Ssl: Đặc Điểm Kỹ Thuật Ngữ Nghĩa Ngôn Ngữ

--- Bài mới hơn ---

  • Networking Là Gì? Thuật Ngữ Quan Trọng Bạn Nên Biết
  • Networking Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Networking Trong Marketing Thế Nào?
  • Networking Là Gì? Kỹ Năng Networking Hiệu Quả
  • Networking Là Gì? Thiết Lập Các Mối Quan Hệ Rộng Như Thế Nào Cho Hiệu Quả?
  • Ntp Server Là Gì ? Tổng Quan Về Dịch Vụ Ntp (Network Time Protocol) Đồng Bộ Thời Gian
  • SSL có nghĩa là gì? SSL là viết tắt của Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của SSL được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài SSL, Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    SSL = Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ

    Tìm kiếm định nghĩa chung của SSL? SSL có nghĩa là Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của SSL trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của SSL bằng tiếng Anh: Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, SSL được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ. Trang này là tất cả về từ viết tắt của SSL và ý nghĩa của nó là Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ. Xin lưu ý rằng Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ không phải là ý nghĩa duy chỉ của SSL. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của SSL, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của SSL từng cái một.

    Ý nghĩa khác của SSL

    Bên cạnh Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ, SSL có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của SSL, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Đặc điểm kỹ thuật ngữ nghĩa ngôn ngữ bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Học Ngữ Văn Lớp 9
  • 2Dguru: Những Thuật Ngữ Không Thể Không Biết Trong Anime Và Manga
  • Mashup Là Gì? Khả Năng Lan Tỏa Của Mashup Trong Âm Nhạc Việt?
  • Mashup Là Gì? Nền Âm Nhạc Việt Đã Phát Triển Nhạc Mashup Như Thế Nào?
  • Mashup Là Gì? Cùng Nghe Những Bản Mashup Khiến Người Nghe Mê Mẩn Ngay Từ Lần Đầu Tiên
  • Thuật Toán, Ngôn Ngữ Thuật Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Của Ngôn Ngữ Học
  • Xử Lý Ngôn Ngữ Tự Nhiên: Công Nghệ Giúp Máy Tính Hiểu Và Giao Tiếp Với Con Người
  • Cơ Bản Về Xử Lý Ngôn Ngữ Tự Nhiên Và Ứng Dụng Cho Tiếng Việt
  • Phương Pháp Chứng Từ Kế Toán Trong Hệ Thống Phương Pháp Hạch Toán
  • Chứng Từ Kế Toán Là Gì? Nội Dung Của Chứng Từ Kế Toán
    • Khái niệm thuật toán: là một hệ thống nhất chặt chẽ và rõ ràng các quy tắc nhằm xác định một dãy các thao tác thực hiện trên các đối tượng, bảo đảm sau một số hữu hạn bước sẽ đạt tới mục tiêu đã được định trước.
    • Ví dụ:

    Thuật toán E: (Xác định ước chung lớn nhất của 2 số nguyên dương A và B)

    B1:Nhập A và B.

    B2: Gán m=A và gán n=B

    B3: Chia m cho n (phép chia nguyên). Số dư tìm được là R

    B4: Nếu R=0 thì chuyển tới bước 6

    Nếu R≠0 thì chuyển xuống bước 5

    B5: Gán m=n, n=R. quay về thực hiện bước 3

    B6: thông báo kết quả UCLN (A,B) = n và kết thúc.

    • Các đặc trưng:

    A. Tính dừng: sau một hữu hạn bước, thuật toán phải dừng. Trong ví dụ trên, thuật toán E chắc chắn sẽ dừng sau hữu hạn bước, vì dãy số dư R là các số nguyên dương giảm dần, và như vậy nhất định phải tiến về 0.

    Chú ý do đặc điểm của thao tác điều khiển “thực hiện bước thứ k” cho nên mặc dù số bước mô tả trong thuật toán có thể là hữu hạn , nhưng tính dừng của thuật toán vẫn chưa được đảm bảo.

    B. Tính xác định: ở mỗi bước của thuật toán, các thao tác phải hết sức rõ ràng, không được gây nên sự nhập nhằng, lẫn lộn, tùy tiện, có thể hiểu thế nào cũng được. Nói rõ hơn, nếu trong cùng 1 điều kiện, hai bộ xử lý khác nhau cùng thực hiện 1 bước của thuật toán phải cho những kết quả như nhau.

    C. Tính hiệu quả: Trước hết, thuật toán cần phải đúng đắn, nghĩa là sau khi đưa dữ liệu vào, thuật toán phải hoạt động và sau quá trình thực hiện phải đưa ra kết quả như ý muốn.

    D. Tính phổ dụng: thuật toán có thể giải bất kì một bài toán nào trong các bài toán đang xét. Cụ thể là thuật toán có thể có các đầu vào là các bộ dữ liệu khác nhau trong 1 miền xác định, nhưng luôn phải dẫn đến kết quả mong muốn.

    E. Các yếu tố vào ra: đối với 1 thuật toán, có thể có nhiều đại lượng được đưa vào cũng như nhiều đại lượng sẽ được đưa ra. Các đại lượng được đưa vào hoặc ra được gọi là dữ liệu hoặc ra. Tập hợp các bộ dữ liệu mà thuật toán có thể áp dụng để dẫn tới kết quả gọi là miền xác định của thuật toán. Sau khi dùng thuật toán tùy theo chức năng mà thuật toán đảm nhiệm chúng ta thu được một số dữ liệu xác định

    • Ngôn ngữ thuật toán: Một ngôn ngữ được dùng để mô tả thuật toán được gọi là ngôn ngữ thuật toán. Thuật toán thường được dùng để mô tả bằng một dãy các lệnh. Bộ xử lý sẽ thực hiện các lệnh đó theo một trật tự nhất định cho đến khi gặp lệnh dừng thì kết thúc.

    A. Ngôn ngữ liệt kê từng bước

    Đây là cách dùng ngôn ngữ thông thường liệt kê theo từng bước phải làm của thuật toán.

    – ví dụ giải phương trình bậc 2: ax” + bx +c = 0 (với a khác 0)

    B1: Nhập a,b,c;

    B2: Nếu a=0 quay về bước 1, nếu a khác 0 tính Δ=b”-4ac;

    B3: Nếu Δ<0, kết luận phương trình vô nghiệm và sang bước 6;

    B4: Nếu Δ=0, kết luận phương trình có nghiệm kép, tính theo công thức: x1=x2=-b/2a và sang bước 6;

    Bước 6: kết thúc.

    B. Ngôn ngữ sơ đồ khối:

    Một trong các ngôn ngữ thuật toán có tính trực quan cao, và dễ cho chúng ta nhìn thấy rõ toàn cảnh của quá trình xử lý của thuật toán được tạo lập từ các yếu tố cơ bản sau đây:

    – khối thao tác: hình chữ nhật, ghi lệnh cần thực hiện. có 1 mũi tên vào và 1 tên ra (ví dụ a:=a-b, i:=i-1)

    – khối điều kiện: hình thoi,ghi điều kiện cần kiểm tra, 1 vào và 2 ra (Đ và S)

    -Các mũi tên

    – Khối bắt đầu thuật toán: hình elip có chữ B

    – khối kết thúc thuật toán: hình elip. K

    – khối nối tiếp: hình tròn, ghi số nguyên dương hoặc chữ cái

    C. Ngôn ngữ lập trình:

    Một thuật toán được mô tả dưới 1 ngôn ngữ cụ thể nào đó mà có 1 máy tính hiểu được, được gọi là 1 chương trình. Một ngôn ngữ thuật toán mà máy tính hiểu được, được gọi là ngôn ngữ lập trình.

