Chứng Minh Rằng Sự Ra Đời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử

--- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra
  • Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    + Người sinh ra và trưởng thành trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước: Bố là nhà Nho cấp tiến có tư tưởng lấy dân làm gốc. Tấm gương hiếu học, vượt khó, nếp sống giản dị thanh bạch, yêu nước thương dân của Ông là những nhân tố tác động mạnh đến việc hình thành nhân cách Hồ Chí Minh; Mẹ của Người là người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu. Tấm gương chịu thương, chịu khó, tần tảo, thủy chung, hy sinh cả cuộc đời cho chồng, con của Bà là một trong những cội nguồn tư tưởng giải phóng phụ nữ của Hồ Chí Minh; Anh trai và chị gái của Người không chỉ là những nhà Nho mà còn là những người hoạt động cách mạng sôi nổi đã từng bị tù đày nhưng luôn giữ tinh thần kiên trung. Họ là những tấm gương yêu nước, thương dân trong hành trình cách mạng của Hồ Chí Minh.

    + NamĐàn và Huế là hai chiếc nôi cách mạng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

    + Chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động,.. không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Không phát huy được những thế mạnh của dân tộc và đất nước, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

    + Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và Hiệp định Patơnốt (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

    + Cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” do các văn thân, sỹ phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại. Hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử.

    + Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp-xã hội sâu sắc. Tạo tiền đề bên trong cho phong trào đấu tranh giải phóng đân tộc đầu thế kỷ XX.

    + Đầu thế kỷ XX, các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước nhưng đều thất bại (Chủ trương cầu viện, dùng vũ trang khôi phục độc lập của Phan Bội Châu; Chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” khai thông dân trí, nâng cao dân trí,.. trên cơ sở đó mà dần dần tính chuyện giải phóng của Phân Chu Trinh; Khởi nghĩa nặng cốt cách phong kiến của Hoàng Hoa Thám; Khởi nghĩa theo khuynh hướng tư sản của Nguyễn Thái Học).

    Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn đi đến thắng lợi, phải đi theo con đường mới. Sự xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu của lịch sử dân tộc Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lịch sử của cách mạng Việt Nam.

    – Bối cảnh thời đại (quốc tế)

    + CNTB từ cạnh tranh đã chuyển sang độc quyền, xác lập sự thống trị trên phạm vi thế giới. CNĐQ là kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa.

    + Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917). “Thức tỉnh của các dân tộc châu Á”, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại.

    + Quốc tế III được thành lập (1919). Phong trào công nhân trong các nước TBCN và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là CNĐQ.

    Tất cả các nội dung trên cho thấy, việc xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT gắn liền với CNXH không chỉ là nhu cầu tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam, mà còn là tất yếu của cách mạng thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hcm Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Hiểu Thế Nào Cho Đúng Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Sự Vận Dụng, Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Văn Kiện Đại Hội Xii Của Đảng
  • Tấm Cám (Truyện Cổ Tích)
  • Soạn Bài Sọ Dừa Sbt Ngữ Văn 6 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3 Trang 31 , Dựa Vào Chú Thích…
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Vì sao nói sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu lịch sử?

    * Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    HCM sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước và thế giới có nhiều biến động.

    + Chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động,.. không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Không phát huy được những thế mạnh của dân tộc và đất nước, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

    + Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và Hiệp định Patơnốt (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

    + Cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” do các văn thân, sỹ phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại. Hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử.

    + Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp-xã hội sâu sắc. Tạo tiền đề bên trong cho phong trào đấu tranh giải phóng đân tộc đầu thế kỷ XX.

    + Đầu thế kỷ XX, các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước nhưng đều thất bại (Chủ trương cầu viện, dùng vũ trang khôi phục độc lập của Phan Bội Châu; Chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” khai thông dân trí, nâng cao dân trí,.. trên cơ sở đó mà dần dần tính chuyện giải phóng của Phân Chu Trinh; Khởi nghĩa nặng cốt cách phong kiến của Hoàng Hoa Thám; Khởi nghĩa theo khuynh hướng tư sản của Nguyễn Thái Học). Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn đi đến thắng lợi, phải đi theo con đường mới.

    Sự xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu, đáp ứng nhu cầu lịch sử của cách mạng Việt Nam.

    *Bối cảnh thời đại (quốc tế)

    Trong khi con thuyền VN còn lênh đênh chưa rõ bờ bến phải đi tới, việc cứu nước như đêm tối “ko có đường ra” thì lịch sử thế giới trong giai đoạn này cũng đang có những biến chuyển to lớn.

    + CNTB từ giai đoạn cạnh tranh tự do đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. CNĐQ đã trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa.

    +Có một thực tế lịch sử là, trong quá trình xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân, tại các nước nhược tiểu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, sự bóc lột phong kiến trước kia vẫn được duy trì và bao trùm lên nó là sự bóc lột tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia, đã xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp xã hội mới, trong đó có công nhân và tư sản.

    +Từ cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX đã dẫn đến một cao trào mới của cách mạng thế giới với đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917). Cuộc cách mạng vĩ đại này đã làm “Thức tỉnh các dân tộc châu Á”, Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công đã nêu một tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc bị áp bức, mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.

