✅ Thầy Bói Xem Voi

--- Bài mới hơn ---

  • Học Phương Pháp Tư Duy Logic Phát Triển Tối Đa Sức Mạnh
  • Tư Duy Logic Là Gì? 5 Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Logic Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Phương Pháp Nhập Sau, Xuất Trước (Last In, First Out
  • Phương Pháp Tính Giá Hàng Tồn Kho
  • Cấy Mulgwang Có Tốt Không? Làm Gì Để Da Căng Mịn Hơn?
  • Đề bài: Phân tích truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi

    Bài làm

    Truyện kể về năm ông thầy bói rảnh rỗi, nhân một buổi ế hàng đã góp tiền với nhau để xem hình thù con voi thế nào. Cách xem voi và nhận xét về chúng của các ông thầy bói hết sức đặc biệt. Vì bị mù nên các ông chỉ có thể dựa vào xúc giác để biết con voi hình thù ra sao. Năm người sờ năm bộ phận và mỗi người lại đưa ra những kết luận khác về con voi. Ông thứ nhất thì cho con voi sun sun như con đỉa khi sờ vào vòi; ông thì cho nó chần chẫn như cái đòn càn khi sờ ngà; ông lại phán con voi nó phải bè bè như cái quạt thóc khi sờ tai; ông nghe được lại cãi nó phải như cái cột đình khi sờ vào chân và ông cuối cùng cũng nhất quyết bảo vệ ý kiến của mình khi cho rằng con voi phải tun tủn như cái chổi sể cùn khi sờ vào đuôi. Mỗi người một ý kiến và họ kiên quyết cho rằng nhận xét của mình là đúng, không ai nhường ai nên đã xảy ra một cuộc hỗn chiến khiến các ông toác đầu, chảy máu. Năm ông thầy bói đã cho những người chứng kiến một trận cười ra nước mắt.

    Câu chuyện kết lại đã để lại cho người đọc nhiều bài học ý nghĩa. Trước hết, truyện chế giễu những thầy bói nói dựa , mới chỉ sờ vào bộ phận của con vật nhưng đã phán toàn thể về nó, đồng thời đây cũng là lời khuyên không nên tin vào những điều mê tín, bói toán. Không chỉ vậy truyện còn nêu lên bài học sâu sắc trong cách chúng ta nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng trong đời sống. Khi xem xét bất cứ điều gì cũng cần phải có cái nhìn bao quát, toàn diện để đánh giá được đúng đối tượng, sự việc. Tránh cái nhìn phiến diện, một chiều dẫn đến nhận thức sai lầm, lạc hướng giống như các “Thầy bói xem voi” .

    Cũng giống như những truyện ngụ ngôn khác, Thầy bói xem voi có lời kể ngắn gọn, mọi câu chữ đều được rút gọn đến mức tối đa. Sử dụng hình ảnh so sánh đặc sắc, rất phù hợp với đặc điểm của đối tượng. Kết thúc truyện bất ngờ, hợp lí vừa tạo ra tiếng cười vui vẻ cho người đọc, người nghe về một cuộc ẩu đả bi hài, vừa đẩy tính bảo thủ của các ông thầy bói lên cao nhất.

    Qua cách tạo dựng tình huống huống đặc sắc, truyện Thầy bói xem voi trước hết đã đem lại tiếng cười vui vẻ cho người đọc. Nhưng đằng sau tiếng cười ấy, chúng ta còn tự rút ra bài học cho riêng mình về cách xem xét các sự việt, hiện tượng trong cuộc sống. Phải luôn có cái nhìn đa diện, nhiều chiều khi nhìn nhận bất cứ vấn đề gì, tránh cái nhìn một chiều dẫn đến đánh giá sai vấn đề.

    Đề bài: Em hãy kể tóm tắt truyện Thầy bói xem voi

    Bài làm

    Năm ông thầy bói rủ nhau chung tiền biếu người quản voi để xem con voi có hình thù thế nào.

    Mỗi ông xem một bộ phận, cuối cùng cãi nhau, không ông nào chịu ông nào: ông xem vòi bảo voi sun sun như con đỉa; ông xem ngà bảo voi giống cái đòn càn; ông xem tai bảo nó giống cái quạt thóc; ông xem chân bảo voi sừng sững như cái cột đình; ông cuối cùng xem đuôi, bảo voi tun tủn như cái chổi sể cùn. Cãi nhau vì không thể phân thắng bại, năm ông đánh nhau toác đầu, chảy máu.

    Đề bài: Kể diễn cảm truyện Thầy bói xem voi

    Bài làm

    Ngày xửa ngày xưa, ở một vùng nọ có năm ông thầy bói mù hành nghề trước cửa chợ. Buổi sáng hôm ấy ế khách quá, năm thầy ngồi buồn đành tán gẫu với nhau. Ai cũng phàn nàn rằng mình chưa được biết hình thù con voi ra sao. Bỗng nhiên, nghe người ta nói có voi đi qua, các thầy bèn chung tiền biếu quản tượng, xin cho voi dừng lại để xem.

    Các thầy xem voi bằng … tay. Thầy thứ nhất sờ đúng cái vòi. Thầy thứ hai sờ vào cặp ngà. Thầy thứ ba sờ vào tai. Thầy thứ tư sờ vào chân. Còn thầy thứ năm sờ vào đuôi.

    Người quản tượng dẫn voi đi rồi, năm thầy ngồi bàn tán sôi nổi về voi. Thầy sờ vòi bảo: Tưởng gì, hóa ra voi sun sun như con đỉa ! Thầy sờ ngà gân cổ cãi : Ai dám bảo voi giống như con đỉa ? Nó chần chẫn giống cái đòn càn ! Thầy sờ tai khẳng định : Nó bè bè như cái quạt thóc ! Thầy sờ chân không chịu : Sao lại giống cái quạt thóc được ? Nó sừng sững như cái cột đình ! Thầy sờ đuôi cứ hếch mặt ngồi nghe, bấy giờ mới ung dung lên tiếng:

    – Các thầy nói sai cả rồi ! Đích thị là nó tun tủn giống cái chổi sể cùn!

    Năm thầy cãi nhau mỗi lúc một hăng, chẳng ai chịu ai, người nào cũng cho rằng lời phán của mình là đúng nhất. Cuối cùng, các thầy xô xát, đánh nhau đến toác đầu, chảy máu. Mọi người chứng kiến cảnh ấy được một trận cười vỡ bụng.

    Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về truyện Thầy bói xem voi

    Bài làm

    Thầy bói xem voi là một truyện ngụ ngôn có nội dung giáo dục rất thâm thúy ẩn chứa dưới hình thức nghệ thuật hài hước thú vị.

    Truyện ngụ ngộn là truyện không chỉ có nghĩa đen mà còn hàm chứa nghĩa bóng. Nghĩa bóng là ý nghĩa sâu kín gửi gắm trong truyện, thường là những bài học nhân sinh bổ ích cho con người trong cuộc sống.

    Thầy bói xem voi kể về cuộc xem voi của năm thầy bói mù và nhận xét của từng người về con voi. Sự khác biệt trong nhận thức về hình dáng con voi giữa các thầy bói dẫn đến cuộc tranh luận bất phân thắng bại, thậm chí dẫn tới ẩu đả.

    Từ việc chễ giễu cách xem voi và nhận xét về voi rất phiến diện của năm ông thầy bói mù, người xưa khuyên chúng ta rằng khi tìm hiểu, xem xét, đánh giá các sự vật, sự việc, hiện tượng xung quanh thì phải thận trọng, kĩ càng và toàn diện để tránh những đánh giá lệch lạc, sai lầm.

    Truyện ngắn gọn nhưng rất hấp dẫn bởi hàng loạt các yếu tố đặc biệt của nó: tình huống đặc biệt, nhân vật đặc biệt, sự vật đặc biệt và cách cảm nhận sự vật của mỗi người lại càng đặc biệt. Có thể coi truyện ngụ ngôn này là một vở hài kịch nhỏ có đủ hoàn cảnh, nhân vật và mâu thuẫn kịch.

    Mở đầu là cảnh năm thầy bói mù nhân buổi ế khách bèn túm tụm lại ngồi chuyện gẫu với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn là chưa biết hình thù con voi ra sao. Tình cờ đúng lúc ấy, các thầy nghe người ta nói có voi đi qua, bèn chung nhau tiền biếu quản tượng, xin cho voi dừng lại để xem. Vì mù nên năm thầy cùng chung một cách xem voi là sờ bằng tay và mỗi thầy chỉ sờ được vào một bộ phận của con voi mà thôi.

    Phần mở đầu ngắn gọn nhưng chứa đựng đầy đủ những thông tin cần thiết để thu hút và dẫn dắt người đọc. Nếu coi truyện là một màn kịch thì ở đoạn này, mâu thuẫn kịch đã bắt đầu hình thành và phát triển.

    Cách xem voi của năm thầy là dùng tay để sờ. Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi.

    Thầy nào sờ được bộ phận nào thì nhận xét về hình thù “con voi” như thế. Thầy sờ vào vòi cho rằng voi sun sun như con đỉa. Thầy sờ vào ngà bảo voi chần chẫn như cái đòn càn. Thầy sờ vào tai khăng khăng voi bè bè như cái quạt thóc. Thầy sờ vào chân voi thì cãi: Nó sừng sững như cái cột đình. Bốn nhận định của bốn thầy khác xa nhau nên thầy này phủ nhận ý kiến của thầy kia. Thầy thứ năm sờ vào cái đuôi thì phủ nhận tất cả bốn thầy trước: – Các thầy nói không đúng cả. Chính nó tun tủn như cái chổi sể cùn.

    Dựa trên thực tế mà mình “xem” được, mỗi thầy đều đưa ra nhận xét về hình thù con voi bằng hình thức ví von, so sánh. Điều đó làm cho truyện thêm sinh động và có tác dụng tô đậm sai lầm trong cách xem voi và lời “phán” về voi của các thầy.

    Mâu thuẫn càng lúc càng tăng, không ai chịu nghe ai vì người nào cũng cho rằng mình đúng. Tục ngữ có câu: Trăm nghe không bằng một thấy, Trăm thấy không bằng một sờ. Ở đây, các thầy đã sờ tận tay, thử hỏi còn sai vào đâu được? Do vậy, việc thầy nào cũng khẳng định rằng mình đúng là có cơ sở. Thầy nào cũng đúng nhưng khổ nỗi chỉ đúng với một bộ phận của con voi chứ không đúng với toàn bộ con voi.

    Người xưa thật hóm hỉnh khi để các thầy bói mù xem một con vật khổng lồ là con voi. Các bộ phận của nó ở cách xa nhau (vòi, ngà, tai, chân, đuôi) mà các thầy đều bị mù, không thể đi lại dễ dàng. Mỗi thầy lại chỉ sờ được có một thứ nên mới dẫn đến chuyện đấu khẩu bất phân thắng bại.

    Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm khi thầy nào cũng khăng khăng bảo vệ ý kiến của mình. Cãi nhau mãi không xong tất dẫn đến cuộc ẩu đả quyết liệt, bởi vì cả năm thầy không ai chịu ai. Như vậy là cãi nhau không đi đến đâu, mà đánh nhau càng không thể dẫn đến chân lí khách quan. Cái sai nọ tất yếu dẫn đến cái sai kia. Người đọc tưởng tượng ra cảnh năm thầy bói mù gân cổ cãi nhau rồi quờ quạng đánh nhau mà cười ra nước mắt.

    Biện pháp phóng đại được sử dụng triệt để trong truyện để tô đậm cái sai về nhận thức của các thầy bói xem voi.

    Năm thầy bói đều sờ vào voi thật và mỗi thầy đều tả đúng một bộ phận của voi, nhưng không ai nhận xét đúng về cả con voi. Sai lầm của họ là mỗi người chỉ sờ được vào một bộ phận của con voi mà đã nhất quyết cho rằng đó là con voi. Điều đáng buồn cười là các thầy đều sai nhưng ai cũng nhận mình là đúng. Thực ra họ đều sai lầm trầm trọng bởi vì ai đã lấy nhận xét chủ quan về một chi tiết của sự vật để khẳng định, đánh giá toàn thể sự vật và phủ nhận ý kiến của người khác. Cả năm thầy đều chung một cách xem voi phiến diện, dùng bộ phận để khái quát toàn thể. Truyện không nhằm chế giễu cái “mù” về thể chất (đây chỉ là chi tiết cần có của tình huống truyện), mà muốn nói đến cái “mù” về nhận thức và phương pháp nhận thức của các thầy bói. Cao hơn thế, truyện có ý giễu cợt những người làm nghề xem bói (Thầy bói nói càn). Tiếng cười trong truyện nhẹ nhàng nhưng cũng rất thâm thúy.