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Bài Khái Quát Lịch Sử Tiếng Việt
  • Vẻ Đẹp Của Ngôn Ngữ Trong Thơ Ca
  • Bàn Thêm Sự Thần Diệu Của Ngôn Ngữ Thơ
  • Lý Luận Văn Học: Đặc Điểm Ngôn Ngữ Thơ
  • Truyền Thông Và Ngôn Ngữ
  • Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Ngôn Ngữ Bậc Cao (Ngôn Ngữ Thuật Toán)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 10: Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Truyện Ngụ Ngôn Là Gì? Tìm Hiểu Truyện Ngụ Ngôn Việt Nam
  • Ngôn Ngữ Xã Hội Trong Phóng Sự Vũ Trọng Phụng
  • Bản Chất Xã Hội Của Ngôn Ngữ
  • Xử Lí Ngôn Ngữ Tự Nhiên
  • Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Ngôn Ngữ Bậc Cao (ngôn Ngữ Thuật Toán), Truyện Ngôn Tình ý Nghĩa Nhất, Xếp Sách Nghệ Thuật Ngọn Hải Đăng Thuyết Trình, Bài Thuyết Trình Xếp Sách Nghệ Thuật Ngọn Hải Đăng, Thuyết Trình Xeepss Sách Nghệ Thuật Ngọn Hải Đăng, Kỹ Thuật Nấu ăn Ngon, Ngon Ngu Nghe Thuat, Truyện Ngôn Tình Y Thuật, Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Nâng Cao, Ngôn Ngữ Nhật, Ngôn Ngữ Nhật Bản, “nghệ Thuật Dionysos” Như Một Diễn Ngôn Trong Thơ Thanh Tâm Tuyền, Cá ở Biển Nào Ngon Nhất, Hải Sản ở Biển Nào Ngon Nhất, Mực ở Biển Nào Ngon Nhất, Báo Cáo Thực Tập Ngôn Ngữ Nhật, Cá Biển Nào ăn Ngon Nhất, Chủ Nghĩa Mác Và Triết Học Ngôn Ngữ, Tính Đa Nghĩa Của Ngôn Ngữ, Đọc Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, Luận Văn Tốt Nghiệp Ngôn Ngữ Nhật, Top 7 Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, 5 Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Ngành Ngôn Ngữ Nhật, Truyện Ngôn Tình Cổ Đại Hay Nhất, ý Nghĩa Của Truyện Ngôn Tình, ý Nghĩa Từ Vựng Của Kí Hiệu Ngôn Ngữ, ý Nghĩa Truyện Ngôn Tình, Truyện Ngôn Tình Sủng Hay Nhất, Top 5 Truyện Ngôn Tình Sủng Hay Nhất, Truyện Ngôn Tình Hay Nhất Inovel, 60 Tiểu Thuyết Ngôn Tình Hay Nhất, Top 5 Truyện Ngôn Tình Ngược Hay Nhất, Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Ngôn Ngữ Nhật, Tiểu Thuyết Ngôn Tình Hay Nhất, Xem Truyện Tranh Ngôn Tình Hay Nhất, 5 Truyện Ngôn Tình Hiện Đại Hay Nhất, Top 5 Tiểu Thuyết Ngôn Tình Hay Nhất, Nguyên Tố Nào Được Coi Là Ngọn Gió Thần Đối Với Nền Kinh Tế Nhật Bản Sau , ý Nghĩa Của Việc Trích Dẫn 2 Bản Tuyên Ngôn, ý Nghĩa Việc Trích Dẫn 2 Bản Tuyên Ngôn, ý Nghĩa Tuyên Ngôn Độc Lập Của Việt Nam, Chủ Nghĩa Marx Và Triết Học Ngôn Ngưc, Truyện Ngôn Tình Kiếm Hiệp Hay Nhất, Tuyển Tập Truyện Ngôn Tình Trung Quốc Hay Nhất, Truyện Ngôn Tình Xuyên Không Nữ Cường Hay Nhất, Tiểu Thuyết Ngôn Tình Trung Quốc Hay Nhất, Ngôn Ngữ Là Phương Tiện Giao Tiếp Quan Trọng Nhất, Hãy Chứng Minh Ngôn Ngữ Là Phương Tiện Giao Tiếp Quan Trọng Nhất, Ngọn Hải Đăng Vũng Tàu, Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Công Nghệ Thông Tin, Truyện Ngôn Tình Đáng Đọc, Kế Toán Là Ngôn Ngữ Của Kinh Doanh, Kế Toán Là Ngôn Ngữ Kinh Doanh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Mãi Là Ngọn Cờ Quy Tụ Sức Mạnh Toàn Dân Tộc, Tiểu Luận Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, Nghị Định Phát Ngôn, Truyện Ngôn Tình 7 Đêm Định Mệnh, Hãy Chứng Minh Nhận Định Sách Là Ngọn Đèn Sáng Bất Diệt, Quy Phạm Kỹ Thuật An Toàn Trong Xây Dựng Mới Nhất, Tiểu Luận Dẫn Luận Ngôn Ngữ Ngôn Ngữ Là Gì, ở Người Gen Quy Định Tật Dính Ngón Tay, Thông Tư 183/2017 Về Quy Định Phát Ngôn Cung Cấp Thông Tin Báo Chí, Định Nghĩa Độc Nhất Vô Nhị, Định Nghĩa ước Chung Lớn Nhất, Định Nghĩa Hình Chữ Nhật, Định Nghĩa 5s Tiếng Nhật, Định Nghĩa Nào Đúng Nhất Về Đơn Vị Byte, Định Nghĩa Nào Đúng Nhất Về Ancol, Định Nghĩa Phương Trình Bậc Nhất Hai ẩn, Định Nghĩa Phương Trình Bậc Nhất Một ẩn, Ngôn Ngữ Hàn, Ngôn Ngữ Học , Bài Thơ 10 Ngón Tay, “ngôn Ngữ Cơ Thể”, Ngôn Ngữ Cơ Thể Khi Yêu, Yêu Cầu Ngôn Ngữ Văn Bản, Ngôn Ngữ Anh, Ngôn Ngữ Là Gì, Ngôn Ngữ Báo Chí, Ngôn Ngữ Cơ Thể, Ngón Cái, Thất Vận Ngôn, Bí Mật Ngôn Ngữ Cơ Thể, Định Nghĩa Nào Đúng Và Đầy Đủ Nhất Về Nhiên Liệu, Định Nghĩa Nào Về ô Nhiễm Môi Trường Là Đúng Nhất, Định Nghĩa Nào Dưới Đây Mô Tả Chính Xác Nhất Nợ Quốc Gia, Định Nghĩa Nào Dưới Đây Về Vi Phạm Pl Là Đúng Nhất, Định Nghĩa Nào Sau Đây Đầy Đủ Và Đúng Nhất Về Hạnh Phúc, Định Nghĩa Nào Về Thực Tiễn Sau Đây Là Đầy Đủ Và Chính Xác Nhất, Quyết Định An Toàn Phẫu Thuật, Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Đáp án 35 Câu Hỏi Bài Tập Dẫn Luận Ngôn Ngữ, Văn Mẫu Lớp 12 Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Anh Đại Học Hà Nội,

    Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Ngôn Ngữ Bậc Cao (ngôn Ngữ Thuật Toán), Truyện Ngôn Tình ý Nghĩa Nhất, Xếp Sách Nghệ Thuật Ngọn Hải Đăng Thuyết Trình, Bài Thuyết Trình Xếp Sách Nghệ Thuật Ngọn Hải Đăng, Thuyết Trình Xeepss Sách Nghệ Thuật Ngọn Hải Đăng, Kỹ Thuật Nấu ăn Ngon, Ngon Ngu Nghe Thuat, Truyện Ngôn Tình Y Thuật, Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Bài Giảng Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Nâng Cao, Ngôn Ngữ Nhật, Ngôn Ngữ Nhật Bản, “nghệ Thuật Dionysos” Như Một Diễn Ngôn Trong Thơ Thanh Tâm Tuyền, Cá ở Biển Nào Ngon Nhất, Hải Sản ở Biển Nào Ngon Nhất, Mực ở Biển Nào Ngon Nhất, Báo Cáo Thực Tập Ngôn Ngữ Nhật, Cá Biển Nào ăn Ngon Nhất, Chủ Nghĩa Mác Và Triết Học Ngôn Ngữ, Tính Đa Nghĩa Của Ngôn Ngữ, Đọc Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, Luận Văn Tốt Nghiệp Ngôn Ngữ Nhật, Top 7 Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, 5 Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, Truyện Ngôn Tình Hay Nhất, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Ngành Ngôn Ngữ Nhật, Truyện Ngôn Tình Cổ Đại Hay Nhất, ý Nghĩa Của Truyện Ngôn Tình, ý Nghĩa Từ Vựng Của Kí Hiệu Ngôn Ngữ, ý Nghĩa Truyện Ngôn Tình, Truyện Ngôn Tình Sủng Hay Nhất, Top 5 Truyện Ngôn Tình Sủng Hay Nhất, Truyện Ngôn Tình Hay Nhất Inovel, 60 Tiểu Thuyết Ngôn Tình Hay Nhất, Top 5 Truyện Ngôn Tình Ngược Hay Nhất, Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Ngôn Ngữ Nhật, Tiểu Thuyết Ngôn Tình Hay Nhất, Xem Truyện Tranh Ngôn Tình Hay Nhất, 5 Truyện Ngôn Tình Hiện Đại Hay Nhất, Top 5 Tiểu Thuyết Ngôn Tình Hay Nhất, Nguyên Tố Nào Được Coi Là Ngọn Gió Thần Đối Với Nền Kinh Tế Nhật Bản Sau , ý Nghĩa Của Việc Trích Dẫn 2 Bản Tuyên Ngôn, ý Nghĩa Việc Trích Dẫn 2 Bản Tuyên Ngôn, ý Nghĩa Tuyên Ngôn Độc Lập Của Việt Nam, Chủ Nghĩa Marx Và Triết Học Ngôn Ngưc, Truyện Ngôn Tình Kiếm Hiệp Hay Nhất, Tuyển Tập Truyện Ngôn Tình Trung Quốc Hay Nhất,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuần 25. Đặc Điểm Loại Hình Của Tiếng Việt
  • Ngôn Ngữ Và Tiếng Việt Từ Cách Tiếp Cận Của Lôgic Học
  • Bài 3: Ngôn Ngữ Và Nhận Thức
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Học Ứng Dụng Khai Niem Ngon Ngu Hoc Ung Dung Doc
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Của Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Tuần 5. Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

    I. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

    Ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn học) là ngôn ngữ gợi tình, gợi cảm được dùng trong văn thơ, được chia thành ba loại:

    – Ngôn ngữ tự sự

    – Ngôn ngữ thơ

    – Ngôn ngữ sân khấu.