    + Quốc tế III được thành lập (1919). Phong trào công nhân trong các nước TBCN và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là CNĐQ.

    Tất cả các nội dung trên cho thấy, việc xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nhu cầu tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam, mà còn là tất yếu của cách mạng thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chứng Minh Rằng Sự Ra Đời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hcm Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Hiểu Thế Nào Cho Đúng Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Sự Vận Dụng, Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Văn Kiện Đại Hội Xii Của Đảng
  • Tấm Cám (Truyện Cổ Tích)
  • Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • a) Khái niệm tư tưởng

    Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh. Trong thuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, khái niệm “tư tưởng” có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. “Tư tưởng” ở đây không phải dùng với nghĩa tinh thần – tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học(thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đă khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Văn kiện của Đại hội định nghĩa: “tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc”.

    Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc và đạt được những kết quả quan trọng. Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”!.

    Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:

    Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam;tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam.

    Hai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí minh:

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của

    nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp, bao gồm: tư tưởng triết học: tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc: tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là giá trị ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đều cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất. tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp bao gồm: tư tưởng triết học; tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam bao gồm: tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội;về Đảng Cộng sản Việt nam;về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế;về dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân: về văn hóa, đạo đức, V.V..

    Giáo trình này vận dụng phương thức tiếp cận thứ hai để giới thiệu và nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Là một hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh có cấu trúc lôgích chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích
  • Em Hãy Nêu Định Nghĩa Truyện Cổ Tích? Qua Đó, Em Hãy Làm Rõ Thể Loại Của Tác Phẩm Sọ Dừa.
  • Nêu Khái Niệm Truyện Cổ Tích
  • Thể Loại Truyện Cổ Tích Lớp 6
  • Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Hiểu Cho Đúng Khái Niệm “tư Tưởng Hồ Chí Minh” Để Chống Lại Các Quan Điểm Lệch Lạc, Sai Trái
  • b.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin

    – Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tư tưởng của Người góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác-Lênin.

    – Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh nổi lên một số điểm đáng chú ý:

    Một là, Đầu thế kỷ XX, Người tự hoàn thiện vốn văn hoá, vốn chính trị, vốn sống thực tiễn phong phú, nhờ đó đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin như một lẽ tự nhiên. Chủ nghĩa Mác-Lênin là bộ phận văn hoá đặc sắc nhất của nhân loại: tinh tuý nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoa học nhất

    Hai là, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là tìm con đường giải phóng cho dân tộc, tức là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Việt Nam chứ không phải từ nhu cầu tư duy.

    Ba là, Người vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin theo phương pháp mác-xít và theo tinh thần phương Đông, không sách vở, không kinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể cho cách mạng Việt Nam.

    – Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ:

    + Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    + Quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh.

    + Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại.

    2. Nhân tố chủ quan

    Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh là:

    + Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, có óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng trong nước và trên thế giới.

    + Hồ Chí Minh có sự khổ công học tập, rèn luyện chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách là học thuyết về cách mạng của giai cấp vô sản.

    + Hồ Chí Minh có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một trái tim yêu thương nhân dân, thương người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bác Hồ từ một người tìm đường cứu nước đã trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo.

    II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁ TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

    1. Thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước (1890 – 1911)

    – Nguyễn Sinh Cung sinh ra tại quê hương Kim Liên, Nam Đàn, trong một gia đình nhà nho yêu nước. Anh cũng có quảng thời gian 10 năm sống ở Huế. Anh được hấp thụ tinh thần bất khuất của các phong trào đấu tranh chống Pháp, tinh thần yêu nước, thương dân của những người thân và của nhiều nhà nho yêu nước.

    + Ngoài vốn Nho học và Quốc học, trong hành trang học vấn của anh Nguyễn hồi đó còn có những hấp dẫn về lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mà cách mạng Pháp đã khai sinh.

    + Điều đặc biệt ở Nguyễn Tất Thành là anh có sự so sánh, nhận xét về các phong trào yêu nước lúc bấy giờ của các bậc tiền bối Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám và đi đến quyết định nước ngoài ở phương Tây tìm đường cứu nước.

    – Chính truyền thống quê hương và gia đình đã hình thành ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành lòng yêu nước, hoài bão cứu nước, lòng nhân ái, thương người, nhất là người nghèo khổ, tha thiết bảo vệ những truyền thống của dân tộc, ham học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

    2. Thời kỳ từ 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

    – 10 năm bôn ba trên thế giới, anh Nguyễn đã rút ra kết luận: trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột và chỉ có một mối tình hữu ái – tình hữu ái vô sản là thật mà thôi.

    – Năm 1919, Bản Yêu sách 8 điểm không được Hội nghị Véc-xây xem xét, nhưng tên gọi Nguyễn Ái Quốc và nội dung Yêu sách đã gây một tiếng vang lớn.

    – Người cũng đã khảo sát, và tìm hiểu cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tham gia Đảng Xã hội Pháp (1919), tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga.