    Truyện là màn hài kịch ngắn nhưng chứa đựng một bài học bổ ích. Người xưa muốn thông qua truyện để nhắc nhở mọi người khi giao tiếp, vấn đề nào tìm hiểu chưa thấu đáo thì không nên thể hiện quan điểm của mình vì không thể nào có được một nhận xét đúng đắn về thực tế xung quanh (hiện tượng, sự việc, sự vật, con người) nếu chưa tìm hiểu đầy đủ, kĩ càng. Muốn kết luận đúng về sự vật thì phải xem xét nó một cách toàn diện. Những hiểu biết hời hợt, nông cạn, những suy đoán mò mẫm thiếu thực tế… chỉ dẫn đến nhận thức lệch lạc, sai lầm mà thôi.

    Qua truyện, người xưa còn ngầm phê phán những kẻ thiếu hiểu biết nhưng lại hay tỏ ra thông thái. Ý nghĩa này được gói gọn trong câu thành ngữ: Thầy bói xem voi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 10. Thầy Bói Xem Voi
  • Các Phương Pháp Kế Toán Hàng Tồn Kho
  • Hạch Toán Hàng Tồn Kho Theo Phương Pháp Kê Khai Thường Xuyên
  • Hạch Toán Và Sơ Đồ Kế Toán Hàng Hóa Theo Phương Pháp Kktx
  • Các Phương Pháp Hạch Toán Hàng Tồn Kho
  • Bài 10. Thầy Bói Xem Voi

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Thầy Bói Xem Voi
  • Học Phương Pháp Tư Duy Logic Phát Triển Tối Đa Sức Mạnh
  • Tư Duy Logic Là Gì? 5 Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Logic Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Phương Pháp Nhập Sau, Xuất Trước (Last In, First Out
  • Phương Pháp Tính Giá Hàng Tồn Kho
  • .

    PHÒNG GD&ĐT THÁI THỤY

    Cuộc thi Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-Learning

    Văn bản: Thầy bói xem voi

    Giỏo viờn th?c hi?n: Nguy?n Th? Thuý

    Tru?ng THCS Th?y Liờn

    Huy?n Thỏi Th?y, T?nh Thỏi Bỡnh

    Nam h?c: 2010 – 2011

    Kiểm tra bài cũ

    – Tóm tắt truyện ” Ếch ngồi đáy giếng “

    – Qua câu truyện em rút ra bài học gì?

    Tr? l?i

    Túm t?t:

    M?t con ?ch s?ng trong gi?ng dó lõu ngy. Nú c? nghi mỡnh l chỳa t?, cũn b?u tr?i ch? l chi?c vung. D?n khi mua to, nu?c dõng lờn, ?ch ra kh?i gi?ng. Quen thúi cu, ?ch di l?i nghờnh ngang khụng d? ý gỡ d?n xung quanh nờn b? trõu gi?m b?p.

    Bài học:

    Dù môi trường, hoàn cảnh sống có giới hạn, khó khăn, vẫn phải cố gắng mở rộng sự hiểu biết của mình bằng nhiều hình thức khác nhau. Phải biết những hạn chế của mình và phải cố gắng, phải biết nhìn xa trông rộng.

    Tiết 40: Văn bản: THẦY BÓI XEM VOI

    ( Truyện ngụ ngôn )

    Tiết 40: Văn bản: THẦY BÓI XEM VOI

    ( Truyện ngụ ngôn )

    1. Đọc văn bản:

    2. Chú thích:

    I/ Đọc- Hiểu chú thích:

    3. Tóm tắt văn bản:

    Tiết 40: Văn bản: THẦY BÓI XEM VOI

    ( Truyện ngụ ngôn )

    II/ Đọc – Hiểu văn bản:

    1. Cấu trúc văn bản:

    1. Đọc văn bản:

    2. Chú thích:

    I/ Đọc- Hiểu chú thích:

    3. Tóm tắt văn bản:

    ? Văn bản này có thể chia làm mấy đoạn? Nội dung từng đoạn?

    Văn bản chia thành 3 đoạn:

    + Đoạn 1: Từ đầu đến ” sờ đuôi”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    – Phª ph¸n c¸ch nh×n nhËn , ®¸nh gi¸ sù vËt , sù viÖc …chñ quan, phiến diện .

    -Khuyªn nhñ con ng­êi khi t×m hiÓu sù vËt, sù viÖc ph¶i xem xÐt mét c¸ch toµn diÖn .

    – Muèn xem xÐt ®Çy ®ñ ph¶i kh”ng ngõng häc tËp trau dåi nhËn thøc vµ cã ph­¬ng ph¸p nhËn thøc ®óng …

    Tiết 40: Văn bản: THẦY BÓI XEM VOI

    ( Truyện ngụ ngôn )

    II/ Đọc – hiểu văn bản:

    1. Cấu trúc văn bản:

    1. Đọc văn bản:

    2. Chú thích:

    I/ Đọc- hiểu chú thích:

    3. Tóm tắt văn bản:

    Văn bản chia thành 3 đoạn:

    + Đoạn 1: Từ đầu đến ” sờ đuôi”

    + Đoạn 2: Tiếp đến ” cái chổi sề cùn”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Kế Toán Hàng Tồn Kho
  • Hạch Toán Hàng Tồn Kho Theo Phương Pháp Kê Khai Thường Xuyên
  • Hạch Toán Và Sơ Đồ Kế Toán Hàng Hóa Theo Phương Pháp Kktx
  • Các Phương Pháp Hạch Toán Hàng Tồn Kho
  • Tính Giá Trị Hàng Tồn Kho Theo Phương Pháp Kê Khai Thường Xuyên
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Cùng Tìm Hiểu Ý Nghĩa Của Các Quân Cờ Trong Cờ Tướng
  • Rip Là Gì? Sử Dụng Từ Rip Như Thế Nào Cho Hợp Hoàn Cảnh?
  • Rip Là Gì? Ý Nghĩa Và Nguồn Gốc Của Thuật Ngữ Rip
  • Rap Là Gì? Nguồn Gốc, Đặc Trưng, Kỹ Năng Của Dòng Nhạc Đường Phố Mang Tên Rap
  • Câu Ví Dụ,định Nghĩa Và Cách Sử Dụng Của”reply”
  • Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy. Vậy khái niệm phương pháp luận là gì, ý nghĩa phương pháp luận nghiên cứu khoa học là gì? Bạn cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết sau đây.

    + Tổng hợp mẫu lời mở đầu bài tiểu luận các ngành mới nhất

    + Tổng hợp các đề tài luận văn thương mại điện tử hay nhất

    1. Phương pháp luận là gì?

    Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.

    Vậy phương pháp luận là gì? Phương pháp luận (Methodology) là học thuyết hay lý luận về phương pháp. Đó là hệ thống những quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo, xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả. Trong đó quan trọng nhất là các nguyên ly có quan hệ trực tiếp với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp. Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau.

    Phương pháp là phạm trù rất rộng, cho liên phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đặt ra cho mình hàng loạt những nhiệm vụ quan trọng sau đây:

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết các quy luật phát triển của khoa học hiện đại.

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ.

    + Nghiên cứu những quan điểm tổng quát, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức, đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, với tư cách là con đường, cách thức và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể, đây là vấn đề trung tâm của phương pháp luận.

    + Phương pháp luận khẳng định phương pháp nghiên cứu khoa học không những nằm trong lôgíc nhận thức mà còn nằm trong cấu trúc nội dung một công trình khoa học. Cho nên Phương pháp luận nghiên cứu khoa học một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài, mặt khác còn tìm ra cấu trúc lôgic nội dung của các công trình khoa học đó.

    + Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng chính các thành tựu khoa học, nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao.

    Tóm lại phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy.

    – Khoa học hiện đại có kết cấu bởi nhiều thành phần, trong đó có ba bộ 4 phận chủ yếu và quan trọng sau đây:

    + Hệ thống những khái niệm phạm trù, những quy luật, các lý thuyết, học thuyết khoa học.

    + Hệ thống trí thức ứng dụng đưa các thành tựu khoa học vào sản xuất và quản lý xã hội, nhằm cải tạo thực tiễn.

    + Hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu, về các con đường tìm tòi, sáng tạo khoa học.

    Vậy vị trí của phương pháp luận là gì? Phương pháp luận chính là một trong ba bộ phận quan trọng của khoa học.

    – Nghiên cứu khoa học luôn là sáng tạo và cách mạng, trong mỗi giai đoạn phát triển của khoa học hiện đại đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới đối với khoa học, phải tìm ra các phương pháp nghiên cứu mới, phải phát hiện ra các con đường mới để ứng dụng khoa học vào thực tiễn. Có thể nói: Hoàn thiện về phương pháp luận là sự đòi hỏi thường xuyên của sự phát triển khoa học hiện đại.

    – Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là kết quả của quá trình khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học và nó trở thành công cụ sắc bén để chỉ dẫn tất cả các nhà khoa học và các nhà quản lý trong công tác tổ chức, quản lý và thực hành sáng tạo khoa học.

    – Ngày nay trong thế giới hiện đại, để hoàn thành có chất lượng bất cứ một loại công việc nào, nhà chuyên môn cũng phải là người sáng tạo, có ý thức tìm tòi các con đường, các phương pháp tạo động mới. Thiếu tinh thần sáng tạo không có chỗ đứng trong cuộc sống đầy sôi động. Cải tiến chuyên môn thông qua con đường hoạt động thực tiễn của mình đã góp phần làm phát triển khoa học và công nghệ. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một bộ phận quan trọng của khoa học. Hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu khoa học là sự tự ý thức về sự phát triển của bản thân khoa học. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    Tham khảo tại nguồn: Tri Thức Cộng Đồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Pháp Lý Là Gì?
  • Cơ Sở Pháp Lý Là Gì? Nâng Cao Hiểu Biết Về Các Định Nghĩa Pháp Lý
  • Oppa Là Gì? Ý Nghĩa Cách Sử Dụng Từ Oppa Tại Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Pdca Và Cách Áp Dụng Vào Thực Tế
  • Mô Hình Pdca Là Gì? Quy Trình Kiểm Soát Chất Lượng Đơn Giản Nhất
  • Phương Pháp Luận Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Dòng Tiền Chiết Khấu (Discounted Cash Flow
  • Mô Hình Phân Tích Tài Chính Dupont
  • Những Điều Cơ Bản Về Kỹ Thuật Elisa
  • Kỹ Thuật Elisa Là Gì Và Những Điều Cần Lưu Ý Khi Thực Hiện Kỹ Thuật Này
  • Eoq Là Gì? Ứng Dụng Của Mô Hình Này Trong Kinh Doanh Ra Sao?
  • Bất cứ một nhà khoa học nào cũng không thể không biết đến thuật ngữ “phương pháp luận”. Bất cứ một ngành hay một bộ môn khoa học nào cũng đều không thể không có phương pháp luận của riêng mình. Sự phát triển của một ngành khoa học phụ thuộc một phần quan trọng vào sự đóng góp của phương pháp luận nghiên cứu khoa học nói chung và của phương pháp luận nghiên cứu của ngành khoa học đó nói riêng.

    Trong ngành nghiên cứu văn học cũng vậy, phương pháp luận có một vai trò rất to lớn. Nó xứng đáng có được một vị trí thoả đáng trong sự quan tâm của giới nghiên cứu. Thế nhưng ở nước ta, cho đến nay phương pháp luận nghiên cứu văn học mới chỉ được bàn đến như là một phần trong các công trình lý luận văn học của các nhà nghiên cứu; và tính đến năm 2004, là thời điểm xuất bản lần đầu tiên cuốn sách Phương pháp luận nghiên cứu văn học của chúng tôi, vẫn chưa có một công trình chuyên luận nào bàn riêng về phương pháp luận nghiên cứu văn học. Đó là vì từ trước đến nay, người ta thường quan niệm rằng, ngành nghiên cứu văn học bao gồm ba bộ môn: lý luận văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học. Còn lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học vẫn được xếp vào một bộ môn của nghiên cứu văn học có tên là Lý luận văn học.

