kinh học Nhi đồng đã tiến triển rất nhiều và cho ta thấy những tác hại có thể của những cách giáo dục trẻ đầy áp đặt.

    Có lẻ đã đến lúc phải xem lại khái niệm “con ngoan trò giỏi” để “giải phóng” cho trẻ và để đào tạo những thế hệ tương lai tự tin tiến bước trên đường đời.

    Tác giả: Nguyễn Huỳnh Mai (Xem trang nhà: https://huynhmai.org/ )

    . Về cách thức chấm điểm học trò

    https://huynhmai.org/2013/04/21/ban-ve-cach-thuc-cham-diem-hoc-tro/

    . Về trò giỏi trò kém

    https://huynhmai.org/2013/05/02/chuyen-giao-duc-tro-gioi-va-tro-kem/

    . Françoise Dolto viết rất nhiều về tâm lý và tâm thần học của trẻ em. Quyển này dễ tiếp cận : La cause des enfants. NXB Robert Lafont, 1985.

    .Về quyền của người đi học, khái niệm trao quyền và quyền của trẻ em:

    https://huynhmai.org/2013/08/01/perrenoud-va-quyen-khong-xoa-bo-duoc-cua-nguoi-di-hoc/ Jean Therer và quyền của người đi học http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/khai-niem-trao-quyen https://fr.wikipedia.org/wiki/D%C3%A9claration_des_droits_de_l%27enfant https://en.wikipedia.org/wiki/Declaration_of_the_Rights_of_the_Child https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_v%E1%BB%81_Quy%E1%BB%81n_tr%E1%BA%BB_em

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giai Thích Ý Nghĩa Câu”con Ngoan,trò Giỏi”
  • Định Nghĩa 2 Góc Kề Nhau
  • Định Nghĩa 2 Vecto Đối Nhau
  • Định Nghĩa 2 Góc Phụ Nhau
  • Sự Khác Biệt Giữa Uống Rượu Và Nhậu Nhẹt