    – Năm 1920, khi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và các vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản, con đường của Lênin.

    – 12/1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, Người đã biểu quyết việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

    Đây là thời kỳ, từ một thanh niên Việt Nam yêu nước Người trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là bước nhảy vọt lớn trong nhận thức của Người, một sự chuyển biến về chất, kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

    3. Thời kỳ 1921 – 1930: hình thành tư tưởng cơ bản về cách mạng Việt Nam

    – 1921 – 1923: Nguyễn Ái Quốc hoạt động với cương vị Trưởng tiểu ban Đông Dương trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp; Thành lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản báo Le Paria nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

    – 1923 – 1924: Người sang Liện Xô tham dự Hội nghị QTND, dự Đại hội V QTCS và các Đại hội QTTN, QT Cứu tế đỏ, QT Công hội đỏ.

    Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu thực hiện một số nhiệm vụ do Đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân giao phó.

    – Năm 1925, Người sáng lập “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”, ra báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tại Pa-ri.

    – Năm 1927, Người xuất bản tác phẩm “Đường Kách Mệnh”.

    – Tháng 2/1930 chủ trì hội nghị hợp nhất và thành lập ĐCSVN, trực tiếp thảo văn kiện “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt” và “Chương trình vắn tắt” của Đảng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra
  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Tư Tưởng Quân Sự Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Nguồn Gốc Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam Thông Qua Tại Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xi Của Đảng
  • Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Vi Của Đảng
  • Từ “học Theo Bác” Đến “đẩy Mạnh Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng trong tư tưởng cách mạng của Người. Tư tưởng đó được hình thành phát triển trong quá trình giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng, xuất phát từ đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Đứng trước kẻ thù là thực dân đế quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng cho dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ đất nước. Vì vậy, khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng là con đường duy nhất đúng đắn để giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là kết quả hoạt động tư duy và thực tiễn trong những điều kiện lịch sử nhất định của đất nước và thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng quân sự dân tộc, tinh hoa quân sự của nhân loại trong đó đặc biệt là lý luận quân sự Mác – Lênin. Chính lý luận quân sự Mác – Lênin là nguồn gốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự ra đời và phát triển của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX (1920 – 1930), một số quan điểm quân sự Hồ Chí Minh đã hình thành như vấn đề khởi nghĩa vũ trang, vấn đề thành lập quân đội của Đảng Cộng sản. Những năm sau đó, Hồ Chí Minh đã xây dựng lý luận về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng, về lực lượng vũ trang nhân dân và một số quan điểm bước đầu về quốc phòng toàn dân.

    Như vậy, có thể thấy quá trình hình thành tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với đường lối chính trị quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam; gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc tiến bộ trên thế giới vì hòa bình và phát triển.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh có nội dung đa dạng và phong phú, bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang. Trước hết, đó là quan điểm về bạo lực cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, việc sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng để giành và giữ chính quyền là một tất yếu lịch sử đối với các dân tộc bị áp bức dưới chế độ thực dân đế quốc. Bởi vì, bản thân chủ nghĩa đế quốc đã là sự xâm lược, thôn tính là bóc lột và đàn áp, nó chính là bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Các dân tộc bị áp bức muốn được giải phóng triệt để không thể trông chờ ở “lòng thương” của kẻ xâm lược, mà phải dùng sức mạnh đấu tranh, phải sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân giành chính quyền về tay nhân dân lao động và giữ vững chính quyền cách mạng ấy. Sự phát triển sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là ở chỗ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng nhân dân có tổ chức và được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hình thức của bạo lực là sự kết hợp của nhiều biện pháp, cách thức đấu tranh cả quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa… Những hình thức đó có thể khái quát trong hai hình thức cơ bản chủ yếu là: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, sử dụng hai lực lượng: lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân để đập tan bộ máy cai trị của bọn đế quốc, tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân. Lực lượng vũ trang kết hợp với lực lượng chính trị, đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị đó là hình thức cơ bản của bạo lực cách mạng Việt Nam.

    Khi nói đến hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang, Hồ Chí Minh luôn gắn với chính trị. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh chỉ rõ, quân sự phải phục tùng chính trị, phải góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đã đề ra. Hồ Chí Minh phê bình những thiên hướng chỉ thấy quân sự mà không thấy chính trị, chỉ biết tác chiến mà không biết vận động quần chúng và xây dựng cơ sở chính trị trong nhân dân. Vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc vô dụng mà có hại”. Trong thực tế cách mạng Việt Nam, việc xây dựng lực lượng chính trị là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị bao giờ cũng là cơ sở để triển khai đấu tranh trên lĩnh vực quân sự, “không có lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng thì đấu tranh quân sự và lực lượng vũ trang không thể giành thắng lợi” (Lê Duẩn). Tuy nhiên, kinh nghiệm cách mạng Việt Nam cũng chứng minh rằng, muốn giành thắng lợi thì ngoài lực lượng chính trị cần phải có lực lượng vũ trang. Không chuẩn bị sẵn sàng lực lượng kể cả lực lượng vũ trang thì không chống lại được sự tấn công của kẻ thù. Lực lượng quân sự và đấu tranh vũ trang có vai trò trực tiếp quyết định đối với những trận chiến đấu trên chiến trường, trong đối đầu với lực lượng tấn công trực tiếp của địch, trong việc tiêu diệt lực lượng quân sự của địch. Ngoài đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, sự thắng lợi của cách mạng còn có sự kết hợp các lĩnh vực đấu tranh khác như đấu tranh kinh tế, đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, ngoại giao… Việc kết hợp các lực lượng và hình thức đấu tranh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng là một vấn đề có tính nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

