【#1】Tổ Chức Du Lịch Mice: Khái Niệm, Bản Chất & Sản Phẩm

Du lịch MICE là loại hình du lịch mới với tiềm năng phát triển lớn ở Việt Nam. WTO đánh giá tiềm năng phát triển du lịch MICE tại Việt Nam rất lớn và nếu phát triển các chương trình du lịch MICE sẽ là đối thủ đáng ngại của Singapore – một trung tâm thu hút tổ chức du lịch MICE lớn nhất Đông Nam Á hiện nay. Tuy nhiên, cho đến nay có vẻ nhiều doanh nghiệp, khách hàng vẫn chưa thực sự hiểu rõ về du lịch MICE cũng như các sản phẩm của loại hình du lịch đặc biệt này. Trong bài viết này, Viet Vision Team Building giới thiệu tổ chức du lịch Mice: Khái niệm, bản chất & sản phẩm giúp bạn hiểu hơn về tiềm năng của ngành du lịch thế mạnh trong tương lai.

Thuật ngữ MICE trong ngành du lịch là một loại hình du lịch kết hợp tổ chức hội nghị, hội thảo; hoạt động khen thưởng của các công ty, doanh nghiệp dành cho nhân viên, đối tác. MICE là từ viết tắt của Meetings (hội họp), Incentives (khen thưởng), Conferences (hội nghị, hội thảo) và Exhibitions (triển lãm).

Du lịch MICE vốn không phải là một hoạt động du lịch thông thường mà là một loại hình du lịch cao cấp, có những đặc trưng riêng. Khách hàng của du lịch MICE, thường là các doanh nhân, thương gia, các nhà khoa học, giới nghiên cứu, hay chính khách những người có thu nhập cao, có địa vị và tiếng nói trong ngành nghề của mình cũng như có khả năng chi trả chi phí cao cho các sự kiện du lịch MICE.

Meeting Tour (Du Lịch Gặp Gỡ)

Đây là sản phẩm du lịch được tổ chức để giúp doanh nghiệp gặp gỡ và làm việc giữa doanh nghiệp và đối tác. Loại sự kiện này được tổ chức để trao đổi, đóng góp ý kiến về sản phẩm, dịch vụ mới hay các vấn đề khó khăn cần giải quyết. Trong meeting tour có hai loại hình du lịch nhỏ khác, tùy thuộc vào quy mô của sự kiện:

Association Meeting (Hiệp Hội Gặp Gỡ)

Corporate Meeting (Gặp Gỡ Hợp Tác)

Với quy mô nhỏ hơn association meeting, gồm internal meeting cho các hoạt động nội bộ hoặc external meeting cho việc trao đổi về hợp tác, đầu tư và phát minh mới giữa hai bên.

Incentive Tour (Du Lịch Khen Thưởng)

Du lịch khen thưởng được tổ chức với mục đích chính nhằm khen thưởng nhân viên, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công ty hay tổ chức. Mục đích chính của loại hình này khuyến khích tinh thần làm việc, sự gắn kết giữa các thành viên và nâng cao hiệu quả công việc.

Quy mô của một tour du lịch khen thưởng thường có khoảng từ 100-150 khách tham dự. Một số tour du lịch khen thưởng có thể kể đến như chương trình dã ngoại cho các cán bộ, đoàn thể và tổ chức xã hội, chương trình tập huấn cho công ty….

Du lịch hội thảo là loại hình du lịch kết hợp với hình thức hội nghị, hội thảo nhằm trao đổi thông tin giữa những người, nhóm chuyên gia có cùng trình độ. Hoạt động thường diễn ra trên phạm vi quốc gia hay quốc tế với số lượng khoảng 300 – 1500 người. Du lịch hội thảo gồm 2 loại:

Bid To Host A Convention (Hội Nghị Chủ Nhà)

Một sự kiện mang tầm cỡ quốc tế, do nước chủ nhà đăng cai và các nước thành viên cử đại diện tham dự.

Convention Organized By Members (Hội Nghị Các Nước Thành Viên)

Một loại hội nghị được tổ chức luân phiên giữa các nước tham dự.

Event/ Exhibition Tour (Du Lịch Sự Kiện/ Triển Lãm)

Du lịch sự kiện/ triển lãm là hoạt động xúc tiến, quảng bá sản phẩm/ dịch vụ trong một lĩnh vực nào đó kết hợp với du lịch. Đó có thể là các chương trình liên hoan, hội thi, chương trình du lịch…Tour du lịch triển lãm cũng được phân loại cho các hoạt động chuyên biệt khác nhau, chủ yếu gồm 2 loại:

Trade Show (Triển Lãm Thương Mại)

Hoạt động triển lãm với đối tượng nhắm tới là giới lãnh đạo kinh doanh.

Consumer Show (Triển Lãm Sản Phẩm)

Hoạt động triển lãm được tổ chức nhằm giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đến với khách hàng và người tiêu dùng.

Nhu cầu tổ chức các tour du lịch MICE cho doanh nghiệp ngày càng tăng cao với xu hướng chủ đạo là du lịch hội thảo, hội nghị, khen thưởng kết hợp du lịch nghỉ dưỡng. Vì vậy, mỗi công ty, doanh nghiệp luôn muốn lựa chọn những đơn vị tổ chức du lịch MICE uy tín, chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm đáp ứng được vấn đề bức thiết đặt ra của mình. Viet Vision Team Building với hơn 10 năm kinh nghiệm tổ chức du lịch MICE cho nhiều đoàn khách lớn nhỏ trong và ngoài nước, luôn tự tin là đơn vị tổ chức chương trình du lịch MICE chuyên nghiệp, chất lượng cao và vô cùng hấp dẫn.g

【#2】Những Quan Niệm Về “sản Phẩm Du Lịch”

Theo từ điển tiếng Việt, “sản phẩm do lao động của con người tạo ra”. Theo lý thuyết marketing, “Sản phẩm (product) là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn. Nó có thể là những vật thể, dịch vụ, địa điểm, tổ chức và ý tưởng”. Theo Luật Du lịch, “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.

Còn có nhiều quan điểm về sản phẩm du lịch, nhưng có thể xem xét 3 quan điểm cơ bản sau:

Quan điểm thứ nhất: Người ta xem xét mối quan hệ giữa các cơ sở cung ứng sản phẩm cho khách du lịch trong quá trình đi du lịch.

Có thể thấy rằng: ” Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại dịch vụ và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch trong quá trình đi du lịch”.

Quan điểm thứ hai: Tài nguyên và sản phẩm du lịch

Nói đến sản phẩm du lịch nhiều người thường nhắc đến tài nguyên du lịch (trong đó bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn). Tài nguyên du lịch là một khái niệm rất phong phú về nội dung và rộng về đối tượng (từ hồ nước, bãi cỏ, dòng suối đến ngôi chùa, đình làng, hoặc một trung tâm hội nghị, một sân vận động, một làng nghề…), nhưng trong thực tế không phải tài nguyên du lịch nào cũng được khai thác để phục vụ khách du lịch. Để khai thác những tài nguyên trên, được đòi hỏi phải có những điều kiện sau:

Trước hết, tài nguyên đó phải có tính hấp dẫn và sức thu hút khách du lịch. Các nhà nghiên cứu về du lịch cho rằng tất cả các hiện tượng, sự vật, sự kiện của tự nhiên và xã hội có sức hấp dẫn và sức thu hút đối với khách du lịch được các nhà kinh doanh du lịch giới thiệu cho khách nhằm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao, đó chính là tài nguyên du lịch. Để tạo ra tính hấp dẫn và sức thu hút khách, ngoài các yếu tố tự nhiên, điều quan trọng phải đầu tư trí tuệ và sức sáng tạo của con người. Rất nhiều người thường so sánh tài nguyên du lịch và sự phát triển du lịch của nước ta với các nước trong khu vực nhưng sự so sánh này chưa hợp lý, nhiều nơi không có nhiều tài nguyên du lịch, nhưng với trí tuệ và sức sáng tạo của con người làm du lịch nơi đó trở thành một điểm đến du lịch của thế giới.