    Ngôn ngữ nghệ thuật chủ yếu thực hiện chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp và khơi gợi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ nơi người đọc, người nghe.

    II. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

    1. Tính hình tượng

    Để tạo ra hình tượng ngôn ngữ, người viết thường dùng rất nhiều phép tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh…

    Ngôn ngữ nghệ thuật có tính đa nghĩa và hàm súc.

    2. Tính truyền cảm

    Tính truyền cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ làm cho người nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích như chính người nói (viết). Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc về vẻ đẹp vô hình mà tưởng như hiển hiện trước mắt.

    3. Tính cá thể hóa

    Ngôn ngữ nghệ thuật khi sử dụng có khả năng thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng. Giọng thơ Tố Hữu không giống giọng thơ Chế Lan Viên, giọng thơ Xuân Diệu, giọng thơ Huy Cận. Sự khác nhau về ngôn ngữ làở cách dùng từ, cách đặt câu và ở hình ảnh, bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết.

    Tính cá thể hóa còn biểu lộ ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật; ở nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm.

    LUYỆN TẬP

    Bài tập 1

    Để tạo ra tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật có các phép tu từ thường được sử dụng như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh.

    Ví dụ: “Cầu cong như chiếc lược ngà. Sông dài mái tóc cung nga buônghờ” (phép so sánh),

    hay “Rơm bọc tôi như kén bọc tằm

    Tôi thao thức trong hương mật ong của lúa Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm Của những cọng rơm xơ xác, gầy gò”.

    (Nguyễn Duy)

    (nhiều phép tu từ).

    Bài tập 2

    Trong ba đặc trưng (tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể hóa) đặc trưng tính hình tượng chính là đặc trưng tiêu biểu, bởi vì đây chính là phương tiện và cũng là mục đích sáng tạo nghệ thuật. Hơn nữa, trong hình tượng ngôn ngữ đã có những yếu tố gây cảm xúc và truyền cảm. Sau này, cách chọn lọc từ ngữ, sử dụng câu để xây dựng hình tượng nghệ thuật thể hiện cá tính sáng tạo nghệ thuật.

    Bài tập 3

    a. Từ canh cánh.

    b. Từ vãi (dòng 3), từ giết (dòng 4).

    Bài tập 4

    Có thể thấy nét riêng của ba đoạn thơ đó ở các phương diện: hình tượng, cảm xúc và ngôn ngữ.

    – Hình tượng: Thơ Nguyễn Khuyến: bầu trời bao la, trong xanh, tĩnh lặng, nhẹ nhàng. Thơ Lưu Trọng Lư: âm thanh xào xạc của lá vàng lúc chuyển mùa. Thơ Nguyễn Đình Thi: sức hồi sinh của dân tộc trong mùa thu.

    – Cảm xúc: Nguyễn Khuyến trong sáng, tĩnh lặng; Lưu Trọng Lư bâng khuâng với sự thay đổi nhẹ nhàng; Nguyễn Đình Thi cảm nhận sự hồi sinh của dân tộc trong mùa thu đất nước.

    – Từ ngữ: Nguyễn Khuyến: chỉ mức độ về khoảng cách, màu sắc, trạng thái hoạt động; Lưu Trọng Lư: âm thanh gợi cảm xúc; Nguyễn Đình Thi: miêu tả trực tiếp hình ảnh và cảm xúc.

    Ba nét riêng của ba phong cách thơ:

    Mai Thu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học
  • Bài 1: Đặc Trưng Chung Và Hình Thức Ngôn Ngữ Biểu Hiện Khái Niệm
  • Phân Loại Các Loại Hình Ngôn Ngữ
  • Phần I : Mỹ Thuật Là Gì ? Ngôn Ngữ Riêng Của Hội Họa Mỹ Thuật
  • Tuần 31. Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính
  • Ngôn Ngữ Báo Chí Có Gì Khác So Với Ngôn Ngữ Văn Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí (Tiếp Theo)
  • Ngôn Ngữ Học Và Văn Chương
  • Language Variations – Biến Thể Trong Tiếng Anh
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Lập Trình
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận
  • 1. Khái niệm ngôn ngữ báo chí

    Ngôn ngữ báo chí hiểu đơn giản là việc sử dụng từ ngữ để đưa thông tin các sự kiện tới người đọc. Trong nguyên tắc của ngôn ngữ trong báo chí, người viết (người đưa tin) phải viết một cách trung tính (không để cảm xúc cá nhân lấn át), nhằm đưa đúng, đủ và trung thực về thông tin .

    Để xác định đâu là ngôn ngữ báo chí được thể hiện, người ta dựa vào cách viết của người đưa tin: cách dùng từ ngữ, cách đưa thông tin có chính xác hay không? Cụ thể, một bài báo chuẩn phải sử dụng từ ngữ đúng chính tả, câu cú rõ ràng, đúng và đủ ý. Bên cạnh đó, yêu cầu của ngôn ngữ trong báo chí phải gãy gọn, súc tích, không lan man, văn vẻ…

    Ngôn ngữ báo chí hiểu đơn giản là việc sử dụng từ ngữ để đưa thông tin các sự kiện tới người đọc. Ảnh Internet

    Ngôn ngữ báo chí hiểu đơn giản là việc sử dụng từ ngữ để đưa thông tin các sự kiện tới người đọc. Ảnh Internet

    2. Ngôn ngữ báo chí có gì khác với các thể loại khác?

    Khi so sánh ngôn ngữ báo chí với ngôn ngữ văn học chúng ta sẽ thấy sự khác biệt cơ bản như sau.

    Ngôn ngữ báo chí viết chỉ có một nghĩa đen duy nhất: Vì báo chí là đưa tin, nên ngôn ngữ phải dễ hiểu, đúng nghĩa nhất để người đọc biết thông tin như “nó vốn có”. Trong khi đó, với ngôn ngữ văn học, thì một câu văn có thể có nhiều nghĩa (nghĩa đen, nghĩa bóng), tùy vào trí tưởng tượng của độc giả. Trong báo chí, việc viết “nhiều tầng nghĩa” là điều cấm kỵ tuyệt đối.

    Ngôn ngữ báo chí ngắn gọn, không vòng vo: Khác với các thể loại ngôn ngữ khác, ngôn ngữ trong báo chí yêu cầu ngắn gọn, đầy đủ ý chính, thời gian, địa điểm… để cung cấp thông tin nhanh nhất cho bạn đọc. Một số tin tức báo chí loại tin vắn chỉ vài chục chữ, nên nhà báo phải viết càng ngắn càng tốt. Ngôn ngữ viết báo vì thế tránh vòng vo, chuyện này xọ chuyện kia, lan man…

    Ngôn ngữ báo chí chỉ có một nghĩa đen duy nhất. Ảnh Internet

    Ngôn ngữ báo chí chỉ có một nghĩa đen duy nhất. Ảnh Internet

    3. Các yêu cầu của một bài viết đạt chuẩn ngôn ngữ báo chí

    Mặc dù có rất nhiều yêu cầu trong việc sử dụng ngôn ngữ báo chí, nhưng tựu trung có thể đề cập 3 yêu cầu sau đây.

    3.1. Không sai lỗi chính tả

    Nghề viết không được sai lỗi chính tả là điều đương nhiên. Nhưng trong ngôn ngữ báo chí, lỗi chính tả trở thành yêu cầu cao nhất, bởi sai một chữ có thể dẫn đến sai thông tin, và hậu quả khôn lường. 

    Hiện nay, các tòa soạn báo đều có bộ phận “đọc bản bông” trước khi đem đi in. Công việc này chính xác là kiểm tra lỗi chính tả, xem sai sót ở đâu thì phải sửa ngay. Bởi một bài báo sau khi in mà sai lỗi chính tả sẽ không còn cách sửa nào khác, bị bạn đọc đánh giá thấp. Chưa kể đến những hậu quả khác như bị kiện, bị đình bản…

    Người viết báo bên cạnh học nghiệp vụ lấy tin, khai thác đề tài thì luôn được yêu cầu viết đúng chính tả. Ở các tòa soạn, đội ngũ biên tập viên rất “kỵ” phóng viên viết sai chỉnh tả, xem đó là việc “không thể chấp nhận”. Bởi nghề báo phụng sự sự thật, viết sai chính tả có thể dẫn đến sự thật bị méo méo, rất nguy hiểm.

    Ngôn ngữ báo chí phải chính xác về mặt chính tả. Ảnh Internet

    Ngôn ngữ báo chí phải chính xác về mặt chính tả. Ảnh Internet

    3.2. Ngôn ngữ đi thẳng vào vấn đề

    Người đọc báo chỉ quan tâm đến nội dung chính, vì thế người viết báo phải đi thẳng vào vấn đề ngay từ phần tiêu đề. Đây thực chất là nhiệm vụ của nghề báo: cung cấp thông tin nhanh và đúng với bạn đọc. Riêng ở thể loại tin tức, độ dài bài viết đôi khi chỉ tầm 200 chữ kèm ảnh, nên càng không “đủ đất” để người viết “cà kê rau muống”. 