    Nét độc đáo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở quan điểm nhân dân, toàn dân. Xuất phát từ tư tưởng dân là gốc có dân là có tất cả, quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò quần chúng trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định: Trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng vũ trang, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh cho dân, tổ chức tập hợp và đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ thù.

    Đây là quan điểm phản ánh rất rõ sự phát triển sáng tạo trong tư duy lý luận quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sự kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống quân sự của dân tộc với học thuyết quân sự Mác – Lênin. Quan điểm nhân dân, toàn dân trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được thể hiện trong nhiều bài nói, bài viết của Người. Xem xét một cách khái quát có thể thấy nội dung quan điểm được thể hiện trên những vấn đề: Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang là sức mạnh của quần chúng nhân dân, sức mạnh của cả dân tộc:

    – Quan điểm quân sự phong kiến thường nhấn mạnh vai trò của tướng lĩnh, quan điểm quân sự tư sản thường nhấn mạnh vai trò của trang bị kỹ thuật của các đội quân nhà nghề. Hồ Chí Minh khẳng định: “sức mạnh là ở nơi dân, trên bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trên thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân”. Người chỉ rõ: “Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của toàn dân, tất cả quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Người rút ra kết luận: “Dân khí mạnh thì không có quân lính nào, súng ống nào chống lại nổi”.

    – Không chỉ nhận thức đúng vai trò của nhân dân, khẳng định sức mạnh vô địch là nhân dân, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ lực lượng đấu tranh chống đế quôc thực dân là toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi vì theo Người, đế quốc thực dân là kẻ thù chung, nhưng chúng lại dùng nhiều thủ đoạn thâm độc để chia rẽ, kích động, phân hóa các tầng lớp nhân dân để dễ bề cai trị và xâm lược, cho nên phải tập hợp sức mạnh toàn dân để chiến thắng kẻ thù. Người khẳng định:

    “Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

    Như vậy, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng toàn dân trong đấu tranh vũ trang đã mở biên độ ra rất rộng đến toàn thể dân tộc Việt Nam. Quan điểm này phản ánh rõ nét sự phát triển sáng tạo trong tư duy quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sáng tạo này vừa nắm được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp, vừa nắm được cái thực của đất nước, của dân tộc và nhờ đó đã hóa giải một cách hết sức tài tình, khôn ngoan những đối kháng về lợi ích bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cho quyền lợi của dân tộc, của đất nước.

    Có thể nói, trong lĩnh vực hoạt động đặc thù, hoạt động đấu tranh vũ trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tìm kiếm mẫu số chung là toàn dân tộc. Người đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của cách mạng trên cái căn bản là đoàn kết và quy tụ. Tuy nhiên, phải thấy rằng biên độ mở rất rộng nhưng cốt rất chắc, đó là liên minh công nông do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là quan điểm rất cách mạng và khoa học, là sáng tạo hết sức tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, Người đã quy tụ, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân trong mặt trận dân tộc rộng chống đế quốc. Đồng thời Người có thể huy động được mọi nguồn lực trong dân, tập trung cho nhiệm vụ chiến đấu cũng như xây dựng.

    Không chỉ khẳng định sức mạnh vô địch là sức mạnh của nhân dân, xác định lực lượng là toàn dân, Hồ Chí Minh còn chỉ ra phương hướng cơ bản để tổ chức tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân dân trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang.

    Người đặc biệt chú ý những vấn đề:

    – Phải có Đảng lãnh đạo, Đảng phải có đường lối đúng đắn, hợp lòng dân. Có như vậy mới làm cho dân tin Đảng và quyết tâm theo Đảng đến cùng.

    – Để phát huy sức mạnh toàn dân, một vấn đề hết sức quan trọng là phải đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc rộng do Đảng lãnh đạo. Đoàn kết để tạo nên sức mạnh cũng là truyền thống quý báu trong kho tàng tư tưởng quân sự của dân tộc ta.

    – Phải vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

    – Động viên sức dân phải gắn với bồi dưỡng sức dân. Đó là tư tưởng thực túc binh cường, dân giàu nước mạnh. Đó cũng là tư tưởng khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc trong thời đại ngày nay, thời đại Hồ Chí Minh.