Thứ hai, để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch, đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng và các cơ chế chính sách đồng bộ cho khách du lịch vào – ra cũng như đi du lịch thuận tiện. Đó là sân bay, bến cảng, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc… Nếu so sánh các vấn đề này của nước ta với các nước trong khu vực, có thể thấy còn xa Việt Nam mới đuổi kịp các nước (Malaysia, Singapore và Thái Lan) về thu hút lượng khách du lịch quốc tế, vì các sân bay quốc tế của họ có công xuất từ 40 – 60 triệu lượt hành khách/năm, trong khi đó các sận bay quốc tế của Việt Nam có công xuất chỉ trên 10 triệu lượt hành khách/năm. Đó là chưa kể các nước này có hệ thống đường bộ, đường sắt và cảng biển cho tầu du lịch vào – ra thông thoáng. Về vấn đề này có thể lấy kinh nghiệm phát triển du lịch của Bali (Indonesia) làm ví dụ.

Phát triển du lịch tại Bali (Indonesia) Năm 1970, Chính phủ Indonesia có chính sách đưa hòn đảo Bali, một đảo lớn, nhưng còn nghèo trở thành một điểm đến du lịch, một trung tâm hội nghị của khu vực và quốc tế, đồng thời làm động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch của Indonesia. Họ đã nhờ chuyên gia của Tổ chức Du lịch thế giới thực hiện quy hoạch phát triển du lịch. – Về mặt xây dựng cơ sở hạ tầng, ngoài hệ thống đường nội bộ còn có sân bay quốc tế và cảng biển quốc tế để đón khách du lịch trong khu vực và trên thế giới. – Về xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch, phải tuân theo quy hoạch, các khách sạn có chiều cao không quá ngọn cây dừa, tất cả các cơ sở kinh doanh khi xây dựng phải có phương án bảo vệ môi trường. Nhà nước có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch để thu hút khách. – Về vấn đề thu hút khách, Chính phủ miễn thị thực cho công dân 40 nước có nguồn khách lớn đến Bali, mặc dù đến các vùng khác của Indonesia vẫn phải xin thị thực. – Cộng đồng dân cư ở Bali đươc đào tạo với các ngành nghề khác nhau phục vụ khách du lịch (ca nhạc truyền thống, làm đồ thủ công, mỹ nghệ…) – Tại Bali có trường du lịch để đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn du lịch không chỉ cho nhân viên làm việc trong các cơ sở du lịch mà còn các nhân viên của các doanh nghiệp khác cũng như cộng đồng dân cư Bali. Ngày nay, Bali đã trở thành một điểm đến du lịch, một trung tâm hội nghị, hội thảo quốc tế của khu vực và thế giới. Mỗi năm Bali đón tiếp và phục vụ khoảng 4 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Nguồn: Tổng hợp từ các tư liệu về Bali (Indonesia)

Thứ ba, Nhà nước phải có những cơ chế, chính sách thông thoáng cho các hoạt động du lịch phát triển. Đối với các nước phát triển du lịch chủ động (inbound), nhà nước đã miễn thị thực cho công dân các nước có nhu cầu đi du lịch nước ngoài đến du lịch, tạo các điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho họ vào du lịch. Có thể thấy các nước trong khu vực như: Thái Lan, Singapore, Malaysia… đã miễn thị thực cho công dân trên 50 nước vào du lịch. Mặt khác, nhà nước đã tổ chức quy hoạch cho phép các loại dịch vụ nhạy cảm phát triển để phục vụ khách như casino…

Thứ năm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.

Nói đến cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch người ta thường nghĩ đến khách sạn, nhà hàng, quán bar, cơ sở tham quan, nơi mua sắm, nơi giải trí… tất cả những cơ sở này phải đồng bộ với mục tiêu thỏa mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của khách, đồng thời kéo dài thời gian lưu lại của họ. Đó là nguyên lý chung nhưng để đảm bảo cho sự phát triển du lịch toàn diện và có hiệu quả cao người ta thường phân định ra 2 loại: điểm đến du lịch và điểm tham quan du lịch.

Vấn đề xây dựng điểm đến du lịch cũng như điểm tham quan du lịch phải nằm trong quy hoạch và đồng bộ với quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng của cả nước cũng như của từng khu vực, từng tỉnh, thành phố. Việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch phải có các cơ chế, chính sách và luật pháp của nhà nước điều chỉnh.

Thứ sáu, Nhiều ý kiến tổng kết: “Xây dựng một khách sạn 5 sao đã khó, nhưng đào tạo được con người đủ trình độ để vận hành khách sạn 5 sao còn khó hơn gấp bội, nếu trình độ của con người chỉ đạt 2 sao thì sau 2 năm khách sạn sẽ xuống cấp chỉ còn 2 sao”. Điều này nói lên rằng, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (phần cứng) quan trọng, nhưng quan trọng hơn là nguồn nhân lực phục vụ du lịch (phần mềm). Nói đến nguồn nhân lực phục vụ du lịch, mọi người thường nghĩ đến những cán bộ, công nhân viên làm việc trong ngành Du lịch (lao động trực tiếp) mà chưa nghĩ đến đội ngũ lao động gián tiếp phục vụ khách. Đó là những người làm trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương (Ngoại giao, Công an, Hải quan, Giao thông Vận tải…), các nhân viên làm trong các doanh nghiệp như: vận chuyển, thương mại, ngân hàng…, ngay cả cộng đồng dân cư tại các điểm đến du lịch cũng như điểm tham quan du lịch. Hình ảnh du lịch của một địa phương, một đất nước đâu chỉ phụ thuộc vào những người trực tiếp làm du lịch mà phụ thuộc rất lớn vào những người gián tiếp phục vụ du lịch.

Quan điểm thứ ba: Theo quan điểm thị trường, bất kỳ sản phẩm du lịch được tạo thành từ ba yếu tố:

– Thứ nhất, đó là sự trải nghiệm của khách du lịch sau khi thực hiện chuyến đi du lịch. Sự trải nghiệm của khách thông qua việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong du lịch từ: đi lại, ăn, ở, tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm hàng hóa và đồ lưu niệm, các hoạt động của cộng đồng, sự an toàn… Sự trải nghiệm này phụ thuộc vào từng đối tượng khách khác nhau do trình độ nhận thức khác nhau. Từ những trải nghiệm này sẽ đem lại cho khách những cảm xúc nhất định.

– Thứ hai, cảm xúc của khách du lịch đối với con người, văn hóa và lịch sử tại điểm đến du lịch và điểm tham quan du lịch. Những cảm xúc tốt đẹp sẽ tạo ra ấn tượng không thể quên đối với khách và ngược lại cũng vậy.

– Thứ ba, đó là vật chất như: cơ sở hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở lưu trú, ăn uống…phục vụ khách du lịch.

Theo cách hiểu trên, sản phẩm du lịch trước hết thỏa mãn nhu cầu về tinh thần cho con người sau đó mới là nhu cầu về vật chất. Vì thế, đòi hỏi những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch phải có trí tuệ cao và sức sáng tạo lớn để nắm bắt được nhu cầu du lịch đa dạng của mọi người. Mặt khác, cộng đồng dân cư địa phương nơi đón khách phải làm sao tạo ra những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí khách về sự hiếu khách, về bản sắc của cộng đồng, về đặc tính văn hóa và phong tục tập quán của địa phương để họ nhớ mãi và lưu truyền cho bạn bè cũng như người thân của họ.

Xét trên giác độ kinh tế

Khi sản phẩm đưa ra thị trường để bán thì nó trở thành hàng hóa và có thể nói đây là hàng hóa đặc biệt. Nó cũng có thuộc tính chung của hàng hóa, nghĩa là có giá trị và giá trị sử dụng.

Giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch là nó thỏa mãn nhu cầu có tính chất đa dạng của khách du lịch trong quá trình đi du lịch, trong đó có những nhu cầu về sinh lý như: ăn, uống, ở, đi lại, có những nhu cầu về tinh thần: tham quan, tìm hiểu, mở rộng nhận thức, tăng cường giao lưu, được tôn trọng… Chính vì vậy, giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch có tính đa chức năng. Sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ nên giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch cũng trìu tượng, vô hình và chỉ có thể thông qua khách du lịch để đánh giá, đo lường giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch.

Về giá trị của sản phẩm du lịch – là sự kết tinh lao động phổ biến của con người, là kết quả tiêu hao sức lực, trí tuệ của con người. Giá trị của sản phẩm du lịch có thể chia làm 3 nội dung: giá trị của sản phẩm vật chất, giá trị của dịch vụ và giá trị của sức thu hút khách. Giá trị của sản phẩm vật chất có thể dùng thời gian lao động tất yếu của xã hội để đánh giá. Giá trị của dịch vụ được quyết định bởi trang thiết bị, lực lượng lao động với tay nghề, kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tố chất văn hóa…, những yếu tố này rất khác nhau nên khó xác định giá trị của nó. Giá trị của sức thu hút khách là một khái niệm trừu tượng, nhưng lại là một trong những nội dung quan trọng của sản phẩm du lịch, vì thế nó cũng rất khó xác định.

Thông qua việc phân tích sản phẩm du lịch trêncác mặt khác nhau có thể thấy việc thống nhất nhận thức về sản phẩm du lịch là khó khăn, nhưng đối với những người làm kinh doanh du lịch cần phải suy nghĩ để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm cạnh tranh được khách trên thị trường trong nước và quốc tế. Điều rất cơ bản để đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch cần phải đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch một cách thường xuyên và liên tục.

Châu Anh

【#3】Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch

1.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến của con người trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này.

Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,..

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.

Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.

Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.

1.1.2 Khái niệm sản phẩm du lịch

Có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó là: ” Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng (Từ điển du lịch – Tiếng Đức NXB Berlin 1984).

Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó.

Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch.

Các đặc tính của sản phẩm du lịch là :

– Tính vô hình : Sản phẩm DL thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá.

– Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng : Vì sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch, nên khách thường mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm.

– Tính không đồng nhất : Khách hàng khó có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm.

Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau. Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành với công ty bán sản phẩm. Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ.

Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du lịch, yếu tố thiên nhiên và quan niệm của các tác giả, có thể kết hợp các yếu tố căn bản để đưa ra các mô hình sản phẩm du lịch chủ yếu : 4S và 3H của Mỹ và mô hình 6S của Pháp.

Khái niệm du lịch và sản phẩm du lịch

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

【#4】Khái Niệm Về Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch

Khái niệm du lịch

Du lịch đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến của con người trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này.

Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.

Theo các nhà du lịch Trung Quốc: Hoạt động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện.

Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.

Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch.

Các đặc tính của sản phẩm du lịch là :

– Tính vô hình : Sản phẩm DL thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá.

– Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng : Vì sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch, nên khách thường mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm.

– Tính không đồng nhất : Khách hàng khó có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm.

Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau. Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành với công ty bán sản phẩm. Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ.

Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du lịch, yếu tố thiên nhiên và quan niệm của các tác giả, có thể kết hợp các yếu tố căn bản để đưa ra các mô hình sản phẩm du lịch chủ yếu : 4S và 3H của Mỹ và mô hình 6S của Pháp.

Khái niệm du lịch và sản phẩm du lịch

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

【#5】Định Nghĩa Consumer Lease / Hợp Đồng Thuê Của Người Tiêu Dùng Là Gì?

Khái niệm thuật ngữ

Hợp đồng cho thuê tài sản cá nhân như xe hơi, thuyền, sản phẩm gia dụng với tổng nợ dưới 25000$. Hợp đồng cho thuê có lịch trả nợ hàng tháng cố định, thường trên thời kỳ từ ba đến năm năm, và có thể bao gồm quyền chọn mua các tài sản cho thuê khi đáo hạn. Ngân hàng cho thuê được yêu cầu bởi quy định M của Dự trữ Liên bang công bố giá trị thực cho người tiêu dùng. Điều này bao gồm các ký gởi chứng khoán, chi trả hàng tháng, thuế và chi phí đăng ký trong hợp đồng cho thuê mở rộng có thanh toán dồn khi đáo hạn hay không.

【#6】Định Nghĩa Savings And Loans Association / Hiệp Hội Tiết Kiệm Và Cho Vay Là Gì?

Khái niệm thuật ngữ

Định chế tài chính ký thác, được cấp phép tiểu bang hay liên bang, nắm giữ các tài sản chủ yếu về cầm cố nhà ở và thu tiền gửi từ các khách hàng. Định chế tiết kiệm và cho vay có lịch sử từ thế kỷ 19, khi nhiều định chế tổ chức như các hiệp hội tự nguyện được cấp phép tiểu bang. Ngành S&L tồn tại như hiện tại có nguồn gốc từ Đạo luật Ngân hàng khoản Cho vay Chủ sở hữu nhà ở năm 1932, tạo ra Hệ thống Ngân hàng Khoản vay nhà ở liên bang, một mạng lưới các ngân hàng khu vực cho vay hỗ trợ tài chính các định chế S&L được cấp phép tiểu bang.

Đạo luật Khoản vay Nhà Ở Liên bang năm 1993 cấp phép cho các Định chế Tiết kiệm và Cho vay Liên bang, được chứng nhận và giám sát bởi Ủy ban Ngân hàng Khoản vay Nhà Ở Liên bang. Khoản vay gửi trong S&L được đảm bảo bởi Quỹ bảo hiểm Tiết kiệm và Cho vay Liên bang.

Trong thập niên 1980 ngàng S&L được tái cơ cấu lần hai nhằm đem lại cho định chế S&L lợi thế cạnh tranh ngang bằng với các ngân hàng thương mại. Đạo luật giải điều tiết định chế ký gửi & kiểm soát tiền tệ cho phép S&L tham gia vào một số thị trường trước đó, bao gồm cho vay thương mại và cho vay tiêu dùng không cầm cố, và giải điều tiết lãi suất tiền gửi. Đạo luật về Định chế Ký thác GARN-ST GERMAIN năm 1982 tăng tốc giải điều tiết cho S&L, cho phép hình thành quyền sở hữu cổ phiếu S&L, các đầu tư trực tiếp về bất động sản và dành cho Ủy ban Ngân hàng Cho vay Nhà Ở Liên bang một phạm vi rộng rãi hơn trong việc giúp các S&L tạo lập giá trị thuần.

Tuy nhiên việc mạnh mẽ đầu cơ bất động sản buộc nhiều định chế S&L đi đến mất khả năng chi trả vào năm 1989. Đáp ứng trước ngành công nghiệp đứng trên bờ vực sụp đổ, Quốc hội đã ban hành “Dự luật bảo lãnh” cho ngành S&L. Nó đã hình thành Công ty Cấp vốn Thanh lý và Công ty Ủy thác Thanh lý nhằm thanh lý các tài sản của các S&L mất khả năng chi trả và Quỹ Bảo hiểm hiệp hội Tiết kiệm nhằm cung cấp sự bảo vệ bảo hiểm tiền gửi. Ủy ban Ngân hàng cho vay Nhà Ở Liên bang bị giải thể, và các S&L được đặt dưới sự giám sát của Cục Giám sát tiết kiệm, một cơ quan thuộc Bộ Tài Chính. Ủy ban Tài trợ nhà ở Liên bang, một cơ quan mới giám sát các Ngân hàng Cho vay Nhà Ở .