    Ví dụ cụ thể, trong tin tức về một vụ nổ súng xảy ra. Người viết đến hiện trường thực hiện bài viết cần đủ các thông tin chính như: Ai nổ súng? Nổ súng vào ai? Nổ súng ở đâu, thời gian nào? Tình hình thương vong hiện tại như thế nào? Thiệt hại khác ra sao? Đó là những thông tin mà người đọc cần biết nhất, phải đáp ứng ngay và luôn.

    Ngôn ngữ báo chí đi thẳng vào vấn đề. Ảnh Internet

    Ngôn ngữ báo chí đi thẳng vào vấn đề. Ảnh Internet

    3.3. Viết báo tránh kể lể

    Để tránh việc lan man, yêu cầu của ngôn ngữ trong việc viết báo phải đặt thông tin chính ngay từ đầu tiêu đề. Bạn đọc chỉ cần đọc tiêu đề và phần giới thiệu sau đó là đủ nắm được thông tin cần biết nhất. Hiện nay, điều này chỉ thấy trên báo in, trong khi đó báo điện tử có nhiều cách “giật tít” gây khó hiểu, và cố tình “giấu thông tin” để bạn đọc “nhấp chuột”, câu view. Điều này sẽ chúng tôi sẽ đề cập ở bài viết sau.

    Ngôn ngữ báo chí không kể lể vòng vo. Ảnh Internet

    Ngôn ngữ báo chí không kể lể vòng vo. Ảnh Internet

    Một cách tóm gọn, ngôn ngữ trong báo chí phải thực sự chuẩn thì mới được nhiều người đọc đón nhận, quan tâm. Tuy nhiên, trong thời đại mới, ngôn ngữ trong báo chí (đặc biệt là báo điện tử) cũng có những đổi thay nhất định. Một số kênh thông tin đang “chệch” ra khỏi xu hướng ngôn ngữ báo chí chuẩn, viết theo lối lan man, kể lể, gây sốc nhằm câu view. Tuy nhiên, nói đúng đủ và cơ bản nhất, viết báo phải chuẩn, phải riêng biệt, không được trộn lẫn với các thể loại ngôn ngữ khác. Thế mới biết, viết báo khó, và không phải mọi bài viết đăng trên báo chí đều xứng đáng gọi là đúng ngôn ngữ của báo chí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì, Các Loại Ngôn Ngữ Lập Trình Hiện Nay
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì? Phân Loại Các Ngôn Ngữ Lập Trình Cơ Bản
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì? 10 Ngôn Ngữ Phổ Biến Và 5 Công Dụng
  • Máy Biến Áp Là Gì ? Nguyến Lý Hoạt Động Và Các Kiến Thức Liên Quan Khác
  • Máy Biến Áp Tăng Áp
  • Ngôn Ngữ C++ Là Gì? Ứng Dụng Của Ngôn Ngữ C++

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Tôi Chọn C++ Là Ngôn Ngữ Lập Trình Chính
  • Bài 2: Biến Và Kiểu Dữ Liệu Trong C
  • Nhập Xuất Cơ Bản Trong C/c++
  • Hai Anh Em Typedef Và Define Trong C++
  • Cấu Trúc Rẽ Nhánh Switch … Case Trong Ngôn Ngữ C++
  • Ngôn ngữ C++ là gì? Học C++ bạn có thể làm được gì? Đây là những câu hỏi rất cơ bản và có thể nhiều bạn đã biết câu trả lời. Nhưng liệu bạn đã thực sự hiểu được bản chất của vấn đề ở đây? Bằng việc có câu trả lời cho các câu hỏi này, bạn sẽ biết được rằng bạn có nên học lập trình C++ hay không.

    Ngôn ngữ C++ là gì?

    Ngôn ngữ lập trình C++ là một ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng(OOP – Object-oriented programming) được phát triển bởi Bjarne Stroustrup. C++ là ngôn ngữ lập trình được phát triển trên nên tảng của ngôn ngữ lập trình C. Do đó, C++ có song song cả 2 phong cách(style) lập trình hướng cấu trúc giống C và có thêm phong cách hướng đối tượng. Trong nhiều trường hợp, C++ sử dụng kết hợp cả 2 style trên. Do đó, nó được xem là một ngôn ngữ “lai tạo”.

    Ngôn ngữ C++ là một ngôn ngữ lập trình cấp trung. Bởi vì nó có các tính chất của cả ngôn ngữ lập trình bậc thấp(Pascal, C…) và ngôn ngữ lập trình bậc cao(C#, Java, Python…).

    Ngôn ngữ lập trình C++(C plus plus) có đuôi mở rộng là .cpp

    Bạn đã hiểu ngôn ngữ lập trình C++ là gì chưa nào? Bây giờ là một câu hỏi thú vị dành cho bạn.

    Tại sao lại có tên là C++ mà không phải tên khác?

    Chú ý: Đây là một câu hỏi mang tính chất giải trí nhiều hơn.

    Ngôn ngữ lập trình C++ được phát triển triển dựa trên ngôn ngữ C. Vậy tại sao lại là “C++”(2 dấu cộng) mà không phải là C+(1 dấu cộng)? Một câu trả lời mà mình thấy hợp lý nhất đó là:

    C++, tương đương với C = C + 1. Bởi vì “++” là toán tử 1 ngôi trong ngôn ngữ lập trình C/C++

    Ví dụ bài toán tính tổng 2 số nguyên trong C++

    Ứng dụng của ngôn ngữ C++

    Vai trò đặc biệt quan trọng của bộ đôi 2 ngôn ngữ lập trình C và C++ là phục vụ cho học lập trình cơ bản. Bởi vì đây là một ngôn ngữ lập trình bậc trung. Hầu hết các trường đào tạo công nghệ thông tin ở Việt Nam đều dùng 2 ngôn ngữ này làm môn cơ sở ngành.

    Môn lập trình C giúp bạn có nền tảng với kỹ thuật lập trình, các kiến thức cơ bản và tư duy lập trình. Một lập trình C++ cung cấp kiến thức về lập trình hướng đối tượng. Cả 2 ngôn ngữ này cũng được sử dụng để học các môn học về cấu trúc dữ liệu và giải thuật.

    Nếu bạn có kiến thức tốt về 2 ngôn ngữ này, thêm với kiến thức về cấu trúc dữ liệu và giải thuật. Việc học các kiến thức lập trình mới của bạn sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Kiến thức mới ở đây có thể là công nghệ mới, ngôn ngữ lập trình mới,…

    Các công ty lớn có dùng C++ không?

    Hình ảnh trên được lấy từ trang Wikipedia thống kê các ngôn ngữ lập trình được sử dụng trên các website lớn của thế giới.

    Như bạn thấy, C++ được rất nhiều website lớn sử dụng ở phía server. Bởi vì C++ là một ngôn ngữ lập trình có hiệu năng cực kỳ tốt. C++ cho tốc độ xử lý nhanh hơn rất nhiều các ngôn ngữ lập trình bậc cao.

    Các ứng dụng của ngôn ngữ lập trình C++

    Đối với các ứng dụng, bài toán yêu cầu hiệu năng cao; tiết kiệm bộ nhớ thì C++ là một lựa chọn tuyệt vời. Đồng thời, C++ vẫn có tính chất hướng đối tượng giúp dễ dàng bảo trì và nâng cấp.

    Thế sao không dùng C++ cho tất cả các bài toán đi?

    C++ có hiệu năng cao thật đấy. Tuy nhiên, so với các ngôn ngữ lập trình cấp cao thì C++ khó sử dụng hơn nhiều. Sự hỗ trợ của C++ không nhiều và yêu cầu lập trình viên phải kiểm soát ở mức thấp. Do đó, với các bài toán không yêu cầu hiệu năng, sử dụng các ngôn ngữ lập trình bậc cao sẽ đơn giản hơn mà vẫn đáp ứng được yêu cầu.

    Các cụ vẫn có câu chế nhạo: “Dùng dao mổ trâu để giết gà” đấy thôi.

    Games

    C++ là sự lựa chọn tốt để phát triển các nền tảng game 3D. Cho phép tối ưu hóa việc quản lý tài nguyên và mượt mà trong nền tảng nhiều người chơi trên cùng mạng – multi-player. C++ cho phép can thiệp sâu vào CPU cũng như phần cứng. Đó cũng là yếu tố quan trọng trong việc phát triển các game engines.

    Ứng dụng có giao diện người dùng(GUI)

    Có rất nhiều ứng dụng giao diện mà phía sau nó được viết bằng C++. Một số ứng dụng phổ biến có thể kể tới là: Image Ready, Adobe Premier, Photoshop và Illustrator.

    Trình duyệt web

    Tốc độ và độ tin cậy là yếu tố cần phải có với các trình duyệt web. Khi đó, C++ sẽ là ngôn ngữ được ưu tiên sử dụng. Một phần của trình duyệt Google chrome và một số web browsers mã nguồn mở như Moliza Firefox, ứng dụng email Mozilla Thunderbird có sự đóng góp của ngôn ngữ C++.