    Quan điểm nhân dân, toàn dân trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh luôn gắn với toàn diện. Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi phương tiện và hình thức đấu tranh để chiến thắng kẻ thù. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn, không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được”.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn phản ánh sâu sắc quan điểm về con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang: Chiến tranh là hiện tượng lịch sử xã hội do con người tiến hành. Vì vậy, vai trò con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang luôn là vấn đề mà các nhà nghiên cứu lý luận quân sự quan tâm giải quyết. Các trường phái quân sự tư sản thường phủ nhận vai trò của con người. Tuy nhiên, trong số họ cũng có những người thấy được vai trò của con người trong chiến trận như: Claodơvít, Napôlêông… đương nhiên, con người mà họ đề cập có những tiêu chí phù hợp với quan điểm của giai cấp tư sản. Còn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, con người là nhân tố quyết định trong chiến tranh. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vai trò con người. “Người trước súng sau” là tư duy độc đáo của Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay từ những năm 1925 – 1927, khi hoạt động ở miền Nam Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chú ý lựa chọn những người ưu tú nhất trong số thanh niên Việt Nam đang theo học ở các lớp huấn luyện cách mạng ở đây để gửi đi đào tạo ở các trường quân sự như Hoàng Phố, trường quân sự của nước Nga Xô viết. Sau này, khi xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên quan tâm đến con người trong hoạt động quân sự. Người quan tâm từ tổng tư lệnh đến chiến sĩ. Người xác định những yêu cầu về phẩm chất của những người hoạt động trong lĩnh vực quân sự và đấu tranh vũ trang. Đó là những người có phẩm chất toàn diện, phù hợp với đặc điểm hoạt động quân sự như các phẩm chất: tinh thần ý chí, kỹ năng quân sự, kỹ thuật chiến thuật, sức khỏe, kỷ luật… Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh phẩm chất chính trị tinh thần. Đồng thời Người nhắc nhở phẩm chất chính trị tinh thần cũng như các phẩm chất khác của con người trong lĩnh vực hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang phải được thể hiện thành hành động cách mạng cụ thể.

    Nhấn mạnh vai trò của con người, nhưng Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa vai trò của con người. Phép biện chứng là ở chỗ, Hồ Chí Minh đặt con người trong mối quan hệ tổng hòa với các nhân tố khác như trang bị kỹ thuật, hậu phương chiến tranh, chế độ chính sách… và đặc biệt Hồ Chí Minh khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự thương yêu đùm bọc của nhân dân là những điều kiện quyết định để phát huy vai trò và sức mạnh của con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang.

    Một vấn đề sâu sắc về con người trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là phải luôn chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người trong hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang. Lĩnh vực hoạt động quân sự là lĩnh vực hoạt động đặc thù. Đó là nơi thử thách con người một cách toàn diện nhất, là nơi gian khổ, khó khăn, đời hỏi sự sẵn sàng hy sinh. Vì vậy, phải thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao giác ngộ cách mạng, ý chí và bản lĩnh chiến đấu, kiên định lập trường giai cấp công nhân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu cách mạng của Đảng, của dân tộc; thường xuyên chú trọng rèn luyện, nâng cao năng lực, trình độ kỹ thuật, chiến thuật; vận dụng sáng tạo truyền thống đánh giặc, nghệ thuật đánh giặc của cha ông; rèn luyện sức khỏe, kỷ luật và quan tâm một cách thích đáng đối với những người này. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở Đảng và nhân dân phải quan tâm chu đáo đến những người hoạt động trong lĩnh vực quân sự và đấu tranh vũ trang. Người là hiện thân sinh động của sự quan tâm to và đặc biệt sâu sắc. Bác thương người chiến sĩ tuần tra trong đêm thu mưa rét, thương đoàn dân công tải gạo cho chiến trường ngủ giữa rừng, Bác dành muôn vàn tình thương cho cán bộ chiến sĩ, Bác dành tiền tiết kiệm tặng bộ đội phòng không không quân, Bác gặp gỡ cán bộ cao cấp toàn quân trước lúc đi xa… Sự quan tâm của Đảng, Bác Hồ, của nhân dân là cơ sở là nền tảng xây dựng, bồi đắp bản chất truyền thống tốt đẹp của các lực lượng vũ trang, xây dựng và bồi đắp hình ảnh cao quý: “Bộ đội Cụ Hồ”.

    Quan điểm con người trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn phản ánh sâu sắc tư tưởng nhân văn trên cơ sở kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc và quan điểm nhân đạo của chủ nghĩa Mác- Lênin. Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng mạnh trưởng thành.