Ngày nay các định chế tiết kiệm và cho vay cung ứng nhiều khoản vay cung ứng nhiều khoản vay tiêu dùng và kinh doanh tương tự như các ngân hàng thương mại.

Xem FEDERAL SAVINGS BANK, SAVINGS BANK.

【#7】Định Nghĩa Consumer Credit / Tín Dụng Của Người Tiêu Dùng (Như Mua Chịu, Mua Trả Dần) Là Gì?

Khái niệm thuật ngữ

Consumer Credit là tín dụng được mở rộng cho các cá nhân hay hộ gia đình sử dụng, thay vì kinh doanh. Theo định nghĩa rộng, tín dụng của người tiêu dùng bao gồm tất cả hình thức tín dụng trả góp ngoài các khoản vay được bảo đảm bởi bất động sản (cầm cố nhà cửa, chẳng hạn) cộng với tín dụng mở rộng như thẻ tín dụng. Tuy nhiên, các hình thức tín dụng mới, đã xóa nhòa những ranh giới này; mức tín dụng mua nhà là mức tín dụng tuần hoàn được đảm bảo bởi bất động sản – một quyền giữ thế chấp đối với nhà của người cho vay.

Nhiều hình thức truyền thống khác của tín dụng người tiêu dùng. như tiền vay mua ô tô, có các hình thức thanh toán hàng tháng tiêu chuẩn – lịch trả nợ cố định trong một năm đến năm năm hoặc hơn – được trả theo lãi suất cố định hoặc lãi suất thau đổi dựa trên một chỉ số. Khoản vay tiêu dùng đáp ứng sự đa dạng nhu cầu: tài trợ việc mua xe hơi hay sản phầm gia dụng, nâng cấp nhà, hợp nhất nợ… Những khoản vay này có thể không được hay được đảm bảo bởi việc chuyển quyền sở hữu, như trong khoản vay mua hơi, hay tiền tại tài khoản của ngân hàng. Nợ của người tiêu dùng được giám soát bởi Ủy ban Dự trữ Liên bang và là một trong những chỉ số hàng đầu về sự tăng trưởng kinh tế.

Xem AMORTIZTION SCHEDULE; CLOSE – END CREDIT; HOME EQUITY CREDIT; RULE OF THE 78’S; REGULATION B; REGULATION Z; SIMPLE INTEREST.

【#8】Định Nghĩa Alternative Depreciation System – Ads / Hệ Thống Khấu Hao Thay Thế Là Gì?

Khái niệm thuật ngữ

Alternative Depciation System (viết tắt là ADS) là một lịch trình khấu hao với giai đoạn phục hồi theo đường thẳng thường phản ánh tuổi thọ của khấu hao tài sản. Người nộp thuế chọn sử dụng hệ thống khấu hao thay thế cảm thấy rằng lịch trình thay thế sẽ cho phép kết hợp khấu trừ khấu hao tốt hơn so với thu nhập so với giai đoạn phục hồi thông thường. Khi họ đã chuyển từ một phương thức thay thế, chẳng hạn như hệ thống thay thế chi phí tăng tốc được sửa đổi (MACRS), người nộp thuế không thể chuyển đổi trở lại.

Giải thích

Người nộp thuế chọn lịch trình ADS phải sử dụng lịch trình này cho tất cả các tài sản cùng loại được đưa vào sử dụng trong năm tính thuế. Tuy nhiên, người nộp thuế có thể chọn lịch trình ADS cho bất động sản trên cơ sở từng tài sản. Lịch trình phục hồi hệ thống khấu hao thay thế được liệt kê trong Ấn phẩm IRS 946.

【#9】Website Là Gì? Trang Web Là Gì? Có Những Loại Nào?

Tìm hiểu khái niệm website là gì có lẽ không phải là công việc khó khăn, trong giai đoạn internet đang bùng nổ và trở nên rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay.

Thông thường, chúng ta thường chỉ bật máy tính, mở các trình duyệt, rồi gõ các địa chỉ website để vào đọc thông tin. Hoặc tìm kiếm thông tin trên các Search Engine, rồi từ trang kết quả lại vào các trang web đích. Rất có thể, đó là việc bạn vừa làm để tìm được bài viết này của tôi.

Đó là việc mà chúng ta làm hàng ngày. Nhưng giờ mà hỏi web là gì thì có thể nhiều người thấy lúng túng để tìm câu trả lời.

Vậy tôi xin tóm tắt lại dưới đây về khái niệm…

Website là gì?

Website là một tập hợp các trang thông tin có chứa nội dung dạng văn bản, chữ số, âm thanh, hình ảnh, video, v.v… được lưu trữ trên máy chủ (web server) và có thể truy cập từ xa thông qua mạng Internet.

Về mặt tiếng Anh, có thể hiểu câu chữ thế này:

web = mạng

site = khu vực, trang

Vậy thì website = web site, thì có thể gọi nhanh là “trang mạng”. Hồi trước tôi thấy nhiều người dùng thuật ngữ này, nhưng giờ ít người còn sử dụng.

Trong các tài liệu quy định của Việt Nam, website thường được gọi với tên là “trang thông tin điện tử”. Cách gọi này hơi dài, nhưng đó là chính tắc, nên chúng ta có thể biết để sử dụng.

Vậy tiện đây, nếu ai đó có thắc mắc…

Trang thông tin điện tử là gì?

Trang thông tin điện tử là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiều trang thông tin được trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet.

Đó là khái niệm nêu trong Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP, khẳng định:

Website = Trang thông tin điện tử

Ngoài ra, thực tế cũng có sự nhầm lẫn về thuật ngữ: giữa “website” và “trang web”, và câu hỏi đặt ra là…

Trang web là gì?

Đó là một trang cụ thể nào đó của website, trong tiếng anh gọi là “web page” hoặc ngắn gọn hơn chỉ là “pages”. Đây là một tài liệu được hiển thị trực tiếp trên trình duyệt như Firefox, Google Chrome, Opera, Microsoft Internet Explorer hay Edge, hoặc Safari.

Một website gồm 1 hoặc nhiều trang web như vậy.

Tuy nhiên, thực tế thì chúng ta thỉnh thoảng vẫn gọi nhầm là trang web khi muốn đề cập đến website. Kiểu như “trang web của bên bạn thế nào”, “công ty bạn có trang web không?”…

Cơ bản chúng ta đều hiểu, nhưng nếu bắt lỗi câu chữ, thì như vậy là chưa chính xác lắm.

Cấu tạo và hoạt động của website

Một website gồm nhiều webpage (trang con) như đã đề cập phía trên. Đó là các tập tin dạng html hoặc xhtml, được lưu trữ tại một máy tính có chức năng là máy chủ (web server). Thông tin trên đó có nhiều dạng: văn bản, âm thanh, hình ảnh, video…

Các máy tính ở các nơi khác nhau (gọi là máy trạm) sử dụng ứng dụng gọi là trình duyệt web, thông qua đường truyền internet để lấy tập tin nêu trên từ máy chủ về hiển thị lên cho người dùng có thể đọc được.

Những gì bạn đang xem chính là 1 trang webpage, hiển thị trên máy tính hoặc điện thoại của bạn thông qua trình duyệt như Chrome, Firefox, Safari, hay Cốc Cốc…

Để website hoạt động được trên môi trường internet, cần có các thành phần chính:

  1. Source Code (mã nguồn): phần mềm website do các lập trình viên thiết kế xây dựng. Phần này giống như bản thiết kế, vật liệu xây dựng, trang thiết bị nội ngoại thất của ngôi nhà vậy.
  2. Web hosting (Lưu trữ web): dùng để lưu trữ mã nguồn. Thành phần này tương tự như mảnh đất để bạn có thể xây dựng ngôi nhà.
  3. Tên miền (domain): là địa chỉ của website để các máy tính ở các nơi trỏ tới khi muốn truy cập vào website. Tên miền có vai trò giống như địa chỉ ngôi nhà, dựa vào đó thì người khác mới có thể tìm tới thăm nhà bạn được.