    Tuy nhiên, trong mấy chục năm trở lại đây, trên thế giới đã xuất hiện nhiều ý kiến muốn phân biệt phương pháp luận nghiên cứu văn học với lý luận văn học. Có nhiều người cho rằng lý luận văn học trả lời câu hỏi: “Văn học là gì?”. Còn phương pháp luận trả lời câu hỏi: “Phải nghiên cứu văn học như thế nào?”. Cụ thể là từ năm 1969, A. Bushmin, nhà nghiên cứu văn học của Liên Xô cũ, đã cho xuất bản một công trình nhan đề Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học. Trong công trình này ông cũng phân biệt lý luận văn học với phương pháp luận. Có thể nói, ý nghĩa công cụ của phương pháp luận đối với lý luận văn học hay với nghiên cứu văn học nói chung là điều không phải bàn cãi nữa, nhưng còn về ý nghĩa lý luận của nó thì hiện nay các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới đang có xu hướng muốn coi nó như là một bộ phận nghiên cứu riêng biệt, có vị trí độc lập tương đối của nó

    Ở Việt Nam, phương pháp luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học cũng đã được quan tâm từ lâu. Bộ sách Lý luận văn học (xuất bản từ những năm 1980, nhiều tác giả, GS Phương Lựu chủ biên) đã bàn đến “phương pháp luận nghiên cứu văn học” trong phần “Phương pháp nghiên cứu văn học” do GS Phương Lựu viết. Sau khi cuốn sách Phương pháp luận nghiên cứu văn học của chúng tôi ra đời lần đầu vào năm 2004 (Nxb. KHXH), đến năm 2005, GS Phương Lựu đã tách phần “Phương pháp nghiên cứu văn học” trong bộ sách Lý luận văn học ra thành một cuốn sách riêng đứng tên ông và cũng lấy nhan đề Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nxb. Đại học Sư phạm). Như vậy, có lẽ Phương Lựu cũng cho rằng cần phân biệt phương pháp luận nghiên cứu văn học với lý luận văn học để gán cho nó một vị trí độc lập. Có một điều chắc chắn rằng, dù nó được coi là một bộ phận độc lập hay phụ thuộc vào lý luận văn học, thì vai trò của nó cũng không bị xem nhẹ. Bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào, cũng giống như bất cứ một nhà nghiên cứu khoa học nào khác, đều phải được trang bị một phương pháp luận có hiệu quả, dù người đó làm việc ở lĩnh vực lý luận, lịch sử hay phê bình văn học.

    * * *

    Bây giờ chúng ta hãy xem xét những vấn đề trọng tâm: Phương pháp luận là gì? Bản chất của phương pháp luận nghiên cứu văn học là như thế nào? Quan hệ giữa phương pháp luận nghiên cứu văn học với các phương pháp luận khác thể hiện ra sao? Quan hệ giữa phương pháp luận với các phương pháp nghiên cứu cụ thể là như thế nào?

    Hiện nay trên thế giới, những vấn đề nói trên là vô cùng phức tạp. Điểm qua ý kiến của các nhà lý luận nổi tiếng viết về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta sẽ có cảm giác như đang lạc vào một mê cung của các khái niệm. Có người cho rằng “Phương pháp luận là lý luận về phương pháp”, có ý kiến cho rằng phương pháp luận bao gồm nhiệm vụ, mục đích và các nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu Averzhanov (cũng Liên Xô cũ) thì tuyên bố: “Phương pháp luận – đó là thế giới quan trong hành động.”, có người coi chúng là những thủ pháp, phương thức, kỹ thuật phân tích, có người hiểu phương pháp theo từng trường hợp cụ thể: khi thì là thủ pháp, khi là kỹ thuật, khi là một thái độ cảm quan. Nhưng ngược lại có người lại cho rằng thuyết cấu trúc không phải là một thế giới quan như kiểu chủ nghĩa Marx , theo nghĩa là một thái độ cảm quan và một sự cảm nhận trực giác đối với cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật – tức họ hiểu từ “phương pháp luận” ở đây chỉ có nghĩa như là “phương pháp”. Còn đối với chính những đại biểu của thuyết cấu trúc thì tình trạng cũng không khá hơn. Claude Lévi-Strauss coi thuyết cấu trúc là thái độ tri thức luận; A. J. Greimas cho nó là một phương pháp luận; Michel Foucault quan niệm nó là hệ tư tưởng; T. Todorov gọi nó là phép phân tích khoa học; và đến lượt Julia Kristeva thì nó chỉ còn là một sự bày đặt của các nhà báo! Hiệu quả của công việc nghiên cứu cụ thể sẽ là một yếu tố cơ bản để biện hộ cho lý luận (tuy rằng không phải lúc nào cũng như vậy). Đây có thể gọi là lối tiếp cận chuyên sâu. Ngày nay xu hướng chuyên sâu là một xu hướng hợp lý, nó phù hợp với tình hình phát triển mạnh mẽ của tri thức loài người, có sự phân công lao động ngày càng sâu rộng.

    Tuy nhiên, quy luật biện chứng của sự phát triển cũng giống như biện chứng của tự nhiên, cái chuyên sâu sẽ kéo theo cái tổng hợp. Có điều, xu hướng tổng hợp ngày nay khác xu hướng tổng hợp thời Phục hưng. Nó diễn ra đồng thời trên cả bình diện đối tượng nhận thức lẫn chủ thể nhận thức. Tức là sự tổng hợp không phải chỉ tiến hành hướng tới nhiều đối tượng xuất phát từ một chủ thể duy nhất, mà còn hướng tới nhiều đối tượng xuất phát từ một tập hợp các chủ thể. Cái chuyên của mỗi người vì thế luôn nằm dưới bóng của cái tổng hợp, theo sự phân công của cái tổng hợp. Do đó, việc tìm hiểu các công thức đại cương của một lý thuyết nào đó cũng không phải là vô ích đối với những ai thích bàn đến những công việc cụ thể. Đứng trên quan điểm này để suy xét lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học, chúng ta sẽ có thể chắt lọc được những suy nghĩ bổ ích từ cái “mê cung” choáng ngợp đó.

    Nhưng trước khi đi sâu tìm hiểu phương pháp luận nghiên cứu văn học, chúng ta cần phải thống nhất quan niệm thế nào là phương pháp luận? Không phải vô cớ mà chúng tôi đặt ra câu hỏi này. Vì trên thực tế có rất nhiều người vẫn không phân biệt rạch ròi “phương pháp luận” với “phương pháp”. Có người dùng từ “phương pháp” cho một đối tượng đáng ra phải được gọi là “phương pháp luận”; có người thì làm ngược lại. Có người coi phương pháp là cái bao trùm cả phương pháp luận, nhưng có người lại gạt phương pháp ra khỏi phạm vi bao quát của phương pháp luận.

    Về mặt thuật ngữ, “phương pháp luận” là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam. Căn cứ vào cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1931) thì trước đây từ “phương pháp luận” là từ Hán – Việt được các học giả Việt Nam dùng để dịch tên cuốn sách của nhà triết học duy lý người Pháp René Descartes, tên ông này được họ phiên âm theo âm Hán – Việt là “Địch-cáp-nhi”. Tên tiếng Pháp cuốn sách của nhà triết học này là: Discours de la méthode (xuất bản năm 1637) .

    Còn việc ghi xuất xứ của trích dẫn cũng là một trong những quy cách phương pháp luận quan trọng cần phải tuân thủ, không phải chỉ là do yêu cầu về luật bản quyền, mà còn để giúp cho người đọc có thể kiểm tra xem người trích có trích đúng không. Tôi nói như thế là vì chuyện trích dẫn sai không phải là chuyện hiếm trong giới khoa học, cả trong và ngoài nước. Ví dụ từ điển Microsoft Encarta 99 Encyclopedia của Mỹ đã trích sai câu ” ngôn ngữ là hình thức chứ không phải chất liệu” của Ferdinand de Saussure thành ” ngôn ngữ không phải là hình thức cũng không phải là chất liệu. ” Hay có người, cả trong nước lẫn ngoài nước, dẫn một luận điểm được một tác giả dẫn ra để phê phán mà lại bảo là của chính tác giả đó! Đây là hậu quả của một tình trạng “đọc lười nhác, đọc cẩu thả”, nói theo đúng ngôn từ của nhà ngữ nghĩa học thực chứng người Anh I. A. Richards. Ở một số người, tình trạng đọc cẩu thả còn thể hiện ở việc đọc nhảy cóc, nối nửa đầu của một đoạn vào nửa sau của một đoạn khác, làm sai lệch hẳn ý của nguyên bản, cho dù có thể người đọc không chủ tâm. Tiếc thay ở nước ta, tình trạng đọc cẩu thả cũng không phải là không xảy ra. Có người đọc một văn bản nước ngoài mà không hiểu ý nên trích sai đã đành, nhưng ngay cả đối với văn bản tiếng Việt mà cũng có nhiều người trích sai, điều này chỉ có thể giải thích bằng tình trạng đọc cẩu thả, đọc nhảy cóc. Việc trích sai như thế rất nguy hiểm, bởi vì khi người khác trích lại một lời trích sai thì cái sai cứ thế lây lan và không thể cứu vãn được nữa. Tất nhiên việc trích lại là điều hoàn toàn hợp pháp. Khi người ta không có khả năng tiếp cận với bản gốc thì người ta có quyền trích lại. Tuy nhiên, nếu có ai đó trích lại một ý kiến sai mà cứ “vô tâm” không nói rõ mình trích theo ai, thì người đó sẽ vô tình “lãnh đủ” lỗi của người đi trước. Chuyện này tôi đã có lần nói rõ trên báo chí, và trong một khoa cũng được chua bằng tiếng Anh là ” The Brothers Karamazov“. Ở đây, các quy chuẩn về ngôn ngữ khoa học đang bị phá huỷ, một phần do bị lây nhiễm bởi hiện tượng quốc tế hoá tiếng Anh trong đời sống xã hội và thương mại. Hơn nữa, càng ngày ta càng thấy ảnh hưởng của hiện tượng quốc tế hoá tiếng Anh từ phía đời sống xã hội và thương mại sang các lĩnh vực khác đang tỏ ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

    Tóm lại, ở đây có hai câu hỏi đặt ra là: 1. Tại sao phải giải nghĩa từ nguyên cho các thuật ngữ; và 2. Tại sao lại phải giải nghĩa từ nguyên cho các thuật ngữ trong tiếng nước ngoài? Rõ ràng nếu không trả lời được hai câu hỏi này thì việc giải nghĩa sẽ là một việc làm vô nghĩa: nó không đem lại ý nghĩa gì cho nội dung khoa học của công trình, cũng như không đóng góp gì cho lĩnh vực ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Quả thực, hiện tượng chua và giải nghĩa từ nước ngoài một cách vô cớ như thế này sẽ gây một cảm giác rất khó chịu.

    Trong các văn bản nước ngoài, nhìn chung không có hiện tượng nói trên. Chỉ khi đang nói đến một tác giả hay một tác phẩm thuộc một ngôn ngữ đã được xác định, thì người ta mới chua thêm những từ thuộc ngôn ngữ đó mà không cần ghi thêm danh tính ngôn ngữ của những từ đó. Ví dụ, khi đang nói đến đại triết gia người Đức Hegel, thì khi chua nguyên văn từ dùng của Hegel, người ta sẽ không phải chú thích thêm là “bằng tiếng Đức” nữa. Cũng như khi nói đến nhà triết học người Pháp Descartes, người ta sẽ không phải chua thêm là “bằng tiếng Pháp”. Còn khi trình bày quan điểm của chính mình, thì người ta rất ít khi phải chua thêm tiếng nước ngoài, bởi vì giữa các nước phương Tây có một sự tương đương về thuật ngữ khoa học khá phổ biến. Đặc biệt người ta không bao giờ dùng một thứ tiếng nước ngoài để chua cho tất cả mọi văn bản, giống như ở ta nhiều người vẫn dùng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp để chua. Duy nhất có lẽ chỉ có tiếng Latin là được dùng để chua mà người ta không cần phải nói rõ đó là tiếng Latin, vì đó là tiếng cổ phổ thông của các nước châu Âu.