    Từ những quan điểm cơ bản cốt lõi trên, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn được thể hiện trên các lĩnh vực hoạt động quân sự cụ thể:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Đó là hệ thống các quan điểm về phát động toàn dân đứng lên vũ trang khởi nghĩa, đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tế xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Điểm sáng tạo trong quan điểm về khởi nghĩa của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Hồ Chí Minh xác định lực lượng tiến hành khởi nghĩa là lực lượng toàn dân, lấy công nhân và nông dân làm lực lượng chủ yếu dưới sự lãnh đạo của đội tiên phong của giai cấp công nhân. Về điều kiện khởi nghĩa Hồ Chí Minh chỉ rõ là phải có thời cơ, đại sự muốn thành công phải nhờ “vận nước”. “Vận nước” theo quan điểm Hồ Chí Minh không phải là một điều thần bí, “vận nước” là lòng dân và tình thế trong nước, ngoài nước, lòng dân tin theo cách mạng quyết tâm đứng lên đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc. Tình thế trong và ngoài nước có lợi cho khởi nghĩa nổ ra. Tuy nhiên, có “vận nước” rồi lại cần phải đồng sức đồng lòng chớp thời cơ đứng lên khởi nghĩa. Việc nắm thời cơ, phát động khởi nghĩa đúng thời cơ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của khỏi nghĩa, về hình thức khởi nghĩa đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Có thể nói, đây là nét độc đáo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang còn đề cập đến vai trò của căn cứ địa và yêu cầu phải nắm vững tinh thần tiến công, trong thực hành khởi nghĩa phải kiên quyết tấn công. Phòng ngự là con đường chết của mọi cuộc khởi nghĩa.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, là cơ sở để vận dụng sáng tạo trong tình hình hiện nay.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn làm sâu sắc và phát triển thêm lý luận Mác – Lênin về chiến tranh cách mạng ở Việt Nam. Nét nổi bật trong quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Toàn dân kháng chiến, toàn dân đánh giặc là quan điểm xuất phát từ thực tiễn các cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ nền độc lập của dân tộc, bảo vệ cuộc sống tự do hạnh phúc của nhân dân. Điều đó cho phép có thể động viên toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ. Mặt khác, thực tiễn chiến tranh ở Việt Nam cũng cho thấy kẻ thù xâm lược thường mạnh hơn ta về quân sự, về vũ khí trang bị. Do vậy, sức mạnh để đánh thắng kẻ thù không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang mà trước hết và quan trọng hơn hết là phải dựa vào lực lượng toàn dân, tổ chức tập hợp và phát động toàn dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Đó chính là cơ sở của sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. Chiến tranh nhân dân theo quan điểm Hồ Chí Minh luôn gắn với toàn diện. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân là sức mạnh tổng hợp trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao… trong đó đánh địch trên mặt trận quân sự là hình thức cơ bản có ý nghĩa quyết định trực tiếp; đấu tranh trên mặt trận chính trị giữ một vị trí không kém phần quan trọng nhằm phát huy cao độ thế chính nghĩa của ta, vạch trần bản chất phi nghĩa của địch, thực hiện đoàn kết toàn dân chống đế quốc xâm lược.

    Trên mặt trận kinh tế, phải chăm lo phát triển kinh tế của ta, phá kinh tế của địch, đảm bảo sự cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi nguồn lực của đất nước cho chiến tranh, cho công cuộc phòng thủ đất nước.

    Trên mặt trận văn hóa, cuộc đấu tranh cũng diễn ra hết sức quyết liệt. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến là một đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận quân sự Mác – Lênin, là sự kế thừa và phát triển sáng tạo truyền thống quân sự của dân tộc.

    Quan điểm của Hồ Chí Minh vê chiến tranh cách mạng còn khẳng định, để tiến hành cuộc chiến tranh chống lại kẻ địch mạnh phải thực hiện phương châm đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến vừa kiến quôc, thực hiện việc xây dựng hậu phương chiến tranh vững mạnh mà trước hết đó là lòng dân, là khối đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là tiềm lực sức mạnh của cả nước được tập trung, được huy động cho chiến tranh.

    Về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh khẳng định việc tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là một yêu cầu không thể thiếu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Đảng Cộng sản có nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Đó là lực lượng chiến đấu tin cậy của Đảng, công cụ bạo lực của giai cấp để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự sáng tạo trong tư duy quân sự Hồ Chí Minh là ở chỗ, trong khi khẳng định một vấn đề có tính nguyên tắc đó là bản chất giai cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam – bản chất giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ quân đội đó còn là quân đội của dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu hy sinh. Mối quan hệ mật thiết và máu thịt với nhân dân là mối quan hệ phản ánh bản chất của quân đội cách mạng theo quan điểm của Hồ Chí Minh. Có thể nói, tư tưởng về quân đội của dân, do dân, vì dân là nét đặc sắc xuyên suốt trong tư duy quân sự của Hồ Chí Minh, là thực tế sinh động trong quá trình tổ chức giáo dục và rèn luyện quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh bản chất cách mạng của quân đội ta, thể hiện rõ mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở. Hình ảnh “Anh bộ đội cụ Hồ” là biểu tượng cao đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong đời sống tinh thần tư tưởng của nhân dân.

    Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng còn phản ánh tư duy độc đáo qua việc xác định chức năng, nhiệm vụ quân đội. Theo Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác, vừa là đội quân sản xuất. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó, Đảng Cộng sản phải quan tâm chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Phải xây dựng nền nếp chính quy và từng bước hiện đại hóa để nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã kế thừa và đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển lên đỉnh cao mới: nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh. Tinh thần cơ bản của nghệ thuật quân sự mà Hồ Chí Minh đề cập được thể hiện qua nhiều bài viết như:”Cách đánh du kích”, “Binh pháp Tôn Tử”… Qua đó có thể khái quát trên một số mặt sau:

    – Phải nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, giành và giữ quyền chủ động trong khởi nghĩa cũng như trong chiến tranh. Tiến công và phòng ngự là nội dung rất quan trọng trong chỉ đạo chiến tranh được Hồ Chí Minh vận dụng, sáng tạo trong chỉ đạo chiến lược, chiến thuật quân sự.

    – Phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp. Điểm cốt lõi của việc phát huy sức mạnh tổng hợp trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện của đất nước, của dân tộc. Là sự kết hợp một cách tài tình sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để chiến thắng kẻ thù. Nghệ thuật phát huy sức mạnh tổng hợp của Hồ Chí Minh trong chiến tranh là sự tổng hòa của cả thế và lực, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là sự kết hợp sức mạnh của đường lối chính trị, quân sự; là sự kết hợp tài tình giữa chiến lược và sách lược cách mạng nhằm không ngừng tăng cường sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong giải phóng dân tộc, cũng như trong bảo vệ Tổ quốc.

    – Tạo lực, tạo thế, tạo thời cơ, dùng mưu để thắng địch là những yếu tố quan trọng của nghệ thuật quân sự từ Đông Tây kim cổ đều vận dụng. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ là nghệ thuật vận dụng sáng tạo những cách đánh truyền thống “lấy ít thắng nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”. Chiến tranh giải phóng dân tộc chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân đế quốc thông thường là một cuộc chiến tranh của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh. Muốn giành thắng lợi không chỉ có ý chí mà phải tạo ra lực, tạo được thế, tạo được thời cơ và phải có một lối đánh tài giỏi, phải quyết đánh và biết đánh bằng nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân. Vì vậy, trong chỉ đạo chiến tranh, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nội dung rất cơ bản này của nghệ thuật quân sự.

    – Chủ động đánh vào lòng người đối phương, kết hợp tác chiến với địch vận. Ở đây, Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền thống văn hóa, lòng nhân ái cao cả của dân tộc và kinh nghiệm đấu tranh trong nước, thế giới. Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, của nghệ thuật quân sự Việt Nam, Hồ Chí Minh chú trọng dùng “mưu phạt tâm công”, chủ động đánh vào lòng người đối phương, kết hợp tác chiến với binh địch vận làm cho thắng lợi ngày càng lớn hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng lại càng giỏi hơn, không đánh mà thắng là nhờ địch vận”.

    – Nghệ thuật khởi đầu và kết thúc chiến tranh cũng là nội dung độc đáo trong nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh. Có thể nói, Hồ Chí Minh là nhà chiến lược quân sự thiên tài, rất khát khao hòa bình, nhưng khi buộc phải tiến hành chiến tranh đã lựa chọn rất chính xác thời cơ, động viên nhân dân cả nước không phân biệt già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo đảng phái, không phân biệt miền ngược, miền xuôi, hễ là người Việt Nam đều đứng lên đánh giặc cứu nước. Trong quá trình tiến hành chiến tranh, khi kẻ địch đã ở vào thế cùng, tư duy quân sự của Hồ Chí Minh tiếp thu sáng tạo truyền thống quân sự dân tộc biết tìm ra cách kết thúc chiến tranh trong thế mạnh của cách mạng. Với tinh thần đó, trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo vừa đánh, vừa đàm; kết hợp giữa đánh và đàm để kết thúc chiến tranh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách thức đế kết thúc chiến tranh là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” thực tế lịch sử đã diễn ra đúng theo cách mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

    Trong di sản tư tưởng quân sự mà Hồ Chí Minh để lại cho đất nước, cho dân tộc có những quan điểm bước đầu rất quan trọng về xây dựng nên quốc phòng toàn dân. Do điều kiện lịch sử, Hồ Chí Minh chưa có điêu kiện bàn sâu về vấn đề này. Nhưng những gì mà Người để lại đã đặt cơ sở nền tảng rất quan trọng cho sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng ta và nhân dân ta.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân khẳng định, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chính quyên cách mạng, bảo vệ nhân dân là yêu cầu khách quan mà Đảng phải thường xuyên quan tâm. Người nói: “Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời dạy đó của Người chỉ ra quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng bảo vệ Tổ quốc phải là hành động có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên được chuẩn bị. Vì vậy, xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải nhìn xa, phải thấy trước âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, thấy trước thuận lợi khó khăn của cách mạng để chủ động chuẩn bị trước về mọi mặt, nhằm tăng cường tiềm lực sức mạnh của đất nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Từ truyền thống “cả nước đánh giặc”, “trăm họ làm binh”, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh toàn dân, toàn diện của đất nước. Đó là sự kê thừa truyền thống giữ nước và dựng nước của ông cha ta, là một truyền thống quý báu của dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin về yêu cầu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

    Để phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng, theo Hồ Chí Minh, phải giáo dục, tô chức, tập hợp toàn dân. Phát huy sức mạnh của toàn dân luôn gắn với chăm lo bồi dưỡng sức dân.