Và tất nhiên phải cần có đường truyền và kết nối mạng toàn cầu (internet) thì website mới có thể hoạt động trên môi trường trực tuyến (online). Kết nối này có vai trò như hệ thống giao thông dẫn đến ngôi nhà. Nếu không kết nối internet, thì có thể chỉ truy cập được website trên cùng máy tính hosting, hoặc trong mạng nội bộ (LAN). Cũng giống như không có đường giao thông thì chẳng khách khứa nào có thể đến được nhà bạn.

Tiếp theo, tôi muốn nói về những gì mà người dùng nhìn thấy: giao diện website.

Giao diện website gồm những thành phần nào?

Trong quá trình hợp tác xây dựng website, rất nhiều khi các bên không hiểu hoặc hiểu không thống nhất cách gọi tên các thành phần để truyền đạt ý kiến của mình. Kiểu như “tôi muốn thêm cái ABC” vào chỗ này chỗ kia, nhưng nói mãi người bên kia không hiểu.

Vậy tôi xin tóm tắt lại những thành phần cơ bản về giao diện để bạn tham khảo nhé.

Dưới đây là bố cục phổ biến, thường thấy rõ ở trang chủ, bài viết, sản phẩm… Với những trang cụ thể có thể sẽ có thay đổi phù hợp với nhu cầu hiển thị nội dung và chức năng.

Header

Đây là phần đầu trang, và thường được hiển thị trên tất cả các trang con.

Phần này thường có logo, hotline, lựa chọn ngôn ngữ, đăng ký / đăng nhập, menu điều hướng, tìm kiếm, giỏ hàng…

Một số trang đặc biệt có thể không được thiết kế header, với mục đích đặc biệt. Chẳng hạn như trang landing page nhiều khi không gồm thông tin header đầy đủ (có thể chỉ có logo), mục đích là để không gây sao nhãng, và hướng người dùng vào mục tiêu chính: chuyển đổi (điền form, gọi điện đặt hàng…)

Slider / Carousel

Dưới header thường được thiết kế hình ảnh thu hút và giới thiệu về chủ đề website, chẳng hạn như sản phẩm dịch vụ, kèm theo các câu khẩu hiệu (slogan) của doanh nghiệp.

Trên các ảnh có thể bố trí các nút kêu gọi hành động (Call to Action – CTA), chẳng hạn như “Liên hệ”, hoặc “Gọi hotline”.

Các ảnh có thể được lập trình để trượt ngang (dạng slide), hoặc hiển thị theo một trục nào đó với hiệu ứng đi kèm (dạng carousel). Khu vực này cũng sẽ có thanh dẫn hướng để người dùng chủ động xem ảnh tiếp theo hoặc trước đó.

Còn như những website thế hệ cũ trước đây, thì khu vực này thường chỉ là 1 ảnh tĩnh, và do đó được gọi là banner.

Content Area

Đây là khu vực chính và có vai trò quan trọng nhất trong trang web: cung cấp nội dung cho độc giả.

Nội dung có thể dưới rất nhiều dạng khác nhau: văn bản, âm thanh, hình ảnh, video, links…

Đây là phần giúp đánh trang web của bạn có hữu ích hay không, có thể lên Top Google hay không khi làm SEO website.

Footer

Phần chân trang nằm ở dưới cùng của trang web, thường bố trí thông tin bản quyền, các liên kết nhanh, fanpage, social network…

Các loại website

Tùy theo tiêu chí mà có cách phân loại khác nhau. Dưới đây tôi xin nêu ra một vài cách phổ biến đang được sử dụng hiện nay.

Theo cấu trúc và cách hoạt động

  • Website tĩnh: chủ yếu sử dụng ngôn ngữ html (và css, javascript), nội dung trên đó ít khi hoặc hiếm khi được chỉnh sửa (sau khi đăng), thường không có tương tác của người dùng. Do những hạn chế, hiện nay website tĩnh rất ít được sử dụng.
  • Website động: ngoài html, css, và javascript, còn dùng thêm 1 ngôn ngữ lập trình server như Ceblaza.net hay PHP… và một cơ sở dữ liệu như SQL Server, MySQL, web có nội dung thường xuyên và dễ dàng thay đổi, có thể dựa trên tương tác với người dùng. Đa số hiện này chúng ta thấy là website động.

CSS – Cascading Style Sheets: Biểu định kiểu xếp chồng

Theo mục đích chính của website

Khi bạn muốn thiết kế website thì thường có mục đích cụ thể trong đầu, có thể là một hoặc một vài, nhưng sẽ có 1 mục đích chính. Và công ty thiết kế website cũng sẽ căn cứ vào đó để tư vấn và chọn loại giao diện cũng như tính năng phù hợp. Nhờ đó hiệu quả đầu tư làm web cũng cao hơn.

  • Website giới thiệu công ty: chứa đầy đủ các thông tin cần thiết về công ty, bao gồm cả lịch sử hình thành phát triển, thành tựu, sản phẩm dịch vụ, thông tin liên lạc…
  • Website giới thiệu cá nhân: thường tập trung giới thiệu về thành tựu của người đó, với vai trò như 1 bản CV đẹp có sẵn, hoặc với mục đích để xây dựng thương hiệu cá nhân.
  • Website bán hàng: cung cấp thông tin chi tiết về hàng hóa, để giới thiệu và chào hàng.
  • Website có chức năng đặc biệt, phức tạp: chợ điện tử, mạng xã hội, diễn đàn, wiki, web-app…

Theo lĩnh vực cụ thể

Cách phân loại này chủ yếu để phục vụ cho các doanh nghiệp muốn đặt thiết kế website. Các chủ doanh nghiệp hoặc người được phân công chưa biết nhiều về lĩnh vực làm web. Đôi khi họ còn không biết mô tả những gì mình mong muốn: giao diện, tính năng…

Do đó, khi bắt tay vào việc, họ có xu hướng muốn tìm hiểu xem website trong lĩnh vực của mình thường có giao diện thế nào, tính năng gì để phục vụ mục đích chính.

【#10】Eq Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Eq

EQ là gì? Những ý nghĩa của EQ. Chỉ số EQ là gì và tại sao bạn cần quan tâm EQ trong tuyển dụng? Có bao giờ bạn thắc mắc chỉ số EQ là gì không?

Định nghĩa EQ là gì?

5 phần của trí thông minh cảm xúc

  1. Khả năng am hiểu bản thân: Kiến thức về các trạng thái bên trong, sở thích, nguồn lực và trực giác của chính mình.
  2. Khả năng kiểm soát bản thân: Khả năng quản lý các trạng thái bên trong, các xung động, và nguồn lực của chính mình.
  3. Động lực: Những xu hướng cảm xúc dẫn dắt hoặc hỗ trợ việc đạt được mục tiêu
  4. Cảm thông: Khả năng am hiểu cảm xúc, nhu cầu và mối quan tâm của người khác
  5. Kỹ năng xã hội: Sự thành thạo trong việc gợi ra những phản ứng mong muốn bên trong người khác.