    Song, có lẽ vì thấy quy cách chua tiếng nước ngoài là một chuyện mà ai cũng hiểu, cho nên các cuốn sách về phương pháp luận của nước ngoài đã không liệt kê nó vào trong số những quy cách trình bày công trình khoa học bắt buộc phải tuân theo. Thế nhưng ở Việt Nam, do có sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá, do chưa dám chắc về chữ dùng của mình cũng như chưa dám chắc về trình độ hiểu của người đọc, cho nên ban đầu các nhà khoa học đã phải chua thêm tiếng nước ngoài, mà thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, đối với một số thuật ngữ mới. Việc làm đó là hoàn toàn chính đáng. Sau đó có nhiều người bắt chước theo và thế là nó trở thành một hiện tượng lạm dụng mà không cần có nguyên tắc hoặc quy cách. Nhưng nếu đứng từ góc độ phương pháp luận mà nhận xét thì chúng ta sẽ thấy việc làm thiếu nguyên tắc này rất mâu thuẫn và phi lý. Còn nếu đứng từ góc độ tâm lý người tiếp nhận thì những hiện tượng như vậy sẽ gây cho người đọc một cảm giác khó chịu. Vậy tại sao những tác giả rất cẩn trọng về quy cách phương pháp luận nói trên đã không nhận ra điều ấy. Đó là vì họ đã máy móc tiếp nhận các cuốn sách giáo trình của nước ngoài mà không quan sát các hiện tượng thực tế ở Việt Nam và không dựa vào điều kiện và đặc điểm ngôn ngữ – văn hoá của Việt Nam để điều chỉnh và bổ sung thêm các nguyên tắc và quy cách mới. Đáng ra họ phải bổ sung thêm ” quy cách về việc chua thêm từ nước ngoài” và ” nguyên tắc về việc chua bản gốc “. Phải chăng đây là biểu hiện của một căn bệnh tiếp thu thụ động cố hữu?

    Tóm lại theo tôi, về nguyên tắc, việc chua từ bằng tiếng nước ngoài chỉ được phép thực hiện trong hai trường hợp sau: 1. Khi từ được chua là một thuật ngữ mới và đang có nhiều cách hiểu và cách dịch khác nhau; hoặc khi gặp phải một thuật ngữ khoa học quan trọng thì ta có thể chua thêm thuật ngữ tương đương của ngôn ngữ nước ngoài để người đọc tham khảo nhằm xác định rõ hơn nghĩa nội hàm của thuật ngữ đó. Và tất nhiên, khi chua phải ghi rõ từ được chua là từ thuộc ngôn ngữ nào, trừ trường hợp đang nói đến tác giả thuộc một ngôn ngữ đã được xác định. 2. Khi ta đang đề cập đến quan điểm của một tác giả nghiên cứu người nước ngoài, thì ta có thể chua thêm chữ dùng nguyên văn của tác giả đó; và thông thường, tác giả là người nước nào thì ngôn ngữ viết của người đó sẽ là ngôn ngữ của nước đó. Trong trường hợp này, ta sẽ không cần chua thêm danh tính của ngôn ngữ dùng để chua, ngoại trừ trường hợp tác giả đó viết bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ thuộc quốc tịch của anh ta thì ta phải chú thích thêm. Thông thường, khi chua một từ mà người chua không ghi rõ là ngôn ngữ nào, thì người đọc hoàn toàn có quyền hiểu ngôn ngữ dùng để chua là ngôn ngữ của nguyên tác. Ví dụ, nếu nói đến nhà nghiên cứu hình thức chủ nghĩa người Nga Shklovskij mà không ghi rõ là “bản dịch tiếng Anh”, thì người đọc có quyền hiểu rằng ông này viết công trình của mình bằng tiếng Anh, trong khi đó trên thực tế Shklovskij lại viết bằng tiếng Nga, và tên nguyên tác công trình của ông phải là tên tiếng Nga: Iskusstvo kak prijom. Hay nếu ta chua tác phẩm Nghệ thuật thơ ca của Aristote là Poetics, thì người đọc cũng hoàn toàn có quyền hiểu rằng nhà triết học Hy Lạp cổ đại này cách đây hơn 2.300 năm đã biết viết văn bằng tiếng Anh, một điều không có gì phi lý hơn!

    * * *

    Như vậy, những điều phân tích trên cho chúng ta thấy rằng khái niệm ” phương pháp luận” có một trường bao quát rất rộng: nó đi từ thế giới quan qua các phương pháp suy lý lôgic chung, các phương pháp riêng, các thủ pháp, kỹ thuật thao tác, đến các quy cách trình bày kết quả khoa học. Tức là nó mang một ý nghĩa bao quát rộng hơn so với nghĩa được gán cho cuốn chuyên luận triết học của Descartes. Thực chất, nó cũng có nghĩa là “phương pháp học” và được dùng để chỉ một lĩnh vực khoa học cụ thể. Tuy nhiên, không nên đồng nhất nó với “khoa học luận”. Đây là nói về trường bao quát của phương pháp luận, nhưng còn về nghĩa nội hàm của nó thì ta phải định nghĩa như thế nào?

    Theo định nghĩa của cuốn từ điển bách khoa vào loại mới nhất của Pháp, Le petit Larousse illustré năm 2000, thì từ méthodologie trong tiếng Pháp có nghĩa là ” Việc nghiên cứu một cách có hệ thống, thông qua quan sát, đối với công việc thực hành khoa học, đối với các nguyên tắc làm thành cơ sở cho việc thực hành công việc khoa học đó cũng như đối với các phương pháp nghiên cứu mà nó sử dụng.” Theo nghĩa này thì ta có thể dịch từ méthodologie là ” phương pháp luận/học“. Ngoài ra, từ méthodologie còn có một nghĩa thứ hai là ” Tập hợp các phương pháp và các kỹ thuật của một lĩnh vực riêng biệt.” Theo nghĩa này thì từ méthodologie trong tiếng Pháp còn có nghĩa là ” tập hợp phương pháp“. Theo định nghĩa của từ điển bách khoa Microsoft Encarta 99 Encyclopedia, từ methodology trong tiếng Anh cũng có nghĩa là: ” 1. Khoa học về phương pháp; 2. Một tập hợp các phương pháp được sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động riêng biệt.” ở nước ta, “phương pháp luận” là một thuật ngữ ngoại nhập mới, cho nên nó cũng có hai nghĩa. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “phương pháp luận” là: “1. Học thuyết về phương pháp nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội ngành khoa học đó.

    Ví dụ, cái “phương pháp phân tích” theo cách gọi của nhiều người và được coi là một phương pháp chung, khi áp dụng cho nghiên cứu văn học thì nó sẽ không thể được gọi là “phương pháp phân tích” chung chung, mà nó phải được áp dụng để phân tích một khía cạnh cụ thể của đối tượng, chẳng hạn như để phân tích cấu trúc tác phẩm, phân tích tâm lý nhân vật… Như vậy thì khi đó nó sẽ phải được gọi là “phương pháp phân tích cấu trúc” hay “phương pháp phân tích tâm lý”, và như thế cái “từ khoá” của hai phương pháp này phải là ” cấu trúc” và ” tâm lý ” chứ không phải là “phân tích”, đến nỗi người ta có thể quên cái vế chữ “phân tích” đó đi để chỉ nói một cách đơn giản là “phương pháp cấu trúc” và “phương pháp tâm lý”. Tương tự, những phương pháp chung khác như “phương pháp tổng hợp”, “phương pháp điều tra”… cũng phải chịu một số phận như vậy.

    Những điều nói trên cho thấy rằng, khi nghiên cứu về phương pháp của một lĩnh vực cụ thể thì ta phải gắn liền phương pháp với các đối tượng cụ thể của ngành khoa học đó. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các phương pháp cụ thể cũng không thể được tiến hành một cách biệt lập, tách rời khỏi phương pháp luận chung. Ở nước ta hiện nay, các công trình về phương pháp luận nghiên cứu khoa học mới chỉ quan tâm một phần đến khâu phương pháp luận chung, trong khi đó lại quá chú trọng đến các quy cách thực hiện công trình nghiên cứu mà chưa đề cập đến phương pháp luận chuyên ngành. Còn các bài viết về phương pháp luận chuyên ngành lại chưa làm rõ được mối quan hệ giữa nó với phương pháp luận chung, cũng như chưa làm rõ được mối quan hệ giữa phương pháp luận với phương pháp. Như vậy là tình hình nghiên cứu phương pháp luận ở nước ta vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa vì có nhiều công trình chỉ quá chú trọng đến những lĩnh vực mà thực ra chúng có thể được gọi là phần phụ lục của phương pháp luận, ví dụ như lĩnh vực quy cách trình bày một công trình khoa học. Thiếu vì chúng chưa quan tâm thoả đáng đến các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và đến mối quan hệ giữa các phương pháp chung. Do đó ở đây, đối với lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học, tôi sẽ tập trung sự quan tâm vào hai khâu: các nguyên tắc phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Theo tôi, đây là hai khâu vẫn chưa được bàn đến một cách thấu đáo và biện chứng. Nhưng trước khi rút ra các nguyên tắc phương pháp luận và tìm hiểu các nguyên tắc, tôi muốn chúng ta cùng xét xem các phương pháp luận có tính hệ thống hay không.

    CHÚ THÍCH:

    A. Bushmin, “Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học”, tạp chí Khoa học xã hội (tiếng Nga), số 3, 1981, tr. 88-103 (bản dịch tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1982).

    ), tập I, Nxb. Giáo dục, H., 1985, tr. 26.

    G. Kosikov, ” ‘Phê bình mới’ của Pháp và đối tượng nghiên cứu văn học”, trong sách Lý thuyết, trường phái, quan niệm (tiếng Nga), Nxb. Khoa học, Moskva, 1977, tr. 37-65 (bản lược thuật tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1978).

    Trích theo Phương Lựu, như trên, tr. 650.

    Xem Ion Pascadi, Nivele estetice Ju. Barabash, “Nghệ thuật với tư cách là một đối tượng của sự nghiên cứu tổng hợp” (t. Nga, bản dịch t. Việt của Viện Thông tin KHXH, 1975).

    Ju. Borev, “Phê phán chủ nghĩa cấu trúc tư sản và địa vị khoa học của phương pháp cấu trúc” (tiếng Nga, bản lược thuật tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1978).

    A. Bushmin, “Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học”, nguồn đã dẫn.

    Xem Nguyễn Văn Dân, “Để có một nền lý luận phê bình văn học chất lượng cao”, tạp chí Nhà văn, số 7 – 2001.

    Nguồn: Trích Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2012, (in lần thứ ba).Copyright © 2012-2014 – Phê bình văn học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Gì, Điều Trị Bao Lâu Thì Khỏi
  • Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Phương Pháp Gì?
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 11939:2017 Về Thực Phẩm
  • Dẫn Luận Ngôn Ngữ Học (Ms
  • Dẫn Luận Ngôn Ngữ. Các Phương Thức Ngữ Pháp Có Trong Tiếng Anh, Tiếng Việt Zalo 093 189 2701
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Vai Trò Của Phương Pháp Luận Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Dns Là Gì? Cách Sử Dụng Và Trỏ Tên Miền Với Các Loại Dns Server
  • Abo Là Gì? Đam Mỹ Là Gì? Tổng Hợp Các Kiến Thức Liên Quan Về Abo
  • Abo Văn Là Gì ?
  • Nồng Độ Ph Là Gì? Độ Ph Có Ảnh Hưởng Gì Trong Hệ Thống Xử Lý Nước Thải?
  • Vai Trò Của Chỉ Số Cảm Xúc (Eq) Là Gì?
  • Với sự phát triển như hiện nay, con người cần phải trang bị cho mình lý luận của phương pháp luận đầy đủ. Vậy phương pháp luận là gì? Phương pháp luận có vai trò thế nào trong triết học?

    Phương pháp luận là gì?

    Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ các quy luật khách quan, thường dùng để điều chỉnh các hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã định sẵn.

    Phương pháp luận không có định nghĩa chính xác, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu theo cách phổ biến nhất. Phương pháp luận là hệ thống các nguyên lý, các quan điểm là cơ sở có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng như lựa chọn, vận dụng phương pháp.

    Hay có thể hiểu phương pháp luận là lý luận về phương pháp. Bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới quan của con người. Sử dụng các phương pháp, nguyên tắc để giải quyết vấn đề đã đặt ra để có hiệu quả cao.

    Phân loại phương pháp luận được chia làm 3 cấp độ chính:

    – Phương pháp luận ngành: Là phương pháp luận cho các ngành khoa học cụ thể

    – Phương pháp luận chung: Khi đó các quan điểm, nguyên tắc chung hơn cấp độ ngành, dùng để xác định phương pháp hay phương pháp luận của nhóm ngành có đối tượng nghiên cứu chung.

    – Phương pháp luận chung nhất: Khái quát các quan điểm, nguyên tắc chung nhất. Để lấy cơ sở xác định các phương pháp luận ngành, chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn.

    Vai trò của phương pháp luận trong triết học Mác – Lê nin

    Đối với nhận thức và thực tiễn phương pháp luận có vai trò chỉ đạo sự tìm kiếm. Xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp để thực hiện hoạt động nhận thức, thực tiễn, đóng vai trò định hướng trong quá trình tìm tòi, lựa chọn, vận dụng phương pháp.