    Ứng dụng tính toán và đồ họa

    Ngôn ngữ lập trình C++ cho phép triển khai các ứng dụng đòi hỏi yếu tố thời gian thực. Chẳng hạn như các ứng dụng mô phỏng 3D, xử lý hình ảnh hiệu năng cao hay các ứng dụng cảm biến trên thiết bị di động. Hay các ứng dụng xử lý, mô phỏng 3D, hiệu ứng và hoạt ảnh đều được xây dựng bằng C++.

    Phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu

    C và C++ được sử dụng cho hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySQL. Đây là một trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu phổ biến nhất. Nó là xương sống cho nhiều phần mềm của các doanh nghiệp lớn như Google, Yahoo, Youtube, Wikipedia,…

    Hệ điều hành

    C++ là một phần không thể thiếu trong nhiều hệ điều hành phổ biến như Apple OSX và MS Windows.

    Phần mềm doanh nghiệp

    C++ thường được sử dụng trong các ứng dụng lớn của các doanh nghiệp. Nơi mà yêu tố hiệu năng và tốc độ luôn được đặt lên hàng đầu.

    Trình biên dịch

    Một loạt các trình biên dịch bao gồm Apple C++, Bloodshed Dev-C++, Clang C++ và MINGW make đều sử dụng ngôn ngữ lập trình C++. Không chỉ vậy, C và C++ còn là ngôn ngữ nền tảng hỗ trợ xây dựng các ngôn ngữ lập trình mới như C#, Java, PHP, Verilog,…

    Kết luận

    Như vậy, bài viết này đã cung cấp cho bạn câu trả lời hợp lý nhất cho câu hỏi lập trình C++ là gì. Mình cũng đã trình bày các ứng dụng của ngôn ngữ lập trình C++. Qua đây, hi vọng rằng các bạn đã tìm được câu trả lời cho lập trình C++ là gì. Qua đó để thấy được tầm quan trọng của việc học lập trình căn bản cũng như học lập trình C/C++ để phục vụ cho công việc trong tương lai.

    Tài liệu tham khảo

    . https://www.techopedia.com/definition/26184/c-programming-language

    Sáng lập cộng đồng Lập Trình Không Khó với mong muốn giúp đỡ các bạn trẻ trên con đường trở thành những lập trình viên tương lai. Tất cả những gì tôi viết ra đây chỉ đơn giản là sở thích ghi lại các kiến thức mà tôi tích lũy được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Template Classes Trong C++ ” Cafedev.vn
  • Bài 9: Lớp Lưu Trữ (Storage Classes) Trong C++
  • Chuỗi Là Gì? Hàm Nhập Xuất Chuỗi Trong C/c++
  • Kiểu Ký Tự Trong C++ (Character)
  • Cách Sử Dụng “const” Trong C++
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Ngôn Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Của Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Tuần 5. Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học 14 Doc
  • Để lý giải cho mình câu hỏi ấy, xin hãy tự đặt ra một nhiệm vụ tầm thường thế này. Chúng ta hãy lựa chọn các văn bản sau đây: nhóm I: tranh của Delacroix, trường ca của Byron, giao hưởng của Berlioz; nhóm II: trường ca của Mickiewicz, kịch dương cầm của Chopin; nhóm III: các văn bản thơ của Derzavin, quần thể kiến trúc của Bazenov. Bây giờ thử đặt ra mục đích hệt như nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về lịch sử văn hoá vẫn thường làm: quy các văn bản về những biến thể của một loại hình bất biến nào đó để trình bầy chúng theo nội bộ mỗi nhóm như một văn bản. Loại hình bất biến với nhóm thứ nhất sẽ là “chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu”, với nhóm thứ hai: “chủ nghĩa lãng mạn Ba Lan”, với nhóm thứ ba: “tiền lãng mạn chủ nghĩa Nga”. Tất nhiên, cũng có thể đặt ra nhiệm vụ miêu tả cả 3 nhóm như một văn bản duy nhất bằng cách vận dụng mô hình trừu tượng của cái bất biến ở cấp độ thứ hai.

    Nếu đặt cho mình nhiệm vụ như vậy, thì dĩ nhiên chúng ta buộc phải lựa chọn một hệ thống giao tiếp nào đó, tức là chọn một “ngôn ngữ”, trước tiên là dành cho từng hệ thống, và sau đó là đồng thời dành cho cả ba hệ thống nói trên. Chúng ta giả định việc miêu tả các hệ thống ấy được tiến hành bằng tiếng Nga. Hiển nhiên là trong trường hợp này, tiếng Nga sẽ có chức năng như một siêu ngữ được sử dụng để miêu tả (tạm gác sang một bên sự sai lệch của việc miêu tả như vậy, bởi vì dưới sự tác động của siêu ngôn ngữ, đối tượng tất yếu sẽ bị mô hình hoá), nhưng bản thân cái “ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa” được miêu tả (hay bất kỳ một loại ngôn ngữ chuyên ngành nào đó tương ứng với ba nhóm đã nói ở trên) không thể đồng nhất với một loại ngôn ngữ tự nhiên nào, vì nó sẽ được dùng để miêu tả các văn bản phi lời. Tuy nhiên, mô hình ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa mà ta có được bằng cách trên sẽ được ứng dụng vào các tác phẩm văn học và ở một cấp độ nào đó, nó có thể mô tả hệ thống cấu trúc của chúng (ở cấp độ chung cho cả các văn bản ngôn từ và văn bản phi ngôn từ).

    Nhưng cần phải xét xem những cấu trúc được tạo ra bên trong các tổ chức nghệ thuật ngôn từ và không thể mã hoá bằng ngôn ngữ của các nghệ thuật phi lời có quan hệ thế nào với ngôn ngữ tự nhiên?

    Văn học nghệ thuật nói bằng một ngôn ngữ đặc biệt, loại ngôn ngữ được kiến tạo chồng lên bên trên ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống thứ sinh. Vì thế, người ta xem nó là hệ thống mô hình hoá thứ cấp. Dĩ nhiên, văn học không phải là hệ thống mô hình hoá thứ cấp duy nhất, và nếu dừng lại để nghiên cứu nó theo hướng này, chúng ta sẽ đi trệch ra ngoài nhiệm vụ trực tiếp của mình.

    Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học có một hệ thống ký hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các ký hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng các phương tiện khác. Xin thử chứng minh.

    Có thể dễ dàng chia tách các ký hiệu, tức là dễ dàng chia tách những đơn vị văn bản ổn định, bất biến, và các quy tắc tổ chức ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên. Ký hiệu được chia tách rõ rệt thành các bình diện nội dung và biểu hiện, quan hệ giữa chúng là quan hệ tự do, không ràng buộc lẫn nhau, là quan hệ chịu sự ước định của lịch sử. Trong văn bản nghệ thuật ngôn từ, các ký hiệu không chỉ có ranh giới khác, mà bản thân khái niệm ký hiệu cũng rất khác.

    Chúng tôi đã từng viết, rằng ký hiệu trong nghệ thuật có đặc tính hình tượng, tạo hình, chứ không mang tính ước lệ giống như trong ngôn ngữ. Luận điểm hoàn toàn hiển nhiên với các nghệ thuật tạo hình này khi vận vào nghệ thuật ngôn từ sẽ kéo theo hàng loạt kết luận quan trọng. Các ký hiệu tạo hình được kiến tạo theo nguyên tắc ràng buộc lẫn nhau giữa biểu hiện và nội dung. Do đó rất khó phân định các bình diện nội dung và biểu hiện theo ý nghĩa thông thường của ngôn ngữ học cấu trúc. Ký hiệu mô hình hoá nội dung của nó. Thay vì phân định ngữ nghĩa rạch ròi, ở đây chỉ có sự bện kết phức tạp: yếu tố ngữ đoạn ở cấp độ này trong trình tự thứ bậc của văn bản hoá ra lại là yếu tố ngữ nghĩa ở cấp độ khác.

    Nhưng ở đây cũng cần nhớ, rằng chính những yếu tố ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên luôn vạch ra ranh giới của các ký hiệu và chia tách văn bản thành các đơn vị ngữ nghĩa. Xoá bỏ cặp đối lập “ngữ nghĩa – cú pháp” sẽ làm mờ ranh giới của ký hiệu. Nói: tất cả các yếu tố của văn bản thực chất đều là các yếu tố ngữ nghĩa – cũng tức là nói: trong trường hợp này, khái niệm văn bản đồng nhất với khái niệm ký hiệu.

    Ở một phương diện nào đó, vấn đề đúng là như vậy: văn bản là một ký hiệu toàn vẹn, và trong đó, tất cả các ký hiệu riêng lẻ của văn bản bằng ngôn ngữ chung đều quy về cấp độ các yếu tố của ký hiệu. Bởi vậy, mỗi một văn bản nghệ thuật là một ký hiệu cấu trúc độc nhất vô nhị, ad hoc[1] của một nội dung đặc biệt. Thoạt nghe, điều này có vẻ như mâu thuẫn với luận điểm ai cũng biết, theo đó, chỉ những yếu tố thường xuyên lặp lại tạo thành một tập hợp khép kín nào đó mới có khả năng truyền đạt thông tin. Nhưng mâu thuẫn ở đây chỉ mang tính bề ngoài. Thứ nhất, như chúng tôi đã chỉ ra, cấu trúc ngẫu nhiên của mô hình do nhà văn sáng tạo ra được áp đặt cho người đọc như ngôn ngữ nhận thức của anh ta. Tính ngẫu nhiên được thay thế bằng tính phổ quát. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ký hiệu “độc nhất vô nhị” hoá ra là ký hiệu được “tập hợp” từ những yếu tố mang tính loại hình và ở một cấp độ nào đó nó vẫn được đọc theo những quy tắc truyền thống, quen thuộc. Mọi tác phẩm cách tân đều được xây dựng bằng chất liệu truyền thống. Nếu văn bản không lưu giữ cho ký ức những cấu trúc truyền thống, thí sự cách tân của nó sẽ không được tiếp nhận.