Tại sao bạn cần quan tâm EQ trong tuyển dụng

Trong phần này, Tìm Việc Nhanh sẽ đưa ra một số lý do khiến bạn phải quan tâm chỉ số EQ nhiều hơn IQ để có thể “thu nạp” những ứng viên chất lượng cho công ty mình. Những người có EQ cao có khả năng tạo động lực:

Những người có EQ cao thường hay tự động viên và khuyến khích bản thân chinh phục những thử thách mới mỗi ngày. Họ không nản chí khi gặp những chuyện không như ý muốn và tự biết thúc đẩy mình mỗi ngày để tạo ra những thành công lớn hơn trong tương lai. Những người có EQ cao thường có tham vọng trong công việc và với những phẩm chất đó họ xứng đáng được thăng tiến.Những người có EQ cao thì không nuôi hận thù:

Những người có trí tuệ cảm xúc cao biết kiểm soát cảm xúc của mình. Họ không để những hận thù cá nhân làm ảnh hưởng đến công việc. Họ chấp nhận bài học trong quá khứ và kiểm soát tốt cảm xúc của mình. Đây là một trong những điều mà nhà tuyển dụng nên quan tâm khi tuyển dụng.Những người có EQ cao có tinh thần trách nhiệm: Những người có EQ cao thường có năng suất làm việc cao: Các nghiên cứu về EQ đã chỉ ra rằng, năng lực cảm xúc quan trọng gấp 2 lần kiến thức chuyên môn. Và các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng, sáu năng lực đứng đầu giúp phân biệt những người làm việc hiệu suất cao với những người làm việc bình thường đó là: Trong 6 năng lực này, chỉ có hai năng lực (Khả năng phân tích và tư duy khái niệm) là những năng lực thuộc về trí thông minh thuần túy. Bốn năng lực còn lại là năng lực thuộc về trí thông minh cảm xúc. Người có EQ cao thường hay lạc quan:

Những người sở hữu EQ cao thường không có thói quen than thân trách phận khi rơi vào bất cứ một tình huống khó khăn nào. Thay vào đó, họ dành thời gian để gỡ rối mớ bòng bong đó. Điều này không có nghĩa là họ làm ngơ những điều tiêu cực, chỉ là họ không muốn bản thân lún quá sâu vào nó làm ảnh hưởng đến công việc khác.

5 loại trí tuệ cảm xúc

Self-regulation – Tự điều chỉnh Thường một người ít có sự kiểm soát khi trải nghiệm cảm xúc. Tuy nhiên, có một số người nói rằng một cảm xúc sẽ tồn tại bao lâu bằng cách sử dụng một số kỹ thuật để làm giảm bớt những cảm xúc tiêu cực như giận dữ, lo lắng hoặc trầm cảm. Một vài trong số các kỹ thuật này bao gồm việc tái hiện lại một tình huống theo hướng tích cực hơn, đi bộ trong một quãng đường dài, thiền định hoặc cầu nguyện. Tự điều chỉnh bao gồm:

  • Tự kiểm soát – Quản lý các xung đột.
  • Đáng tin cậy – Duy trì tiêu chuẩn trung thực và liêm chính.
  • Sự thuân thủ – Chịu trách nhiệm về hiệu suất của riêng bạn.
  • Khả năng thích ứng – Xử lý thay đổi một cách linh hoạt.
  • Sự đổi mới – Cởi mở với những ý tưởng mới.

Self-awareness – Tự nhận thức

Được định nghĩa là khả năng nhận ra một cảm xúc khi nó xảy đến. Sự phát triển khả năng tự nhận thức đòi hỏi phải điều chỉnh theo cảm xúc thật của bạn. Nếu bạn tự đánh giá cảm xúc của mình, bạn có thể kiểm soát chúng.

Các yếu tố chính của sự tự nhận thức là:

Social skills – Kĩ năng xã hội Sự phát triển của các kỹ năng giao tiếp tốt cũng tương đương với mức độ thành công trong cuộc sống và sự nghiệp của bạn. Trong một thế giới kết nối ngày nay, mọi người đều có thể truy cập nhanh chóng đến những kiến thức kĩ thuật. Do đó, những người có kĩ năng tốt thường chiếm vị thế khá quan trọng hơn cả vì bạn phải sở hữu một chỉ số EQ cao để thấu hiểu, cảm thông và đàm phán với người khác trong nền kinh tế toàn cầu. Một số các kĩ năng hữu ích nhất:

  • Sự ảnh hưởng – Sử dụng chiến thuật thuyết phục hiệu quả.
  • Kĩ năng giao tiếp – Truyền đạt thông tin rõ ràng.
  • Khả năng lãnh đạo – Truyền cảm hứng và dẫn dắt đội nhóm.
  • Quản trị xung đột – Thấu hiểu, đàm phán và giải quyết các bất đồng.
  • Xây dựng kết nối – Nuôi dưỡng những mối quan hệ.
  • Hợp tác và cộng tác – Cộng tác với những người khác để hướng tới mục tiêu chung.
  • Kĩ năng làm việc nhóm – Tạo ra sức mạnh tổng hợp của đội nhóm trong việc theo đuổi các mục tiêu tập thể

Khả năng nhận ra cảm xúc của người khác, đây cũng là một yếu tố khác quan trọng để đạt được thành công trong cuộc sống và sự nghiệp của bạn. Bạn càng khéo léo trong việc nhận ra những cảm xúc đằng sau tín hiệu của người khác, bạn càng có thể kiểm soát tốt hơn các tín hiệu bạn gửi cho họ. Một người thấu cảm với người khác vượt trội tại những điều sau:

  • Định hướng dịch vụ – Dự đoán, công nhận và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
  • Phát triển những thứ khác – Nhận thấy những gì người khác cần để tiến bộ và củng cố khả năng của họ.
  • Tận dụng sự đa dạng – Cơ hội rèn luyện thông qua những người đa dạng.
  • Nhận thức chính trị – Đọc một dòng cảm xúc của một nhóm và những mối quan hệ quyền lực.
  • Thấu hiểu người khác – Làm sáng tỏ cảm xúc đằng sau nhu cầu và mong muốn của người khác.

Bạn phải có mục tiêu rõ ràng và thái độ tích cực để thúc đẩy bản thân cho bất kỳ thành tích nào. Mặc dù có thể là người nghiêng về xu hướng tích cực hoặc tiêu cực, bạn có thể nỗ lực và thực hành học cách suy nghĩ tích cực hơn. Hay nói cách khác, bạn có thể điều chỉnh lại những cảm xúc tiêu cực để chúng trở nên tích cực hơn – điều này sẽ giúp bạn đạt được mục tiêu của mình. Động lực được tạo thành từ:

  • Thúc đẩy thành tích – Không ngừng phấn đấu để cải thiện hoặc đáp ứng tiêu chuẩn xuất sắc.
  • Cam kết – Phù hợp với các mục tiêu của đội nhóm hoặc tổ chức.
  • Sáng kiến – Sẵn sàng để hành động khi có cơ hội.
  • Lạc quan. Theo đuổi mục tiêu một cách bền bỉ, bất chấp trở ngại và thất bại.

EQ là trí tuệ cảm xúc – tất cả những khái niệm là về việc xác định cảm xúc trong chính bản thân chúng ta và những người khác, liên quan đến người khác và sự truyền đạt về cảm xúc của chúng ta (Theo Cherry, 2021). IQ mặt khác, là trí tuệ nhận thức. Đây là khái niệm về trí thông minh mà mọi người quen thuộc nhất và cũng là loại thường được đo lường thông qua các bài kiểm tra và ước tính thông qua những thứ như điểm trung bình.

15 dấu hiệu của người có EQ cao

Bạn nỗ lực để kiểm soát suy nghĩ của minh.

Bạn không kiểm soát được cảm xúc mà bạn trải nghiệm trong một thời điểm nhất định. Nhưng bạn có thể kiểm soát phản ứng của mình trước những cảm xúc đó – bằng cách tập trung vào suy nghĩ của bạn. Bằng cách cố gắng kiểm soát suy nghĩ của bạn, bạn chống lại việc trở thành nô lệ cho cảm xúc của mình, cho phép bản thân sống một cách hài hòa với mục tiêu và giá trị của mình.Bạn biết khi nào thì nên tạm dừng. Bạn nghiền ngẫm về những cảm xúc.

  • Trí tuệ cảm xúc bắt đầu với những gì được gọi là nhận thức về bản thân và xã hội, khả năng nhận ra cảm xúc (và tác động của chúng) ở cả bản thân và người khác.

    Nhận thức đó bắt đầu bằng sự phản ánh, bạn đặt những câu hỏi như: Điểm mạnh về mặt cảm xúc của tôi là gì? Điểm yếu của tôi là gì?