    Triết học Mác – Lê nin là hạt nhân lý luận về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. Trong đó triết học giữ vai trò định hướng cho sự củng cố. Đồng thời phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử. Trang bị thế giới quan chỉ là một khía cạnh nhỏ của triết học Mác – Lê nin. Phương pháp luận của triết học Mác – Lênin đã góp phần quan trọng chỉ đạo, định hướng cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    Hy vọng những chia sẻ của chúng mình có thể giúp các bạn hiểu được về phương pháp luận là gì và vai trò của nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Autoarchive Trên Outlook Là Gì? Nó Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Mã Puk Điện Thoại Là Gì? Cách Lấy Mã Puk Như Thế Nào?
  • Si (Shipping Instruction) Là Gì?
  • Si Trong Xuất Nhập Khẩu Là Gì?
  • Mạng 4G Là Gì? 4G Lte Là Gì? 4G Và 4G Lte Giống Hay Khác?
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Và Phân Loại Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Tất Nhiên Và Ngẫu Nhiên
  • Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Là Gì
  • Lịch Sử & Ý Nghĩa Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Việt Nam 22/12.
  • Đặt Tên Hay Cho Bé
  • Rip Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Rip
  • 1.1. Phương pháp luận là gì

    Phương pháp luận là mặt học thuyết hay lý luận về phương pháp, hay hệ thống những quan điểm, nguyên lý đã được công nhận là chuẩn xác và sử dụng hiệu quả.

    Theo như quan điểm của triết học Mác – Lênin thì phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn.

    Phương pháp luận là một phạm trù rất rộng, phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn. Cho nên để biết rõ về phương pháp luận cần hiểu rõ ý nghĩa của nó. Một số ví dụ nổi bật về phương pháp luận:

    • Phương pháp Hiện tượng học (Phenomenology)
    • Phương pháp Dân tộc học (Ethnography)
    • Phương pháp Lý thuyết cơ sở (Grounded Theory)

    1.2. Ý nghĩa của phương pháp luận

    Phương pháp luận là gì là điều mà chúng ta cứ mãi thắc mắc và đã được hé lộ ở trên. Thế ý nghĩa phương pháp luận ra sao, nó có thật sự quan trọng hay không?

    Có phương pháp luận, bài nghiên cứu của bạn không những logic trong cấu trúc câu từ mà nội dung có sức thuyết phục rất cao. Phương pháp luận có ý nghĩa như cách để xác định hướng đi cho tiến trình nghiên cứu một đề tài và tìm ra cấu trúc logic nhất cho các công trình khoa học hiện tại.

    Phương pháp luận cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, cách để nâng cao tiềm lực khoa học và để các công trình khoa học đạt hiệu quả cao.

    Trong nghiên cứu khoa học, phương pháp luận là những hệ thống, nguyên lý, quan điểm làm cơ sở để xây dựng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu khoa học.

    Các quan điểm mà phương pháp luận nghiên cứu khoa học đưa ra thường mang khuynh hướng triết học, tuy nhiên không đồng nhất với triết học.

    Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học cũng được xem như là một hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cơ chế sáng tạo.

    2. Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận được chia làm hai loại chính, đó là:

    2.1. Phương pháp luận bộ môn (ngành)

    Phương pháp luận bộ môn hay phương pháp luận môn học có cấp độ hẹp nhất. Ở phương pháp này, các nguyên tắc và quan điểm được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, nó phải phản ánh được quy luật của một lĩnh vực cụ thể như triết học, kiểm toán, văn học, toán học,…

    2.2. Phương pháp luận chung

    Phương pháp luận chung được chia thành 2 cấp độ khác nhau:

    • Phương pháp luận chung nhất: Là phương pháp thể hiện chung nhất để mô tả tổng quan nhất các nguyên tắc, quan điểm khái quát. Phương pháp này được sử dụng như cơ sở để xác định phương pháp luận chung và phương pháp luận ngành.
    • Phương pháp luận chung: Là phương pháp dùng để xác định phương pháp hay phương pháp luận của nhóm có đối tượng được nghiên cứu chung.

    Đối với phương pháp luận trong kinh tế học, các nhà kinh tế có thể chấp nhận những phương pháp luận trong ngành tự nhiên, nhưng thực tiễn xã hội là một hệ thống mở. Đó có thể là có nhiều biến số can thiệp, hoặc không nhất thiết phải kiểm soát mọi yếu tố như trong phòng thí nghiệm.

    Về chủ nghĩa thực chứng, lý thuyết phải nhất quán với nhau và thể hiện được sự logic của nội dung. Ví dụ một số phát biểu về phương pháp luận “Không gì có thể được chứng minh là luôn luôn đúng”:

    • Chúng ta không bao giờ chắc chắn được rằng mô hình của mình là hoàn chỉnh hoặc đã thiết lập quan hệ nhân quả.
    • Chúng ta tiến bộ nhờ chứng minh vấn đề là sai bằng cách lặp lại các thử nghiệm và loại bỏ những vướng mắc không có tác dụng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mỹ Thuật Phục Hưng Là Gì?
  • Sự Kiện Pháp Lý Là Gì? Các Loại Sự Kiện Pháp Lý? Cho Ví Dụ?
  • Phân Tích Khái Niệm, Vai Trò Và Ý Nghĩa Của Việc Làm
  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Về Ngôn Ngữ Hình Thể Trên Toàn Thế Giới
  • Giá, Biểu Đồ, Vốn Hóa Thị Trường Của Orchid (Oxt)
  • Phương Pháp Và Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Thay Thế Liên Hoàn Là Gì? Nội Dung Và Trình Tự
  • Ý Nghĩa Phương Pháp Tính Giá
  • Điều Trị Ung Thư Gan Bằng Phương Pháp Toce: Biến Chứng Khôn Lường
  • Điều Trị Ung Thư Gan Bằng Phương Pháp Toce Có Hiệu Quả Không?
  • Phương Pháp Thử Động Biến Dạng Lớn Pda
  • 1. Phương pháp

    Theo nghĩa thông thường phương pháp (tiếng Hy Lạp, phương pháp – methodos) là cách thức, thủ đoạn mà chủ thể sử dụng để đạt một mục đích nhất định. Thí dụ để hỏi quả trên cây, người ta có thể dùng nhiều cách: Trèo lên để bứt, dùng gậy để khều, hoặc dùng dao để chặt; muốn qua sông người ta có thể dùng nhiều cách: bơi bằng phao, hoặc dùng thuyền, hoặc dùng bè v.v. Ngay trong việc bơi cũng có nhiều cách như bơi ếch, bơi bướm, bơi sải v.v. Đó là những phương pháp hoạt động thực tiễn. Trong quá trình nhận thức cũng có nhiều cách để đi đến kết quả cần thiết. Thí dụ, để tính toán tổng các số chẵn có hai chữ số: 12 + 14 + 16 + ….+ 98, ta có ba cách: một là cộng lần lượt từ số thứ nhất đến số cuối cùng.

    Hai là có thể nhóm thành từng cặp có giá trị bằng nhau rồi nhân với số lượng các cặp bằng nhau đó: 12 + 98 = 110;

    ………………

    Có 22 cặp số mà tổng bằng 110 vậy tổng dãy số trên là: 22 X 110 = 2420.

    Cách thứ ba: ta có nhận xét nếu cộng tổng hai dãy số trên theo thứ tự tăng dần và giảm dần như sau:

    12+14+16+……. + 96 + 98

    110 + 110 + 110 + …+ 110+ 110. Có 44 số hạng bằng 110 trong tổng này, nên ta có thể tính dễ dàng bằng: 110 X 44 = 4840.

    Nếu định nghĩa một cách khái quát, khoa học và chặt chẽ thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định.

    Định nghĩa nêu trên vừa nói lên được một cách khái quát hình thức thể hiện của phương pháp vừa nói lên được nguồn gốc và vai trò của phương pháp.

    Một vấn đề đặt ra là những nguyên tắc đó được con người rút ra như thế nào, từ đâu, và bản chất của nó là gì? Trả lời vấn đề này có một số quan điểm khác nhau.

    Nguồn gốc và bản chất của phương pháp

    Có một số quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm cho phương pháp là nhũng nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vào đối tượng nhận thức và đối tượng tác động thực tế của con người. Thoạt nhìn, chúng ta thấy quan niệm này có vẻ hợp lý. Nhưng xem xét tỷ mỷ hơn chúng ta thấy con người không thể tuỳ tiện đặt ra những cách thức cho hoạt động của mình được. Thí dụ, khi bơi, chúng ta không thể hoạt động một cách tuỳ tiện, mà phải phối hợp cử động chân, tay một cách nhịp nhàng mới bơi được. Neu không phối hợp tay, chân một cách nhịp nhàng, người bơi sẽ không tạo ra một lực nâng tổng họp lớn hơn trọng lượng cơ thể, người đó thì sẽ bị chìm. Một thí dụ khác, khi chèo thuyền phải khua mái chèo theo một tư thế nhất định thuyền mới chạy đúng hướng được, nếu ìchông thuyền sẽ đứng tại chỗ mà không tiến lên phía trước như mong muốn. Như vậy hoạt động của con người không thể tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan được, mà bị quy định bởi tính tất yếu bên ngoài, phụ thuộc vào đối tượng mà con người tác động.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp dù là những nguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt mục đích nhất định, nhưng không được đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan, tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến trong tự nhiên. Phương pháp phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đích đặt ra của chủ thể. Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải do con người tạo ra theo ý nuốn chủ quan thuần tuý của mình. Muốn tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cún đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tính chất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì, v.v. Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đối tượng. Chỉ trên cơ sở đó và sau đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cún và hành động như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết họp các yếu tố đã cho theo một trình tự như thế nào cho họp lý để đạt được mục đích. Như vậy phương pháp mà con người dựa vào đe hoạt động, phải tuân theo một lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng. Rõ ràng phương pháp bắt nguồn từ hiện thực khách quan, phản ánh nhũng quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu chứ không phải là những nguyên tắc được đặt ra một cách tùy tiện, theo ý muốn chủ quan của chủ thể (con người). Nhưng phương pháp phải do hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể mới hình thành được. Hoạt động có ý thức ở đây không phải là ý thức thuần tuý tưởng tượng ra các nguyên tắc, không dựa vào hiện thực khách quan, mà là quá trình ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan, rút ra những mối liên hệ bản chất của đối tượng, căn cứ vào đó để điều chỉnh hoạt động của mình phù hợp với quy luật vận động của đối tượng. Do vậy cũng có thể nói phương pháp là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người.

    Phương pháp làm cho hoạt động củả con người phù họp với quy luật khách quan của đối tượng, nhờ vậy mới nhận thức và cải tạo được đối tượng. Do vậy phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người. Nếu với những điều kiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kết quả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao. Bê-cơn, một nhà triết học Anh thế kỷ XVIII nói: phương pháp như ngọn đèn soi đường đi cho khách lữ hành trong đêm tối. Hêghen – một nhà triết học lỗi lạc của Đức thế kỷ XVIII – XIX cho phương pháp gắn liền với đối tượng và phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp là “linh hồn” của đối tượng. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin rất coi trọng phương pháp, nhất là phương pháp hoạt động thực tiễn cách mạng, phương pháp vận động quần chúng. Chính phương pháp làm cho hoạt động của con người mang tính tự giác, có mục đích và có tính sáng tạo. Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, việc vạch ra mục tiêu phương hướng cách mạng đúng là yếu tố quan trọng cho thành công của cuộc cách mạng. Tuy nhiên nếu không có phương pháp hoạt động cách mạng đúng đắn, thì với những điều kiện vật chất nhất định sẽ không thể đưa cách mạrig tiến lên đế đạt được mục tiêu đã định. Vậy phương pháp là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu hoạt động của con người.

    Căn cứ vào nội dung, phạm vi ứng dụng và mức độ phổ biến người ta phân chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau như:

    – Phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.

    – Phương pháp riêng

    – Phương pháp chung

    – Phương pháp chung nhất (hay phương pháp phổ biến)

    Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ mổn khoa học, cho một đối tượng riêng, cụ thể. Thí dụ: phương pháp phân loại thực vật, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chứng minh trong toán học v.v.

    Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều môn khoa học khác nhau, hoặc cho các đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau như: phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp hệ thống cấu trúc, v.v.

    Phương pháp chung nhất (hay còn gọi là phương pháp phổ biến) áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn. Đó là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng họp, phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá v.v.

    Trong phương pháp nhận thức khoa học lại có thể chia một cách tương đối ra thành nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học.

    Nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở cấp độ kinh nghiệm như:

    Phương pháp quan sát, là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Thí dụ: Quan sát các hiện tượng thời tiết như: diễn biến thời tiết trước, trong và sau khi bão, mưa, lốc xoáy; quan sát, sự biến đổi cây cối trong năm; quan sát sự sinh trưởng của cây. Qua quan sát, con người thấy được các đặc điếm của sự vật và các mối liên hệ giữa đặc điểm này với các đặc điểm khác.

    Phương pháp thí nghiệm, là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng, tạo ra những điều kiện đặc biệt (có tính chất nhân tạo), tách chúng thành các bộ phận và kết họp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng thuần khiết. Thí dụ: lai ghép cây, lai tạo các giống động vật, sinh sản vô tính, thí nghiệm để xác định độ chịu lực của vật liệu, thí nghiệm một phương pháp sản xuất mới, một công nghệ mới. Ngày nay thí nghiệm được sử dụng rộng rãi cả trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật và trong xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

    Nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học gồm những phương pháp sau:

    Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng họp là quá trình liên kết thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhận thức phải kết họp cả quá trình phân tích và tổng họp. Không có phân tích thì không thể tổng hợp được và ngược lại không tổng họp thì phân tích chỉ đưa lại hình ảnh rời rạc về sự vật, không thể có được hình ảnh toàn diện về sự vật.

    Phương pháp kết hợp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức về cái ít chung đến ứi thức về cái chung hơn. Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái ít chung hơn. Quá trình nhận thức phải có sự kết họp giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch mới phản ánh được đầy đủ những đặc tính của sự vật cũng như phát huy được tính tích cực chủ động của hoạt động chủ quan của chủ thể nhận thức.

    Phương pháp lịch sử và lôgic

    Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của đối tượng, phải theo dõi mọi bước đi của đối tượng theo trình tự thời gian.

    Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại lôgic khách quan của sự vật.

    Quá trình nhận thức phải kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic mới phản ánh đúng và đầy đủ được sự vận động phát triển của sự vật. Nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lịch sử tách rời phương pháp lôgic thì nhận thức không thể phản ánh được bản chất của các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử hiện ra trước con neười như một bức tranh rất nhiều màu sắc, nhiều đường nét chằng chịt, nhưng còn lộn xộn, chưa theo trật tự có tính tất yếu. Ngược lại nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lôgic tách rời phương pháp lịch sử thì hình ảnh về sự vật chỉ là một bức tranh không có màu sắc, thiếu đường nét, khô khan nghèo nàn và đon điệu, một bức tranh méo mó về sự vật. Phương pháp lịch sử và lôgic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho con người không những nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật, mà cả những biểu hiện đa dạng của các mối liên hệ đó trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Như vậy kết họp phương pháp lịch sử và lôgic giúp con người phản ánh sự vật đầy đủ, sâu sắc và đúng đắn.

    Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

    Cái cụ thể là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Phản ánh cái cụ thể khách quan trong nhận thức dưới hai hình thức: Thứ nhất, cái cụ thể cảm tính – điểm bắt đầu của nhận thức, hình ảnh cảm tính về cái cụ thể khách quan; thứ hai, cái cụ thể trong tư duy- kết quả của tư duy lý luận, của nhận thức khoa học, phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Cái trừu tượng là một trong những yếu tố, một trong những vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng trong tư duy là kết quả của sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú các mối liên hệ của sự vật. Do vậy trừu tượng là một mặt, một biểu hiện của cái cụ thể trong tư duy, là bậc thang của nhận thức cái cụ thể.

    Nhận thức về một đối tượng nhất định gồm hai giai đoạn (hay hai quá trình) quan hệ chặt chẽ với nhau: Một là đi từ cái cụ thể cảm tính đến cái trừu tượng, hình thành cái trừu tượng trong tư duy. Hai là đi từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành cái cụ thể trong tư duy. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng, nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể cảm tính ban đầu và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy. Đây là phương pháp cơ bản được Mác sử dụng trong Tư bản. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất và cũng không phải là Mác sử dụng một cách tách rời với các phương pháp khác trong Tư bản.

    Như vậy chúng ta thấy có nhiều phương pháp nhận thức khoa học khác nhau, có quan hệ biện chúng với nhau. Sự phân biệt các loại phương pháp chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Trong hệ thống các phương pháp, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định. Tùy từng đối tượng và điều kiện lịch sử khác nhau mà chủ thể hoạt động có thể lựa chọn phương pháp nào đó là phương pháp chủ yếu, nhưng đồng thời kết họp với các phương pháp khác. Không nên coi mọi phương pháp đều ngang bằng nhau, có thế thay thế cho nhau một cách tùy tiện, hoặc một phương pháp nào đó luôn là quan trọng nhất có thể bao trùm, thay thế cho mọi phương pháp khác. Không nên tuyệt đối hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia. Trên thực tế, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thường phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp mới nhanh chóng đạt được mục đích.

    2. Phương pháp luận Khái niệm phương pháp luận

    Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Trong các phương pháp đó có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích họp, đưa lại hiệu quả thấp. Làm thế nào để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp. Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp. Đó chính là phưo’ng pháp luận. Vậy ta có thể nói phương pháp luận là lý luận về phương pháp (hay khoa học về phương pháp).

    Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: Phương pháp là gì? bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào? cách phân loại phương pháp như thế nào? vai trò của phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào? phương pháp thích hợp nhất là phương nào V.V.? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn và nhận thức thích họp. Từ đó ta có thể định nghĩa phương pháp luận một cách rõ ràng hơn như sau:

    Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát rút ra từ một lý thuyết hoặc một hệ thống lý luận nhất định, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách họp lý, đưa lại hiệu quả tối đa. Thí dụ phương pháp luận toán học, xuất phát từ việc nghiên cún các lý thuyết toán học để đề xuất được những nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán học V.V.; phương pháp luận kinh tế học có nhiệm vụ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế, để rút ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản như: quan điểm về hiệu quả; quan điểm về tiến bộ xã hội; quan điểm về phát triển bền vững v.v. làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v. Việc lựa chọn một phương pháp kinh tế cụ thể nào đó phải xuất phát từ các nguyên tắc phương pháp luận chung đó.

    Phân biệt phương pháp luận và phương pháp

    Phương pháp và phương pháp luận không đồng nhất với nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là nhũng quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp một cách đúng đắn, còn phương pháp là những nguyên tắc cụ thể để chủ thể dựa vào đó điều chỉnh cách thức hoạt động cho thích họp với một đối tượng cụ thể. Phương pháp luận là những nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết mang tính chất thuần tuý lý luận, chưa gắn với một đối tượng cụ thể nào. Mỗi hệ thống lý luận (thậm chí mỗi lý thuyết) đều bao hàm một nội dung phương pháp luận nhất định. Còn phương pháp là những nguyên tắc nhận thức và hoạt động thực tiễn được rút ra từ tri thức về các đối tượng cụ thể. Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp nhưng không nhằm ‘mục đích xác định một phương pháp cụ thể nào, mà nhằm rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát, làm cơ sở cho việc xác định và áp dụng phương pháp, còn phương pháp là những nguyên tắc do kết quả nghiên cứu đối tượng, những nguyên tắc quy định các thủ đoạn cụ thể để tiếp cận đối tượng và cải tạo các đối tượng cụ thể.

    Tuy nhiên phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ phương pháp và phương pháp luận đều phản ánh nhũng mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan, chính vì vậy nó mới là cơ sở cho hoạt động của con người. Phương pháp luận là cơ sở lý luận cho việc xác định các phương pháp cụ thể, còn phương pháp phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận để xác định các cách thức hoạt động phù hợp với một đối tượng nhất định.

    Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau.

    Phương pháp luận môn học là cấp độ hẹp nhất, trong đó các quan điểm, các nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, phản ánh quy luật của một lĩnh vực cụ thể. Những nguyên tắc đó chỉ là cơ sở để xác định các phương pháp của một môn học nhất định nào đó.

    Phương pháp luận chung có cấp độ rộng hơn phương pháp luận môn học, đó là những quan điểm, nguyên tắc được rút ra từ những lý thuyết khoa học phản ánh quy luật chung của một số môn học, hoặc một số lĩnh vực của hiện thực khách quan. Những ngiịyên tắc chung này làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp chung cho một số môn học hoặc một số lĩnh vực nào đó, Thí dụ phương pháp luận chung của các môn khoa học xã hội, hay phương pháp luận chung của các môn khoa học tự nhiên v.v.

    Phương pháp luận chung nhất (hay phương pháp luận phổ biến) có cấp độ rộng nhất, đó là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất được rút ra từ những lý thuyết khoa học có cấp độ khái quát cao nhất, làm cơ sở cho việc xác định phương pháp chung cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, phương pháp luận chung nhất được rút ra từ lý luận triết học, trong đó phép biện chứng là một trong những bộ phận quan ứọng nhất của lý luận triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tất Tần Tật Về Phương Pháp Giáo Dục Steiner
  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non Steiner Là Gì?
  • Phương Pháp Giáo Dục Steiner Là Gì?
  • Swot Là Gì? Phân Tích Swot
  • Phân Tích Swot Là Gì Và Ứng Dụng Swot Như Thế Nào?
  • Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử & Ý Nghĩa Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Việt Nam 22/12.
  • Đặt Tên Hay Cho Bé
  • Rip Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Rip
  • Đá Ruby Là Gì ? Ý Nghĩa Của Đá Ruby Trong Phong Thủy ?
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Của Đá Ruby Trong Phong Thủy
  • ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong , Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Là Gì, ý Nghĩa Phương Pháp Luận, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Các Cặp Phạm Trù, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Vật Chất, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Sản Xuất Vật Chất, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Chiến Tranh, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Thực Tiễn, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Tiếng Pháp, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Ngoài Các Phương Pháp Dạy Học Đã Được Giới Thiệu Trong Những Vấn Đề Chung Về Phương Pháp Dạy Học Và, Ngoài Các Phương Pháp Dạy Học Đã Được Giới Thiệu Trong Những Vấn Đề Chung Về Phương Pháp Dạy Học Và , Phương Pháp Luận Là Gì, Phương Pháp Luận, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học (3 Tín Chỉ), Lý Luận Phương Pháp Dạy Học, Phương Pháp Làm Bài Lý Luận Văn Học, Luận Văn Phương Pháp L, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học, Phương Pháp Luận Sử Học, Bài Mẫu Luận Văn Lí Luận Và Phương Pháp Dạy Học Toán Lớp 10, Tiểu Luận Phương Pháp Dạy Đại Học, Tiểu Luận Về Phương Pháp 5s, Phuong Phap Luận Tư Vấn Giám Sát, Tiểu Luận Phương Pháp Đổi Mới Dạy Học, Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Phương Pháp Luận Khoa Học Là Gì, Phương Pháp Luận Becon, Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý, Tiểu Luận Phương Pháp 5s, Bài Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Toán Sơ Cấp, Lý Luận Và Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất, Đề Tài Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Các Phương Pháp Luận Trong Triết Học, Bài Thu Hoạch Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Tiểu Luận Phương Pháp Học Hiệu Quả, Bài Mẫu Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Luận Văn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Môn Toán, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Toán, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Luận Siêu Hình, Phương Pháp Luận Biện Chứng, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì, Tiểu Luận 2 Phương Pháp Giá Trị Thặng Dư, Thế Giới Quan Và Phương Pháp Luận, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Phương Pháp Luận “nguyên Lý Về Sự Phát Triển”, Chương Trình Đào Tạo Thạc Sĩ Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học, Tham Luận Về Phương Pháp Bán Sách Ngoại Văn, Bài Thảo Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Thảo Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư, Tiểu Luận Các Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Đề Cương Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Khóa Luận Tốt Nghiệp Phương Pháp Toán, Tiểu Luận Phương Pháp Biện Chứng Duy Vật, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế, Tiểu Luận Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương, Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương, Vận Dụng Thế Giới Quan Và Phương Pháp Luận Để Làm Sáng Tỏ Một Vấn Đề, Giáo Trình Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Luận Văn Về Phương Pháp Dạy Tập Làm Văn Theo Quan Điểm Giao Tiếp, Vận Dụng Thế Giới Quan Và Phương Pháp Luận Trong Quá Trình Học Tập, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vượng, Tham Luận Về Phương Pháp Hỗ Trợ Sinh Viên 5 Tốt Sau Tuyên Dương, Luận án Về Phương Pháp Dạy Họ Theo Quan Điểm Giao Tiếp, Luận Văn Về Phương Pháp Dạy Học Vần Theo Quan Điểm Giao Tiếp, Khóa Luận Bằng Chứng Kiểm Toán Và Phương Pháp Thu Thập, Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vuọng, Vai Trò Thế Giới Quan Và Phương Pháp Luận Của Triết Học Mac-lê Nin Trong Thời Đại Ngày Nay, Tiểu Luận Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Phải Vận Dụng Những Nguyên Tắc Phương Pháp Luận (quan Điểm) Nào Của Triết Học Mác-lênin?, Luận Văn – Đề án ‘Đề Tài “hoạt Động Công Chứng Của Nhân Dân Địa Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp”, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng Tại Địa Phương/Đơn Vị, Pháp Luật Về Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động – Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn” Của Tác Giả , Pháp Luật Về Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động – Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn” Của Tác Giả, Phương Trình Hóa Học Nào Sau Đây Thể Hiện Cách Điều Chế Cu Theo Phương Pháp Th, Tiểu Luận Xây Dựng Thang Bảng Lương Lương Theo Phương Pháp So Sánh, Tiểu Luận Phương Pháp Dạy Tiếng Việt ở Tiểu Học,

    ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Phương Thức Sản Xuất, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong , Vận Dụng ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện Và Xu Thế Đa Dạng Hóa Đa Phương Hóa Trong, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Là Gì, ý Nghĩa Phương Pháp Luận, Mối Quan Hệ Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn ý Nghĩa Phương Pháp Luận Vận Dụng Ppl Trong Công Tác, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Các Cặp Phạm Trù, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Vật Chất, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Sản Xuất Vật Chất, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Chiến Tranh, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Thực Tiễn, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền, Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Của Việc Phát Huy Hai Phương Pháp Đó Trong Nền , ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Tiếng Pháp, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Khoa Học, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Ngoài Các Phương Pháp Dạy Học Đã Được Giới Thiệu Trong Những Vấn Đề Chung Về Phương Pháp Dạy Học Và, Ngoài Các Phương Pháp Dạy Học Đã Được Giới Thiệu Trong Những Vấn Đề Chung Về Phương Pháp Dạy Học Và , Phương Pháp Luận Là Gì, Phương Pháp Luận, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học (3 Tín Chỉ), Lý Luận Phương Pháp Dạy Học, Phương Pháp Làm Bài Lý Luận Văn Học, Luận Văn Phương Pháp L, Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Đại Học, Phương Pháp Luận Sử Học, Bài Mẫu Luận Văn Lí Luận Và Phương Pháp Dạy Học Toán Lớp 10, Tiểu Luận Phương Pháp Dạy Đại Học, Tiểu Luận Về Phương Pháp 5s, Phuong Phap Luận Tư Vấn Giám Sát, Tiểu Luận Phương Pháp Đổi Mới Dạy Học, Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Phương Pháp Luận Khoa Học Là Gì, Phương Pháp Luận Becon, Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Dạy Học Môn Vật Lý, Tiểu Luận Phương Pháp 5s, Bài Tham Luận Phương Pháp Học Tập, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Học Đại Học, Luận Văn Thạc Sĩ Phương Pháp Toán Sơ Cấp, Lý Luận Và Phương Pháp Giáo Dục Thể Chất, Đề Tài Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học, Các Phương Pháp Luận Trong Triết Học, Bài Thu Hoạch Phương Pháp Luận Sáng Tạo, Tiểu Luận Phương Pháp Học Hiệu Quả, Bài Mẫu Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Tất Nhiên Và Ngẫu Nhiên
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Và Phân Loại Phương Pháp Luận
  • Mỹ Thuật Phục Hưng Là Gì?
  • Sự Kiện Pháp Lý Là Gì? Các Loại Sự Kiện Pháp Lý? Cho Ví Dụ?
  • Phân Tích Khái Niệm, Vai Trò Và Ý Nghĩa Của Việc Làm
  • Phương Pháp, Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Luận Triết Học Mác Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Biết Các Loài Ong Và Cách Sơ Cứu Khi Ong Đốt
  • Ý Nghĩa Của Qq Là Gì ? Được Viết Tắt Của Những Từ Nào
  • Trắc Nghiệm Sinh 11 Bài 19 (Có Đáp Án): Tuần Hoàn Máu (Tiếp Theo).
  • Xe Crossover Là Gì? Cách Nhận Biết & Phân Biệt Chi Tiết Nhất
  • Hatchback Là Dòng Xe Gì So Sánh Với Những Mẫu Suv Mpv Sedan
  • Thứ năm – 15/12/2016 07:51

    ThS. Trần Thiên Tú

    Phó Trưởng khoa LL M-LN, TT HCM

    `

    Ngoài chức năng thế giới quan, phương pháp luận là một trong hai chức năng cơ bản nhất của triết học, nó định hướng cho con người xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay, do chưa nghiên cứu sâu, có nhiều người vẫn hiểu chưa đúng và chưa phân biệt giữa phương pháp luận với phương pháp luận triết học; ngoài ra, họ còn đồng nhất phương pháp với phương pháp luận, phương pháp luận với phương pháp hệ, phương pháp luận với phương pháp luận triết học. Việc nhầm lẫn này sẽ đánh giá không đúng vị trí, vai trò của triết học trong cuộc sống cũng như hạ thấp chức năng của triết học.

    Hiểu đúng về phương pháp luận nói chung và phương pháp luận triết học nói riêng sẽ có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học lý luận. Trong giảng dạy lý luận, đặc biệt là triết học, giảng viên sẽ phải chú trọng nhiều hơn đến phần ý nghĩa phương pháp luận; trong quá trình học tập, học viên sẽ hiểu sâu phần này hơn; trong hoạt động thực tiễn, con người sẽ biết vận dụng sáng tạo, triệt để hơn lý luận vào thực tế. Tất cả những điều này sẽ giúp con người hiệu quả hơn trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội.

    Với tầm quan trọng như trên, con người phải được trang bị lý luận về phương pháp luận, đặc biệt là phương pháp luận triết học. Để hiểu đúng về phương pháp luận, chúng ta phải hiểu về khái niệm phương pháp, phương pháp luận, phương pháp hệ; các cấp độ của phương pháp và phương pháp luận; vai trò của phương pháp luận triết học.

    1. Phương pháp, phương pháp hệ, phương pháp luận

    a. Phương pháp (methos): Có các cách hiểu về phương pháp như sau:

    Theo phạm vi ảnh hưởng, có thể phân phương pháp thành các cấp độ sau:

    Phương pháp riêng (ngành): là các phương pháp chỉ sử dụng trong các ngành riêng biệt. Mỗi khoa học đều có các phương pháp đặc thù, chỉ sử dụng riêng trong ngành mình, không thể sử dụng cho ngành khác; ví dụ: ẩn dụ, thậm xưng, … trong văn học; log, tích phân, … trong toán học.

    Phương pháp chung: là các phương pháp có thể được áp dụng trong nhiều ngành khác nhau; ví dụ: quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, xác suất thống kê, …

    Phương pháp chung nhất: là các phương pháp có thể sử dụng cho tất cả các ngành khoa học, đó là phương pháp của triết học.

    b. Phương pháp hệ (Methodica): là nhóm các phương pháp được sử dụng phối hợp trong một lĩnh vực khoa học hay một đề tài cụ thể; là hệ thống các thủ thuật hoặc biện pháp để thực hiện có tuần tự, có hiệu quả một công trình nghiên cứu khoa học. Sử dụng phối hợp các phương pháp là cách tốt nhất phát huy các điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của từng phương pháp. Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ sung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của các luận điểm khoa học. Như vậy, thì phương pháp hệ thống nhất với nghĩa thứ 2 của “phương pháp” và được sử dụng trong nghiên cứu khoa học.

    c. Phương pháp luận (Methodology): hiện nay, có nhiều cách hiểu gần giống nhau về phương pháp luận. Có ba cách hiểu phổ biến nhất:

    Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Team Leader Nghĩa Là Gì? Cách Để Trở Thành Một Team Leader Giỏi
  • Giá Net Là Gì? Cách Tính Giá Nét, Giá Gross Chính Xác 100% Cho Doanh Nghiệp
  • Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Của Tính Tiết Kiệm Trong Đời Sống Con Người
  • Quan Trắc Môi Trường Là Gì?
  • Đừng Ngại Thiết Lập Auto Iso Cho Máy Ảnh Số Của Bạn
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Trường Phái Văn Học So Sánh
  • Tổng Quan Văn Học So Sánh
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Của Văn Học So Sánh
  • Khái Niệm Về Luật Học So Sánh
  • Khoa Học Luật So Sánh
  • Phương pháp so sánh là một phương pháp đã xuất hiện từ lâu trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong nghiên cứu văn học nói riêng, bởi lẽ nó xuất phát từ một thực tế là so sánh là một yêu cầu rất tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày của con người. Từ cuộc sống, nó được đưa vào trong nghiên cứu khoa học và dần dần trở thành một phương pháp rất hữu hiệu. Có thể nói ngắn gọn là nhìn chung, so sánh là để xác định sự vật bề mặt định tính, định lượng hoặc ngôi thứ trong mối tương quan với các sự vật khác.

    Tuy nhiên, trong nghiên cứu văn học, phương pháp so sánh có thể được áp dụng chung cho tất cả các bộ môn, nhưng mỗi một bộ môn, việc áp dụng phương pháp so sánh lại phải tuân thủ những quy định khác nhau. Trong bộ môn văn học sử dân tộc, phương pháp so sánh sẽ được tiến hành khác với trong bộ môn văn học sử thế giới, lại càng khác với trong bộ môn văn học sử so sánh, đó là vì tính chất và mục đích của mỗi bộ môn có khác nhau.

    Ở đây chúng ta cần lưu ý một điều: không nên nhầm lẫn giữa hai khái niệm so sánh văn học văn học so sánh. So sánh văn học là một phương pháp phổ biến có thể được áp dụng cho nhiều bộ môn; còn văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nằm giữa văn học sử dân tộc và văn học sử thế giới. Về điều này, nhiều người còn có sự nhầm lẫn. Nhiều người khi nói đến “văn học so sánh” là chỉ nghĩ ngay đến “so sánh văn học”, vì họ tưởng rằng ), trong đó tôi đã giới thiệu lịch sử hình thành của bộ môn văn học so cánh trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời phân tích và rút ra những nguyên tắc phương pháp luận của nó.

    Có thể nói, cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác, bản thân tôi cũng đã đóng góp một phần nhỏ cho việc phát triển bộ môn văn học so sánh ở nước ta, làm sáng rõ về mặt lý luận và phương pháp luận thế nào là so sánh văn học và văn học so sánh, qua đó phát triển phương pháp so sánh cho nghiên cứu văn học nói chung. Đồng thời tôi cũng áp dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu một số đề tài thuộc văn học thế giới, một việc có thể được coi là “văn học so sánh ứng dụng”.

    Và một điều đáng mừng là kể từ năm 1996, lần đầu tiên lĩnh vực lý luận văn học so sánh đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại Khoa Văn học của Trường Đại học KHXH và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, với tư cách là một chuyên đề sau đại học do tôi đảm nhiệm. Từ đó đến nay, nhiều trường đại học khác trên toàn quốc đã triển khai giảng dạy chuyên đề này. Tôi nói “đáng mừng” là vì trước đó, văn học so sánh ở nước ta chưa được quan tâm thoả đáng, thậm chí có nhiều người vẫn chưa công nhận vai trò và ý nghĩa của nó. Nhưng ở đây, khi đề cập đến phương pháp so sánh văn học nói chung tôi sẽ nói đến nó với tư cách là một phương pháp không biên giới, tức là một phương pháp áp dụng cho tất cả các bộ môn nghiên cứu văn học chứ không phải chỉ dành riêng cho bộ môn văn học so sánh.

    Như chúng ta biết, một sự vật không bao giờ tồn tại một cách biệt lập. Cho nên muốn tìm hiểu nó, chúng ta không thể chỉ mổ xẻ, phân tích nó một cách biệt lập, mà còn phải tìm hiểu các mối quan hệ đa dạng và đa chiều của nó. Để làm được điều đó, chúng ta có thể áp dụng một phương pháp rất thông dụng là so sánh. Như vậy, ích lợi lớn nhất của phương pháp so sánh là nó giúp cho chúng ta hiểu rõ bản chất và vị trí của một hiện tượng văn học trong các mối tương quan đa chiều của nó. Tinh thần cơ bản của phương pháp so sánh là hiểu một sự vật thông qua các sự vật khác. Đây chính là một trong những phương châm phổ biến của nhận thức luận từ xưa đến nay. Một ví dụ điển hình cho phương châm này là câu ngạn ngữ phổ biến của nhiều dân tộc: “Hãy nói cho tôi biết các mối quan hệ của anh, tôi sẽ nói anh là ai”. Tất nhiên, chữ “quan hệ” phải được hiểu theo nghĩa đa chiều: có thể là quan hệ tương đồng, thân thiện, nhưng cũng có thể là quan hệ mâu thuẫn, đối lập, vv…

    Trong nghiên cứu văn học, ta có thể so sánh một hiện tượng văn học với các hiện tượng cùng loại, nhưng cũng có thể so sánh với cả các hiện tượng đối lập để làm nổi bật bản chất của cái hiện tượng được đem ra so sánh. Việc so sánh như thế sẽ giúp ta thấy rõ bản chất của hiện tượng, từ đó xác định được vị trí của nó trong một hệ thống và đánh giá được ý nghĩa của nó trong hệ thống đó. Đây cũng chính là mục đích của các bộ môn văn học sử nói chung.