    Văn bản tạo ra một ký hiệu cũng chính là một văn bản (trình tự các ký hiệu) được viết bằng một ngôn ngữ tự nhiên nào đó và nhờ thế mà nó vẫn duy trì được sự phân bố thành các từ – ký hiệu của hệ thống ngôn ngữ chung. Cho nên mới nẩy sinh hiện tượng mang tính đặc thù của riêng nghệ thuật, theo đó, cùng một văn bản, nếu áp vào những bộ mã khác nhau, nó sẽ rã ra thành những ký hiệu theo một cách khác nhau.

    Có một quá trình đầy mâu thuẫn diễn ra đồng thời với sự chuyển hoá của các ký hiệu ngôn ngữ chung thành các yếu tố của một ký hiệu nghệ thuật. Được đặt vào cùng dẫy với một số lặp lại theo sự điều chỉnh, các yếu tố ký hiệu trong hệ thống ngôn ngữ tự nhiên – các âm vị, hình vị – được ngữ nghĩa hoá và trở thành các ký hiệu. Bởi vậy, cùng một văn bản, người ta vừa có thể đọc như một chuỗi ký hiệu được tổ chức theo quy tắc của ngôn ngữ tự nhiên, vừa có thể đọc như một trình tự các ký hiệu tương đối lớn hơn so với sự chia tách văn bản thành các từ, cho tới tận biến văn bản thành một ký hiệu duy nhất, lại cũng vừa có thể đọc như một chuỗi các ký hiệu được tổ chức theo kiểu đặc biệt, tương đối nhỏ hơn so với từ, cho tới tận âm vị.

    Sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng, sự hợp nhất các ranh giới của ký hiệu với ranh giới của văn bản sẽ xoá bỏ vấn đề cấu trúc ngữ đoạn. Văn bản được khảo sát theo cách ấy có thể tách ra thành các ký hiệu và được tổ chức phù hợp về mặt ngữ đoạn. Nhưng cái đó sẽ không phải là tổ chức ngữ đoạn của chuỗi dây chuyền, mà là tổ chức ngữ đoạn của thứ bậc: các ký hiệu sẽ gắn kết với nhau giống như những con búp bê – Matryoshka, con này được đặt trong lòng con kia.

    Kiểu tổ chức ngữ đoạn như vậy hoàn toàn mang tính thực tế đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật, và nếu nó tỏ ra xa lạ với nhà ngôn ngữ học thì nhà lịch sử học lại dễ dàng tìm thấy sự lặp lại của nó ví như trong cấu trúc thế giới được nhìn bằng đôi mắt của thời trung đại.

    Với nhà tư tưởng thời trung đại, thế giới không phải là tổng thể các bản chất, mà là bản chất, không phải là câu văn, mà là một từ. Nhưng từ ấy được cấu tạo bằng những từ riêng lẻ theo trật tự đẳng cấp, tựa như từ này đặt trong từ kia. Chân lý không nằm ở sự tích luỹ số lượng, mà ở sự đào sâu (không cần đọc nhiều sách, tức là nhiều từ, mà chỉ cần chăm chú vào một từ, không tích luỹ tri thức mới, mà chỉ luận bàn tri thức cũ).

    Từ những gì đã nói có thể rút ra, dù có cơ sở ở ngôn ngữ tự nhiên, nhưng nghệ thuật ngôn từ chỉ dựa vào đó để cải tạo nó thành ngôn ngữ của mình, ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ nghệ thuật. Mà bản thân ngôn ngữ nghệ thuật là một trật tự đẳng cấp phức tạp của nhiều ngôn ngữ có quan hệ tương tác với nhau, nhưng không giống nhau. Đây là lý do giải thích vì sao với một văn bản nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại rất nhiều cách đọc. Đó cũng chính là cơ sở tạo nên sự bão hoà ý nghĩa nghệ thuật mà không một một thứ ngôn ngữ phi nghệ thuật nào khác có thể đạt được. Nghệ thuật là phương thức lưu trữ và chuyển tải thông tin được nén chặt và tiết kiệm nhất. Nhưng nghệ thuật cũng sở đắc những phương tiện khác rất đáng được các chuyên gia – điều khiển học, và sau đó, các kỹ sư – thiết kế quan tâm.

    Có khả năng cô đặc một lượng thông tin khổng lồ trên một “mặt bằng” văn bản không lớn (thử so sánh một truyện ngắn của Sekhov với một cuốn sách giáo khoa tâm lý học), văn bản nghệ thuật còn có thêm một đặc điểm: nó cung cấp cho người đọc khác nhau những thông tin khác nhau tuỷ theo mức độ hiểu biết của từng người, nó còn trao cho người đọc cái ngôn ngữ để khi sử dụng có thể lĩnh hội được phần tri thức tiếp theo ở những lần đọc lại. Nó hành xử như một cơ thể sống động nào đó tồn tại trong quan hệ đối thoại với người đọc, huấn luyện cho người đọc ấy.

    Có thể đạt được điều trên bằng những phương tiện gì? Câu hỏi ấy không chỉ khiến nhà nhân văn học phải ngẫm nghĩ. Chỉ cần hình dung có một cơ cấu nào đó được kiến tạo theo kiểu tương tự như thế để chuyển tải thông tin khoa học cũng đủ để hiểu rằng, việc khám phá bản chất của nghệ thuật như một hệ thống giao tiếp có thể tạo ra bước ngoặt trong phương pháp lưu trữ và chuyển tải thông tin./

    Người dịch: Lã Nguyên

    Nguồn:Лотман Ю.М. Cтруктура художественного текста // Ю.М. Лотман.- Об искусстве. СПб., 1998. С. 31- 34.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học
  • Bài 1: Đặc Trưng Chung Và Hình Thức Ngôn Ngữ Biểu Hiện Khái Niệm
  • Phân Loại Các Loại Hình Ngôn Ngữ
  • Phần I : Mỹ Thuật Là Gì ? Ngôn Ngữ Riêng Của Hội Họa Mỹ Thuật
  • Thuật Ngữ Server Và Thuật Ngữ Client

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Mail Server Là Gì? Các Thuật Ngữ Thường Đi Kèm Với Mail Server
  • Trojan Là Gì? Có Bao Nhiêu Loại Trojan Nguy Hiểm Hiện Nay?
  • Trojan Là Gì? Trojan Horse Là Gì? Những Hiểu Biết Cần Thiết
  • Virus Máy Tính, Trojan, Worm, Rootkit Là Gì?
  • Phân Biệt Malware, Virus Và Trojan Horse
  • Bài viết giới thiệu 2 khái niệm Server và Client trong lập trình. Ngoài ra 2 khái niệm này cũng là khái niệm chung cho các lĩnh vực khác và có ý nghĩa tương tự.

    Ngữ nghĩa của Server và Client

    Từ tiếng Anh dịch sang tiếng Việt có thể hiểu:

    • Server là 1 thành phần cung cấp dịch vụ.
    • Client thừa hưởng các dịch vụ này.

    Server và Client đề cập trong bài này

    Khi nhận được 1 yêu cầu thì thành phần yêu cầu sẽ là Client. Trong lập trình 1 hàm cần sử dụng 1 hàm khác như yêu cầu 1 hàm trả về tổng của 2 số nguyên:

    void sum(int a, int b)

    {

    int c = a + b;

    std::cout << c;

    }

    /*

    int main()

    {

    sum(5, 10);

    }

    */

    Yêu cầu hàm cần tính tổng 2 số, khi sử dụng hàm không nhận được kết quả này, sum(int, int) là 1 “server” nhưng cung cấp dịch vụ chưa ổn do không trả về kết quả, Client trong trường hợp này là nơi gọi hàm sum(int, int) trong hàm main() không lấy được kết quả từ hàm sum().

    Đoạn code trên nên được điều chỉnh lại để server cung cấp dịch vụ đúng đắn hơn:

    int sum(int a, int b) { int c = a + b; return c; }

    Các ví dụ khác về server và client

    Trong lập trình hướng đối tượng, xét ví dụ kế thừa kiểu public

    /* SERVER CODE */ class Community { private: int att1; protected: int att2; public: void Share() { } }; /* KẾ THỪA KIỂU PUBLIC */ class Stdio: public Community { private: int att3; public: void ShareArticle() { } }; /* CLIENT CODE int main() { Stdio obj; } */

    • class Community là server code của class Stdio.
    • class Stdio là server code của khai báo Stdio obj trong hàm main().