  • Tâm trạng hiện tại của tôi ảnh hưởng đến suy nghĩ và việc đưa ra quyết định của tôi như thế nào? Điều gì sâu xa hơn làm ảnh hưởng đến những gì người khác nói hoặc làm?

    Những câu hỏi suy ngẫm như thế này mang lại những hiểu biết có giá trị và có thể được xem là điểm mạnh của bạn.

Bạn thể hiện tính xác thực

Tính xác thực không có nghĩa là chia sẻ mọi thứ về bản thân bạn với mọi người và mọi lúc. Thay vì nói những gì bạn nghĩ, đó là những thứ mà bạn nói tuân theo các giá trị và nguyên tắc của bản thân hơn hết thảy. Không phải ai cũng sẽ đánh giá cao việc bạn chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc của mình, trừ những người thực sự thân thiết và quan trọng với bạn.Bạn hưởng lợi từ những lời chỉ trích

Không ai thích những phản hồi tiêu cực, nhưng bạn biết rằng những lời chỉ trích là một cơ hội để học hỏi, ngay cả khi nó không được truyền đạt theo cách tốt nhất. Cho dù những lời chỉ trích tiêu cực là vô căn cứ, thông qua đó bạn cũng có thể nhận thấy được lối suy nghĩ của người khác. Điều này khiến bạn tự đặt ra câu hỏi: Làm sao để mình trở nên tốt hơn?Bạn khen ngợi người khác

Mọi người đều khao khát sự công nhận và đánh giá cao. Khi bạn khen ngợi người khác, bạn thỏa mãn sự khao khát đó của họ và xây dựng một hệ thống niềm tin. Điều này bắt đầu khi bạn tập trung vào những điều tốt đẹp ở người khác. Sau đó, bằng cách chia sẻ cụ thể những gì bạn đánh giá cao ở họ, bạn truyền cảm hứng cho họ trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình.Bạn đưa ra những lời nhận xét hữu ích

Những phản hồi tiêu cực phần nào làm tổn thương đến cảm nhận của người khác. Nếu bạn nhận ra được điều này và điều chỉnh những lời chỉ trích trở thành những phản hồi mang tính xây dựng, người tiếp nhận thông tin sẽ cảm thấy hữu ích thay vì bị tổn thương.Bạn thể hiện sự đồng cảm đối với người khác

Mọi người thường phá vỡ một thỏa thuận hoặc cam kết khi họ cảm thấy không đáng. Chúng ta thường cho rằng việc bỏ lỡ một buổi hẹn với người bạn thân hoặc thất hứa với con bạn sẽ ít gây tác hại hơn là bỏ qua một kì hạn hợp đồng lớn. Nhưng khi bạn tạo thói quen giữ lời, trong cả những điều lớn và nhỏ, bạn sẽ tạo dựng một hình ảnh bản thân mang giá trị to lớn về tính xác thực và độ tin cậy.Cần có sức mạnh và sự can đảm để có thể nói rằng bạn xin lỗi. Điều này càng chứng tỏ được sự khiêm tốn – một phẩm chất sẽ tự nhiên thu hút người khác đến với bạn.

Trí tuệ cảm xúc giúp bạn nhận ra rằng xin lỗi không phải lúc nào cũng có nghĩa là bạn sai. Thay vào đó, bạn trân trọng mối quan hệ đó nhiều hơn là cái tôi của bạn.Bạn biết rõ điểm mạnh và điểm yếu của mình.

Minh chứng rõ nhất của việc tự nhận thức là thành thật với chính mình – biết rõ bản thân bạn xuất sắc và còn cần phải cố gắng ở đâu. Một người thông minh về mặt cảm xúc sẽ học cách xác định thế mạnh/yếu của bản thân và phân tích cách làm việc hiệu quả nhất trong khả năng của họ.Bạn luôn tự động viên mình.

Bạn luôn tham vọng và chăm chỉ như một con ong, ngay cả khi bạn không nhận được những lời tán thưởng. Nếu bạn là người luôn tự khởi động bản thân và có thể tập trung sự chú ý và năng lượng của mình vào việc theo đuổi mục tiêu của mình, đây cũng là dấu hiệu chứng tỏ bạn sở hữu chỉ số EQ cao.Một trong những cách tốt nhất để tác động tích cực đến cảm xúc của người khác là giúp đỡ họ.

Hầu hết mọi người không thực sự quan tâm bạn tốt nghiệp từ trường Đại học nào hoặc thậm chí về những thành tích trước đây của bạn. Nhưng những hành động như sẵn sàng hoãn lịch trình của bạn để lắng nghe, giúp đỡ và sát cánh bên họ sẽ tạo dựng niềm tin và truyền cảm hứng cho những người khác làm theo sự dẫn dắt của bạn.Bạn bảo vệ bản thân khỏi sự phá hoại cảm xúc

Bạn nhận ra rằng trí tuệ cảm xúc cũng có một mặt tối – chẳng hạn như khi các cá nhân cố gắng điều khiển cảm xúc của người khác để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ hoặc vì một lý do ích kỷ nào khác. Và đó là lý do tại sao bạn tiếp tục mài giũa trí tuệ cảm xúc của chính mình – để bảo vệ chính bản thân bạn khỏi những hành động tiêu cực như vậy.

Những cách để cải thiện trí tuệ cảm xúc

Không giống như IQ, mọi người thực sự có thể cải thiện trí tuệ cảm xúc của họ. Trí thông minh cảm xúc có thể rèn luyện được, ngay cả ở người lớn. Cơ sở này dựa trên một nhánh khoa học mới được gọi là tính khả biến thần kinh (Neuroplasticity).

Trí tuệ cảm xúc có thể được rèn luyện qua các cách sau:

  • Rèn luyện sự tập trung để tâm trí được ổn định và sáng suốt.
  • Thiền chánh niệm (Mindfulness meditation)
  • Phát huy các kĩ năng lắng nghe người khác
  • Duy trì năng lượng và thái độ sống tích cực
  • Rèn luyện khả năng tự nhận thức
  • Rèn luyện khả năng tiếp nhận những lời phê bình một cách có chọn lọc
  • Phát huy kĩ năng lãnh đạo
  • Kiểm soát những cảm xúc tiêu cực
  • Bổ sung và cải thiện vốn từ vựng trong giao tiếp
  • Rèn luyện kĩ năng đặt bản thân mình vào vị trí của người khác đối với các tình huống trong giao tiếp

Những nghiên cứu và luận điểm về học thuyết EQ

Trong số những nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, có ba nghiên cứu nhận được nhiều sự chú ý (Sarkis, 2011):