    Tiếc thay, rất nhiều người khi nghiên cứu so sánh Truyện Kiều thường hay xuất phát từ một định kiến về sự hơn thua. Họ đã có sẵn trong đầu cái định kiến không cần chứng minh về sự hơn hẳn của Truyện Kiều của Nguyễn Du so với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ví dụ trong cuốn sách Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, ở cuối sách tác giả tuyên bố rất rõ ràng rằng: “Điều khó nhất là thái độ chân thành, triệt để khách quan, nỗ lực phân tích đến cùng cái mỹ cảm của mình, chỉ tin vào cái gì được quy ra thành quan hệ rõ ràng và tách bạch, không để cho một định kiến nào chi phối, dù định kiến ấy có được cả giới ngôn ngữ học thừa nhận”, nhưng ngay từ đầu cho đến khi kết thúc cuốn sách thì ông lại để cho mình bị chi phối bởi cái định kiến rất to lớn về sự hơn thua, đến nỗi ông không hề nhìn thấy những sự giống nhau hiển nhiên giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà lại cố công đi tìm những chỗ được ông gọi là sự “đối lập” giữa hai tác giả, đến mức ông đã không cẩn trọng để đi đến chỗ tạo ra một “hiện trường sai lệch”: đó là việc ông lấy nhầm lời bình được coi là của Kim Thánh Thán ở đầu hồi I của Kim Vân Kiều truyện, cho nó là chính văn của Thanh Tâm Tài Nhân, để đi đến kết luận là tư tưởng trong Kim Vân Kiều truyện là “mâu thuẫn giữa tình và khổ” chứ không phải là “tài mệnh tương đố”, và rằng tư tưởng “tài mệnh tương đố” là của riêng Nguyễn Du chứ không phải của Thanh Tâm Tài Nhân! Chẳng cần phải tìm đâu xa, chẳng cần phải mất công đem cả nền văn hoá Trung Hoa ra để chứng minh cho luận điểm là trong văn hoá Trung Hoa không có thuyết “tài mệnh tương đố”(!) như Phan Ngọc đã cất công tiến hành, mà chỉ cần kiên nhẫn đọc hết Kim Vân Kiều truyện cũng thấy ngay rằng từ đầu đến cuối truyện, Thanh Tâm Tài Nhân đã thấm nhuần tư tưởng “tài mệnh tương đố” như thế nào. Chuyện nhầm lẫn này đã xảy ra từ lần xuất bản đầu vào năm 1985, đáng ra cũng chẳng cần phải nhắc lại, nhưng đến lần tái bản năm 2001, tức là sau 16 năm, Phan Ngọc vẫn để nguyên không sửa (tr. 42), mặc dù từ đó đến nay bản thân tôi đã có nhiều lần nói rõ vấn đề này trên sách báo. Cuốn sách của Phan Ngọc là một cuốn sách có giá trị khoa học nhất định trong việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Du. Đây là kết quả của việc ông đã dành nhiều tâm huyết cho phần nghiên cứu hình thức Truyện Kiều. Giá như phần nghiên cứu nội dung cũng được ông chú tâm như thế thì chắc là sẽ không xảy ra sự nhầm lẫn đáng tiếc nói trên.

    Cùng thời với cuốn sách Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan cũng đã sử dụng phương pháp so sánh một cách tự giác trong công trình Nhà văn hiện đại (xuất bản tại Hà Nội năm 1942 – 1943). Trong công trình này, Vũ Ngọc Phan không chỉ so sánh các nhà văn Việt Nam với nhau, mà ông còn so sánh họ với các nhà văn của nước ngoài. Như thế, công trình của ông vừa mang tính chất của văn học sử dân tộc vừa mang tính chất của văn học so sánh.

    Gần đây, cố GS Phan Cự Đệ đã có một công trình nghiên cứu công phu về cả Thơ Mới lẫn văn xuôi lãng mạn Việt Nam, trong đó ông áp dụng phương pháp so sánh một cách khá kỹ lưỡng để làm rõ những đặc điểm của dòng văn học này. Đó là công trình Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2002), [ in gộp hai chuyên luận đã xuất bản nhiều lần trước đó là Phong trào “Thơ mới” (xuất bản lần đầu năm 1966, Nxb. Khoa học) và Tự Lực văn đoàn – con người và văn chương (xuất bản lần đầu năm 1990, Nxb. Văn học)].

    Trong công trình nói trên, GS Phan Cự Đệ đã dành một phần lớn cho việc khảo cứu Thơ Mới, trong đó ông đặc biệt dành riêng một mục viết về “Một bước tổng hợp mới những ảnh hưởng của văn học nước ngoài trên cơ sở truyền thống cũ của dân tộc”. Trong mục này, GS Phan Cự Đệ đã tuyên bố là ông “áp dụng phương pháp văn học so sánh” (mà đúng ra phải nói là áp dụng lý thuyết của văn học so sánh) để phân tích sự ảnh hưởng của văn học phương Tây và của thơ Đường đối với Thơ Mới, và cho thấy các nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới đã tiếp thu những sự ảnh hưởng đó trên cơ sở bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam như thế nào. Có thể nói, GS Phan Cự Đệ đã áp dụng một cách rất tự giác phương pháp so sánh để làm rõ ý nghĩa cách tân và những hạn chế của Thơ Mới. Ông khẳng định: “Thơ ca Pháp đã có ảnh hưởng rõ rệt vào “thơ mới” trong cách gieo vần, lối ngắt nhịp, lối bắc cầu, cách làm cho ngôn ngữ giàu nhạc điệu, lối diễn tả bằng những cảm giác tinh tế,… Nhưng dầu sao những hình ảnh đó vẫn nằm trong phạm vi hình thức nghệ thuật. Điểm chính vẫn là những ảnh hưởng về nội dung. Khá nhiều bài thơ Pháp có tác dụng gợi ý cho những bài thơ Việt”. Và cuối cùng Phan Cự Đệ kết luận về phần thơ mới: “Nói chung thì, ở cả hai lĩnh vực nội dung và hình thức, “Thơ mới” đã có những đóng góp mang ý nghĩa cách tân, do đó đã đẩy nhanh thơ ca Việt Nam trên con đường hiện đại hoá. Nhưng mặt khác, đứng về phương diện thế giới quan thẩm mỹ, “Thơ mới” lãng mạn cũng có nhiều hạn chế cần phải khắc phục”.

    Đến nay, phương pháp so sánh và văn học so sánh không còn là điều mới lạ đối với phần lớn các nhà nghiên cứu văn học của nước ta. Thậm chí trong một số trường hợp, nếu không sử dụng phương pháp so sánh thì ta khó có thể nắm bắt được bản chất của sự việc.

    Ví dụ như đối với một số hiện tượng văn học mới nhất của chúng ta hiện nay như Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà, nếu chúng ta chỉ phê bình tác phẩm của họ bằng cách mổ xẻ tác phẩm của họ một cách biệt lập, thì chúng ta không thể đánh giá được chính xác bản chất của hiện tượng. Phê bình như thế, chúng ta dễ bị gán cho căn bệnh chủ quan, áp đặt. Đối với hai hiện tượng đó, chúng ta phải so sánh chúng với các hiện tượng văn học cùng loại của phương Tây thì mới xác định được đúng tên gọi của chúng, từ đó mới đánh giá được ưu điểm và nhược điểm của chúng. Việc này chúng tôi đã tiến hành trong công trình chuyên luận văn học phi lý. Qua việc so sánh Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà với văn học phi lý phương Tây, chúng tôi muốn nói rằng hai nhà văn này đã có ý muốn đổi mới mô hình tiểu thuyết, họ đã tiếp thu cái tư tưởng của văn học phi lý để phê phán sự tha hoá và lối sống bầy đàn, nhưng sự phê phán của họ thiếu chiều sâu của chủ nghĩa nhân đạo và của tình yêu đồng loại.

    Tuy nhiên, so sánh là một công việc tương đối nhạy cảm, bởi lẽ nó đụng chạm đến nhiều đối tác. Khi so sánh, ta không chỉ phải đánh giá cái hiện tượng được đem ra so sánh, mà còn phải đánh giá cả các đối tác so sánh của nó. Chính vì vậy, khi so sánh chúng ta phải quán triệt thái độ thận trọng. Để làm được điều này, tôi cho rằng chúng ta cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau đây:

    1. Nguyên tắc khách quan, phi định kiến. Theo nguyên tắc này, khi so sánh ta phải dựa vào thực tế khách quan chứ không được xuất phát từ một định kiến nào đó để đi chứng minh cho cái định kiến đó. Điều này thường hay xảy ra khi các nhà nghiên cứu phải so sánh hai hiện tượng văn học thuộc hai nền văn học khác nhau. Chẳng hạn khi so sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, ta không nên xuất phát từ định kiến cho rằng vì Truyện Kiều là một tuyệt tác rồi nên Kim Vân Kiều truyện chỉ có thể là một tác phẩm “tầm thường”. Ở đây, nhiều khi người ta dễ bị cám dỗ bởi lòng tự tôn dân tộc thái quá mà quên đi nguyên tắc khách quan trong nghiên cứu.

    2. Nguyên tắc so sánh cùng loại khi phân hạng thứ bậc. Một trong những chức năng của so sánh là phân hạng thứ bậc, nhưng khi phân hạng thứ bậc thì các vế so sánh phải thuộc cùng một loại. Cũng giống như trong thể thao, mỗi môn thi đấu đều phải được phân loại theo giới tính, độ tuổi,… Theo nguyên tắc này, trong nghiên cứu so sánh văn học và văn học so sánh, việc phân hạng chỉ được diễn ra trong cùng một hệ thống. Trong một lĩnh vực văn hoá tinh thần tế nhị như thế này, người ta không chấp nhận có sự phân hạng thứ bậc giữa các nền văn học dân tộc. Kiểu đánh giá phân hạng như vậy sẽ dẫn đến chủ nghĩa sôvanh, kỳ thị chủng tộc.

    3. Nguyên tắc so sánh liên ngành. Một sự việc có thể có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá. Nhìn từ một góc độ, ta có thể tưởng nó là hoàn hảo, nhưng nhìn từ một góc độ khác ta lại thấy nó có khiếm khuyết. Nhìn từ nhiều góc độ sẽ giúp ta tiếp cận đa diện đối với vấn đề. Đây chính là tinh thần của nguyên tắc so sánh liên ngành. So sánh đa diện hay liên ngành sẽ giúp ta đánh giá chính xác và toàn diện sự việc.

    4. Nguyên tắc so sánh tổng hợp. Đặt sự việc trong nhiều cấp độ, nhiều hệ thống, chúng ta sẽ thấy hết được mọi ý nghĩa tiềm ẩn của nó và đánh giá đúng các tương quan giá trị khác nhau của nó. Chẳng hạn, nếu chúng ta cứ cố công chứng minh cho sự hơn hẳn của Truyện Kiều so với Kim Vân Kiều truyện để khẳng định sự vĩ đại của Nguyễn Du, thì sẽ không đạt được kết quả thuyết phục bằng việc so sánh vai trò của Truyện Kiều trong văn học Việt Nam với vai trò của Thần khúc của Dante trong văn học Italia.

    Tóm lại, phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học là một phương pháp phổ biến, dễ thao tác nhưng cũng dễ mắc phải căn bệnh chủ quan, áp đặt thiên kiến. Việc nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cách tốt nhất giúp chúng ta đạt được những kết quả khách quan và khoa học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Bài So Sánh Văn Học
  • So Sánh Văn Học Hiện Đại Và Văn Học Trung Đại
  • Kỹ Năng Làm Bài Nghị Luận So Sánh Văn Học
  • Lập Dàn Bài Khái Niệm ,tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ:so Sánh Ẩn Dụ ,hoán Dụ, Nhân Hóa Câu Hỏi 456729
  • Học Ngữ Pháp Tiếng Trung
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100