    Các số chẵn trong một mảng

    void GetEvenIntegerList(int* integerList, int n)

    {

    for (int i = 0; i < n; n++)

    {

    if (integerList;

    }

    }

    }

    Server code này đã không thỏa mãn lắm chức năng Server, các Client không thể sử dụng được dịch vụ này, cụ thể là không nhận được danh sách số chẵn như mong đợi. Cải tiến lại như sau:

    void GetEvenIntegersList(int* integerList, int n, int*& eIntegerList, int &m) { // ĐẾM SỐ LƯỢNG SỐ CHẴN CÓ TRONG DANH SÁCH m = 0; for (int i = 0; i < n; i++) { if (integerList; int k = 0; for (int i = 0; i < n; i++) { if (integerList = integerList[i]; } } }

    Hiện thực đúng đắn một Server sẽ đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn, lâu dài sẽ tạo nên một khả năng “đóng gói” sản phẩm, dịch vụ mà người dùng hoặc client nói riêng chỉ cần “plug-and-play”. Không chỉ tiện lợi, tăng độ tin cậy cho sản phẩm mà còn tăng uy tín cho người hiện thực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sku Sản Phẩm Là Gì? Cách Đặt Mã Sku Đơn Giản Và Hiệu Quả Nhất
  • Mã Số Sku Là Gì Và Cách Thiết Lập
  • Sku Là Gì? Bật Mí Những Điều Bạn Chưa Biết Về Sku
  • Sku Là Gì? Vì Sao Sku Lại Hữu Ích?
  • Sku Là Gì? Những Lưu Ý Khi Đặt Sku? Hưỡng Dẫn Cách Đặt Sku
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngôn Ngữ Báo Chí Là Gì Và Cách Sử Dụng Ngôn Ngữ Báo Chí Chuẩn
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí
  • Việc Làm It Phần Mềm Và Tin Công Nghệ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí
  • Bài 1: Khái Niệm Lập Trình Và Ngôn Ngữ Lập Trình Bậc Cao
  • Nêu khái niệm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết?

    Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

    Gv: kẻ bảng hệ thống với các phương diện so sánh: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

    Gv: để hs chủ động làm việc: điền các nội dung theo câu hỏi của giáo viên

    Nhấn mạnh các trọng tâm chính giúp hs dễ nhớ.

    Đọc phận ghi nhớ sgk- 88

    Hướng dẫn hs làm phần luyện tập.

    Bài tập 1:

    Phân tích đặc điểm của NN viết:

    Bài tập 2:

    Phân tích đặc điểm của NN nói

    Bài tập 3:

    Phân tích lỗi – Chữa lại

    Hs chữa nhanh tại lớp. đọc lỗi sai và chữa lại cho đúng.

    Gv: nhận xét, bổ sung….

    I. Khái niệm

    Là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hàng ngày.

    Là ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác.

    II. Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Xét 4 mặt:

    – Tình huống giao tiếp.

    – Phương tiện ngôn ngữ

    – Phương tiện hỗ trợ

    – Hệ thống các yếu tố ngôn ngữ: Từ ngữ, câu, văn bản

    – Tiếp xúc trực tiếp

    – Nhân vật giao tiếp trực tiếp, phản hồi tức khắc, có sự đổi vai.

    – Người nói ít có điều kiện lựa chọn, gọt giũa các phương tiện ngôn ngữ

    – Người nghe ít có điều kiện suy ngẫm, phân tích

    – Không tiếp xúc trực tiếp

    – Nhân vật giao tiếp trong phạm vi rộng lớn, thời gian lâu dài, không đổi vai- Người giao tiếp phải biết các ký hiệu chữ viết, qui tắc chính tả, qui cách tổ chức VB.

    – Có điều kiện suy ngẫm, lựa chọn, gọt giũa các phương tiện ngôn ngữ

    – Từ ngữ:

    + Khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ

    + Trợ từ, thán từ, từ ngữ đưa đẩy, chêm xen.

    – Câu: Kết cấu linh hoạt (câu tỉnh lược, câu có yếu tố dư thừa…)

    – Văn bản: không chặt chẽ, mạch lạc.

    – Từ ngữ:

    + được chọn lọc, gọt giũa

    + sử dụng từ ngữ phổ thông.

    – Câu: Câu chặt chẽ, mạch lạc: câu dài nhiều thành phần.

    – Văn bản: có kết cấu chặt chẽ, mạch lạc ở mức độ cao.

    III. Luyện tập

    Dùng thuật ngữ:

    vốn chữ của tiếng ta, phép tắc tiếng ta, bản sắc, tinh hoa, phong cách

    – Thay thế:

    + Vốn chữ = Từ vựng

    + Phép tắc của tiếng ta = Ngữ pháp

    – Tách dòng để trình bày rõ từng luận điểm

    – Dùng từ ngữ chỉ thứ tự “một, hai, ba”

    – Dùng dấu câu “”: () …

    – Từ hô gọi

    – Từ tình thái

    – Khẩu ngữ

    – Phối hợp giữa lời nói và cử chỉ

    – Hai nhân vật thay vai nhau (nói – nghe: giữa Tràng và cô gái)

    a). Trong thơ ca Việt Nam thì đã có nhiều bức tranh mùa thu đẹp hết ý.

    – Nhầm TN với CN:”trong…

    – Dùng từ thừa: thì đã

    – Dùng khẩu ngữ: hết ý

    → Thơ ca Việt Nam có nhiều bức tranh mùa thu rất đẹp b) Còn như máy móc, thiết bị do nước ngoài đưa vào góp vốn thì không được kiểm soát, họ sẵn sàng khai vống lên đến mức vô tội vạ

    – Dùng khẩu ngữ: vô tội vạ

    – Thừa từ: còn như, thì

    – Dùng từ địa phương: vống

    → Máy móc, thiết bị do nước ngoài đưa vào góp vốn không được kiểm soát, họ sẵn sàng khai tăng lên một cách tùy tiện c). Cá, rùa, ba ba, ếch, nhái, chim ở gần nước thì như cò, vạc, vịt, ngỗng, …thì cả ốc, tôm, cua,… chúng chẳng chừa ai sất

    – Dùng khẩu ngữ: thì như, thì cả

    – Dùng từ địa phương: sất

    → Cá, rùa, ba ba, tôm, cua, ốc, ếch, nhái, sống ở dưới nước đến các loài chim cò, vạc, gia cầm như vịt, ngỗng,,… chúng cũng chẳng chừa một loài nào

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Chữ Viết
  • Khái Niệm Về Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Bài 5: Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Bài 5. Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Ngôn Ngữ Máy Là Gì? Những Bạn Cần Biết Về Ngôn Ngữ Này
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Loại Ngôn Ngữ Có Sức Mạnh Đặc Biệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Khái Quát Chung Về Kỹ Năng Giao Tiếp, Ứng Xử
  • Sự Khác Biệt Giữa Giao Tiếp Bằng Miệng Và Giao Tiếp Bằng Văn Bản
  • Văn Bản Như Một Đơn Vị Giao Tiếp
  • Soạn Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ (Chi Tiết)
  • Việc làm Quản lý điều hành

    1. Khái niệm giao tiếp phi ngôn ngữ là gì?

    Giao tiếp phi ngôn ngữ là quá trình gửi và nhận tin nhắn mà không sử dụng từ ngữ, nói hoặc viết. Cũng được gọi là ngôn ngữ thủ công. Tương tự như cách in nghiêng nhấn mạnh ngôn ngữ viết, hành vi phi ngôn ngữ có thể nhấn mạnh các phần của thông điệp bằng lời nói.

    Thuật ngữ giao tiếp phi ngôn ngữ được giới thiệu vào năm 1956 bởi nhà tâm thần học Jurgen Ruesch và tác giả Weldon Kees trong cuốn sách “Giao tiếp phi ngôn ngữ: Ghi chú về nhận thức trực quan về quan hệ con người”.

    Thông điệp phi ngôn ngữ đã được công nhận trong nhiều thế kỷ là một khía cạnh quan trọng của giao tiếp. Chẳng hạn, trong “Sự tiến bộ của việc học” (1605), Francis Bacon đã quan sát thấy rằng “các dòng dõi của cơ thể tiết lộ sự sắp đặt và khuynh hướng của tâm trí nói chung, nhưng các chuyển động của diện mạo và các bộ phận thì làm. tiết lộ sự hài hước hiện tại và trạng thái của tâm trí và ý chí. ”

    1.2. Vai trò truyền thông của phi ngôn ngữ

    “Giống như phần còn lại của chúng tôi, những người theo dõi an ninh sân bay muốn nghĩ rằng họ có thể đọc ngôn ngữ cơ thể. Cục Quản lý An ninh Giao thông đã chi khoảng 1 tỷ đô la để đào tạo hàng ngàn ‘nhân viên phát hiện hành vi’ để tìm kiếm biểu cảm trên khuôn mặt và những manh mối phi ngôn ngữ khác có thể nhận dạng những kẻ khủng bố.

    “Nhưng các nhà phê bình nói rằng không có bằng chứng nào cho thấy những nỗ lực này đã ngăn chặn một kẻ khủng bố duy nhất hoặc hoàn thành vượt quá hàng chục ngàn hành khách mỗi năm. TSA dường như đã rơi vào một hình thức tự lừa dối kinh điển: niềm tin rằng bạn có thể đọc được những lời nói dối ‘tâm trí bằng cách xem cơ thể của họ.