  1. Năm 2010, nhà nghiên cứu Lynda Jiwen Song và các đồng nghiệp đã khám phá cách trí tuệ cảm xúc và trí tuệ nhận thức ảnh hưởng một cách tích cực đến kết quả học tập và mối tương tác xã hội của sinh viên đại học. Họ nhận thấy rằng trong khi IQ là một yếu tố dự báo mạnh mẽ về thành tựu trong học tập, EQ cũng là một nhân tố đóng góp đáng kể. Hơn nữa, EQ là một yếu tố quan trọng trong chất lượng tương tác xã hội với bạn bè, trong khi IQ dường như không đóng nhiều vai trò trong cuộc sống xã hội của một sinh viên đại học.
  2. Năm 2009, Kimmy S. Kee, Peter Salovey và các đồng nghiệp đã hỏi một câu hỏi thú vị về EQ và bệnh tâm thần: Liệu những người bị tâm thần phân liệt có EQ thấp hơn đáng kể so với những người không mắc bệnh? Họ phát hiện ra rằng những người mắc bệnh tâm thần phân liệt thực sự có EQ thấp hơn đáng kể và làm bài kiểm tra kém hơn đáng kể ở ba trong số bốn bài kiểm tra EQ liên quan đến việc xác định, thấu hiểu và quản lý cảm xúc. Hơn nữa, hiệu suất kém trong các bài kiểm tra EQ có liên quan đến các triệu chứng tâm thần phân liệt rõ rệt hơn và chức năng tổng thể thấp hơn.
  3. Cuối cùng, vào năm 2009, nhà nghiên cứu Delphine Nelis và cộng sự đã đặt ra một trong những câu hỏi quan trọng nhất trong tất cả các vấn đề liên quan đến trí tuệ cảm xúc với tựa đề: Tăng trí thông minh cảm xúc: Làm thế nào để việc này được khả thi? Họ đã thiết kế một thí nghiệm trong đó hai nhóm đã được thử nghiệm EQ, một lần vào lúc bắt đầu cuộc thí nghiệm và một lần vào lúc cuối. Nhóm điều trị đã nhận được một khóa đào tạo EI ngắn gọn dựa trên kinh nghiệm (bốn buổi huấn luyện nhóm trong hai giờ rưỡi), trong khi nhóm kiểm soát không được đào tạo như vậy. Vào cuối thí nghiệm, nhóm điều trị cho thấy mức độ tăng chỉ số EQ đáng kể trong khi nhóm kiểm soát không có thay đổi gì mấy.

Ba nghiên cứu này đã trả lời một số câu hỏi lớn và mở ra cơ hội cho nhiều nghiên cứu sáng tạo và quan trọng được thực hiện kể từ đó. Kết quả cho chúng ta thấy rằng trí tuệ cảm xúc thực sự là một yếu tố quan trọng trong mức độ thành công, các mối quan hệ, chất lượng sức khỏe tinh thần của mỗi người và hơn hết là việc chúng ta có thể thực sự cải thiện trí thông minh cảm xúc.

Tại sao trí tuệ cảm xúc EQ lại quan trọng?

Người thông minh nhất chưa hẳn sẽ là người thành công hoặc thỏa mãn nhất trong cuộc sống. Có những người tuy có học vấn cao nhưng không có kĩ năng xã hội và từ đó dẫn đến việc khó đạt được thành tựu trong công việc hoặc các mối quan hệ cá nhân. Tự bản thân chỉ số thông minh IQ của bạn không thể giúp bạn đi đến đỉnh cao của cuộc sống. Cứ cho rằng chỉ số IQ cao sẽ giúp bạn vào được đại học, nhưng chính chỉ số EQ mới giúp bạn quản lý căng thẳng và cảm xúc khi đối mặt với các kì thi cuối kì. IQ và EQ tồn tại song song và hiệu quả nhất khi chúng hỗ trợ lẫn nhau. Trí tuệ cảm xúc ảnh hưởng đến: Sức khỏe tinh thần của bạn

Những cảm xúc và căng thẳng không được kiểm soát cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của bạn, khiến bạn dễ bị lo lắng và trầm cảm. Nếu bạn không thể thấu hiểu, cảm thấy thoải mái hoặc quản lý cảm xúc của mình, bạn cũng sẽ gặp trở ngại để tạo dựng các mối quan hệ vững chắc. Điều này có thể khiến bạn cảm thấy bị cô lập và làm bất kỳ vấn đề sức khỏe tinh thần nào trở nên trầm trọng thêm.Sức khỏe thể chất của bạn

Việc bạn không quản lý được cảm xúc của mình có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Sự căng thẳng không được kiểm soát làm tăng huyết áp, ức chế hệ thống miễn dịch, tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ, góp phần gây vô sinh và đẩy nhanh quá trình lão hóa.

Bước đầu tiên để cải thiện trí tuệ cảm xúc là học cách quản lý căng thẳng.Hiệu suất của bạn ở trường học hoặc nơi làm việc

Trí tuệ cảm xúc cao có thể giúp bạn điều hướng sự phức tạp xã hội ở nơi làm việc, dẫn dắt, thúc đẩy người khác và trở nên xuất sắc trong sự nghiệp của bạn. Trên thực tế, khi nói đến việc đánh giá các ứng viên quan trọng, nhiều công ty cũng nhận định trí tuệ cảm xúc quan trọng không kém khả năng chuyên môn và yêu cầu ứng viên thực hiện bài test EQ trước khi tuyển dụng.Trí thông minh xã hội của bạn

Sự hòa hợp với cảm xúc của bạn phục vụ cho mục đích xã hội, kết nối bạn với những người khác và thế giới xung quanh bạn. Trí thông minh xã hội cho phép bạn nhận ra bạn bè từ kẻ thù, đo lường được sự hứng thú của người khác đối với bạn, giảm thiểu căng thẳng, cân bằng hệ thống thần kinh của bạn thông qua giao tiếp xã hội và khiến bạn cảm thấy được yêu thương và hạnh phúc.Bằng cách thấu hiểu cảm xúc của bạn và học cách kiểm soát chúng, bạn có thể bày tỏ tốt hơn cảm giác của bạn và thấu hiểu cảm giác của người khác. Điều này cho phép bạn giao tiếp hiệu quả hơn và tạo dựng các mối quan hệ vững chắc, cả trong công việc và cuộc sống cá nhân.

Các dạng trắc nghiệm EQ

  • Nhiều mô hình và định nghĩa về chỉ số EQ đã được đưa ra nhưng chỉ có mô hình cảm xúc Năng Lực (ability EI model) và mô hình cảm xúc Đặc Điểm (trait EI model) là được chấp nhận rộng rãi nhất trong những tài liệu khoa học. Vì thế các bài trắc nghiệm EQ cũng chủ yếu dựa trên 2 dạng này.
  • Mô hình EI Năng Lực thường được đo bằng việc sử dụng tối đa các bài Test EQ về hành vi, trong khi mô hình EI Đặc Điểm thường đánh giá chỉ số EI bằng việc sử dụng các bài Eq test với câu hỏi tự trả lời, do đó có mối liên hệ mật thiết với tính cách của bạn. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng thường hay sử dụng bài trắc nghiệm MBTI để kiểm tra tính cách của một người.
  • Một người sở hữu chỉ số EQ cao là một người luôn biết tự đánh giá bản thân, biết điểm mạnh, điểm yếu của chính mình và của người khác, có khả năng đồng cảm và thấu hiểu cảm xúc người khác. Luôn biết cách giữ được sự bình tĩnh và lạc quan trong cuộc sống ngay cả trong những thử thách khó khan nhất.
  • Qua đó, ta thấy được rằng, người có chỉ số EQ cao tự nhiên sẽ có đủ mọi tố chất để trở thành người lãnh đạo. Chính vì thế không có gì ngạc nhiên khi ngày nay bài Test EQ – trắc nghiệm EQ được đánh giá quan trọng không kém Test IQ.
  • Vấn đề là, người ta thường chỉ giỏi một trong hai. Hoặc Test EQ, hoặc Test IQ. Hiếm có người nào cùng lúc giỏi cả hai thứ, tuy nhiên nếu có, bạn sẽ cảm thấy rất thú vị với những gì người đó có thể làm đấy!
  • Lưu ý: Mặc dù hiện nay không có bài kiểm tra trắc nghiệm EQ nào có thể đo chỉ số EQ chính xác tuyệt đối như IQ, bài Test EQ sau đây sẽ cho các bạn một kết quả kiểm tra EQ gần đúng nhất. Bài test được dịch từ bài EQ Test chuẩn quốc tế được đưa ra bởi Daniel Goleman, tác giả của cuốn sách bán chạy nhất vào năm 1995: Emotional Intelligence.

Cảm ơn bạn đã đọc bài viết của blog Ceblaza.net hy vọng những thông tin giải đáp EQ là gì? Những ý nghĩa của EQ sẽ giúp bạn đọc bổ sung thêm kiến thức hữu ích. Nếu bạn đọc có những đóng góp hay thắc mắc nào liên quan đến định nghĩa EQ là gì?