    “Hầu hết mọi người nghĩ rằng những kẻ nói dối tự bỏ đi bằng cách đảo mắt hoặc làm những cử chỉ lo lắng, và nhiều nhân viên thực thi pháp luật đã được đào tạo để tìm kiếm những câu chuyện cụ thể, như nhìn lên theo một cách nhất định. Nhưng trong các thí nghiệm khoa học, mọi người làm một công việc tệ hại. về những kẻ nói dối phát hiện. Các nhân viên thực thi pháp luật và các chuyên gia được cho là không giỏi về điều đó hơn người thường mặc dù họ tự tin hơn vào khả năng của mình. ” (John Tierney, “Tại sân bay, một đức tin sai lầm trong ngôn ngữ cơ thể.” Thời báo New York, ngày 23 tháng 3 năm 2014 )

    Việc làm Quan hệ đối ngoại

    2. Các loại giao tiếp phi ngôn ngữ

    Judee Burgoon (1994) đã xác định bảy kích thước không lời khác nhau:

    Chuyển động cơ thể bao gồm biểu cảm trên khuôn mặt và giao tiếp bằng mắt. Ngôn ngữ cơ thể được xem là một loại ngôn ngữ kì diệu có sức biểu đạt gợi cảm cho lời nói của con người. Trong cuộc sống chúng ta có thể thấy người ta thường xuyên sử dụng ngôn ngữ cơ thể. Đặc biệt là trong thuyết trình, diễn thuyết, ngôn ngữ cơ thể giúp cho bài nói trở nên thêm thuyết phục và thu hút người nghe hơn. Những cử chỉ lên xuống của tay mô tả cho một sự chuyển động nào được kể đến trong bài thuyết trình sẽ gợi cảm hơn là một câu nói suông. Chính vì vậy không phải tự nhiên mà người muốn học thuyết trình phải học phong thái, cách di chuyển trước khi cả học nói, phát triển nội dung. Không những thế ngôn ngữ cơ thể còn là một phương pháp quan trọng góp phần vào việc dạy nói cho trẻ và hình thành nhận thức về thế giới xung quanh. Khuôn mặt là một trong những những bộ phận chiếm tỉ lệ cao nhất về biểu lộ ngôn ngữ cơ thể. Những cái chau mày, nhăn nhó, nhíu mày, tròn mắt lần lượt biểu hiện cho các cảm xúc nghi ngờ, khó chịu, đắn đo, ngạc nhiên, …

    2.2. Giọng nói hoặc ngôn ngữ bao gồm âm lượng, tỷ lệ, cao độ và âm sắc;

    Cùng với giọng nói và cử chỉ là ngoại hình. Không phải ngẫu nhiên chúng ta có sự phân biệt giữa các loại trang phục trong tùy trường hợp và không phải ngẫu nhiên các chính trị lại luôn xuất hiện với ngoại hình chau chuốt và lịch sự. Bởi lẽ ngoại hình góp phần thúc đẩy cho sự tiếp nhận thông tin nói đối với người ngữ, ngoại hình cũng là một loại phi ngôn ngữ. Ngoại hình sáng sủa cho càng nâng cao chất lượng và độ tin cậy của thông tin người nói. Nói một cách hài hước đa cấp ở Việt Nam – một hành vi lừa đảo lại luôn là nhóm đối tượng chú trọng về ngoại hình nhất. Ngoại hình của họ là chất xúc tác cho sự hấp dẫn của lời nói của họ. Cách thể hiện ngoại ngữ cũng là một loại tín hiệu cho người tiếp nhận, ví dụ khi bạn mặc một cây đen ( kết hợp với gương mặt rầu rĩ ) cho phép người đối diện hiểu là bạn đi dự một đám tang. Hay khi nhìn thấy những loại trang phục đỏ ta nghĩ ngay đến những ngày lễ Tết. Bên cạnh đó ngoại hình cá nhân còn thể hiện vị trí cũng như đẳng cấp của bạn, giá trị lời nói cũng từ đó mà tăng lên hay giảm xuống. Mặc dù mang tính hơi tiêu cực nhưng nó lại đúng trong thế giới hiện đại này.

    Ngoài ba hình thức trên thì phi ngôn ngữ còn có những kiểu biểu hiện khác như:

    “Dấu hiệu hoặc biểu tượng bao gồm tất cả những cử chỉ thay thế từ, số và dấu chấm câu. Chúng có thể thay đổi từ cử chỉ đơn âm của ngón tay cái nổi bật của người đi xe đạp đến các hệ thống phức tạp như Ngôn ngữ ký hiệu của người Mỹ đối với người điếc có tín hiệu không lời nói trực tiếp Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng các dấu hiệu và biểu tượng là đặc trưng văn hóa. Ngón tay cái và ngón trỏ dùng để thể hiện ‘A-Okay’ ở Hoa Kỳ giả định một cách giải thích xúc phạm và xúc phạm ở một số nước Mỹ Latinh. ” (Wallace V. Schmidt và cộng sự, Giao tiếp toàn cầu: Truyền thông đa văn hóa và kinh doanh quốc tế. Sage, 2007)

    Việc làm Nhân viên kinh doanh

    3. Cách để phi ngôn ngữ ảnh hưởng đến diễn ngôn bằng lời nói

    3.1. Sử dụng tín hiệu phi ngôn ngữ

    Đầu tiên, chúng ta có thể sử dụng tín hiệu phi ngôn ngữ để nhấn mạnh lời nói của mình. Tất cả những người nói giỏi đều biết cách thực hiện điều này bằng cử chỉ mạnh mẽ, thay đổi âm lượng giọng nói hoặc tốc độ nói, tạm dừng có chủ ý, v.v.

    3.2. Kết hợp phi ngôn ngữ và nói

    Thứ hai, hành vi phi ngôn từ của chúng ta có thể lặp lại những gì chúng ta nói. Chúng ta có thể nói đồng ý với ai đó trong khi gật đầu. ..

    3.3. Thay thế lời nói bằng tín hiệu phi ngôn ngữ

    Thứ ba, tín hiệu phi ngôn ngữ có thể thay thế cho lời nói. Thông thường, không cần thiết phải nói nhiều thứ. Một cử chỉ đơn giản có thể đủ (ví dụ, lắc đầu để nói không, sử dụng dấu hiệu ngón tay cái để nói ‘Công việc tốt ,’ Vân vân.). . . .

    3.4. Điều chỉnh lời nói bằng tín hiệu phi ngôn ngữ

    Thứ tư, chúng ta có thể sử dụng tín hiệu phi ngôn ngữ để điều chỉnh lời nói. Được gọi là tín hiệu rẽ, những cử chỉ và cách phát âm này giúp chúng ta có thể thay thế vai trò đàm thoại của việc nói và nghe.

    3.5. Sự trái lập của lời nói và tín hiệu

    Thứ năm, thông điệp không lời đôi khi mâu thuẫn với những gì chúng ta nói.

    Một người bạn nói với chúng tôi rằng cô ấy đã có một khoảng thời gian tuyệt vời ở bãi biển, nhưng chúng tôi không chắc vì giọng nói của cô ấy phẳng và khuôn mặt thiếu cảm xúc …

    3.6. Làm rõ hơn thái độ lời nói bằng tín hiệu phi ngôn ngữ

    Cuối cùng, chúng ta có thể sử dụng tín hiệu phi ngôn ngữ để bổ sung cho nội dung bằng lời của tin nhắn của mình … Buồn bã có thể có nghĩa là chúng ta cảm thấy tức giận, chán nản, thất vọng hoặc chỉ một chút ngoài lề. “Tín hiệu phi ngôn ngữ có thể giúp làm rõ những từ chúng ta sử dụng và tiết lộ bản chất thực sự của cảm xúc của chúng tôi” (Martin S. Remland, Giao tiếp phi ngôn ngữ trong cuộc sống hàng ngày, tái bản lần thứ 2 Houghton Mifflin, 2004)

    Phi ngôn ngữ được áp dụng trong cuộc sống rất nhiều. Từ khi chữ viết ra đời thì phi ngôn ngữ đã được sử dụng, phi ngôn ngữ xóa bỏ mọi rào cảo cản về tiếng nói và ngôn ngữ trên thế giới. Mọi lời nói được hỗ trợ thể hiện bởi phi ngôn ngữ đều đạt được tính thẩm mỹ và sự biểu cảm tối đa. Phi ngôn ngữ còn là một công cụ giúp nâng giá trị bản thân mỗi con người thông qua cách nói cuốn hút. Hi vọng rằng bài viết này của chúng tôi đã giúp bạn hiểu thêm phần nào về giao tiếp phi ngôn ngữ. Từ đó các bạn có thể áp dụng và sử dụng trong đời sống của mình bao gồm :giao tiếp sinh hoạt, công việc, học tập hay thậm chí là công cụ giúp xây dựng mối quan hệ ở bên ngoài xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Du Lịch
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Là Gì Và Các Biện Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Giao
  • Tiểu Luận Giao Tiếp Văn Phòng
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Qua Điện Thoại
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100