    Xây dựng nền quốc phòng theo quan điểm của Hồ Chí Minh phải phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về quân sự, chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa…

    Sức mạnh về quân sự quyết định trực tiếp sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Sức mạnh đó thể hiện ở sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, khả năng chủ động chiến lược đề phòng và ngăn chặn chiến tranh, khả năng chuyển trạng thái đất nước từ thời bình sang thời chiến, khả năng tạo ưu thế về so sánh lực lượng trong chiến tranh. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là chuẩn bị cho cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc trong tương lai. Cuộc chiến tranh ấy vạn là chiến tranh nhân dân vì thế, nó phải quán triệt quan điểm toàn dân đánh giặc trong đó lực lượng vũ trang 3 thứ quân là nòng cốt.

    Sức mạnh chính trị tinh thần là nền tảng quan trọng, có vai trò quyết định nhất đối với sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Sức mạnh chính trị của nền quốc phòng toàn dân bắt nguồn từ tính chất của nền quốc phòng ấy là của dân, do dân, vì dân là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng… Cho nên nó có khả năng quy tụ được mọi lực lượng, huy động được mọi tiềm năng của đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Sức mạnh chính trị tinh thần của nền quốc phòng được thể hiện thông qua sự vững mạnh của cả hệ thống chính trị mà trong đó hạt nhân quyết định là sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh tối cao là sức mạnh của ý chí toàn dân.

    Sức mạnh kinh tế là nền tảng của sức mạnh đất nước và của nền quốc phòng. Sức mạnh đó được biểu hiện ở khả năng sản xuất và phục vụ sản xuất, phục vụ mọi mặt đời sống trong thời bình và khả năng huy động vật chất kỹ thuật, đảm bảo cho nhu cầu thời chiến, khi chiến tranh xảy ra.

    Văn hóa khoa học kỹ thuật là nền tảng của đời sống tinh thần xã hội, là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Theo Hồ Chí Minh: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì vậy, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng nền tảng văn hóa tinh thần cho dân tộc. Là một dân tộc văn hiến mà nét tiêu biểu là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cộng đồng dân tộc, dân tộc ta đã dũng cảm đứng lên chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Sức mạnh của nền quốc phòng dựa trên nền tảng văn hóa tinh thần của dân tộc kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản sẽ trở nên vô địch.

    Xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo quan điểm Hồ Chí Minh đời hỏi phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, chủ động ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hễ còn chủ nghĩa đế quốc thì nguy cơ chiến tranh vẫn còn. Cho nên chúng ta phải luôn cảnh giác và đế phòng, quyết không được chủ quan khinh địch”. Thực tế cách mạng Việt Nam đã cho thấy nhận định trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn.

    Xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo quan điểm Hồ Chí Minh là phải quan tâm tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Tinh thần độc lập tự chủ tự cường là quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh cũng như trong tư tưởng quân sự của Người. Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chò dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Bài học lịch sử của dân tộc Việt Nam cũng như là tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cũng không phải là tư tưởng bài ngoại. Với đường lối đối ngoại đúng đắn, Hồ Chí Minh đã tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn và thiết thực của các nước xã hội chủ nghĩa, của bè bạn khắp năm châu, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường là một nội dung quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Tư tưởng đó còn được phát huy trong việc xây dựng thế trận quốc phòng, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ năm 1941, trong tác phẩm “Kinh nghiệm du kích Tàu”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “Mỗi quốc dân phải là một chiến sĩ, mỗi làng xóm phải là một ổ du kích”. Tháng 8/1949, trên báo “Quân du kích”, Hồ Chí Minh viết: “Làm cho mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài”. Trong công cuộc xây dựng bảo vệ miền Bắc, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến rừng núi để tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, sẵn sàng đánh thắng mọi hành động xâm lược của kẻ thù. Xây dựng thế trận quốc phòng vững chắc mới thực hiện được tư tưởng kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho toàn dân đánh giặc, mới phát huy được sức thấy, có tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường mới có cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước, sáng tạo những hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Chính nhờ phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường mà cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch mạnh của lòng dân, kết hợp với thế hiếm của sông núi, kết hợp sức mạnh của toàn dân với sức mạnh toàn diện của đất nước.

    Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, một bộ phận quan trọng trong tư tưởng cách mạng của Người, là kết quả của hoạt động tư duy và thực tiễn trong điều kiện cụ thể của cách mạng Viêt Nam và thế giới, là sự kế thừa xuất sắc truyển thống quân sự của dân tộc, tinh quân của nhân loại. Trong thực tiễn tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng cho đường lối quân sự của Đảng trở thành ngọn đuốc soi đường của hoạt động quân sự và đấu tranh vũ trang của nhân dân ta. Tư tưởng đó được thực tiễn lịch sử Việt Nam khẳng định là đúng đắn và sáng tạo. Tư tưởng đó đã trở thành hạt nhân của tư tưởng quân sự Việt Nam trong thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục chỉ dẫn cho mọi hành động của Đảng ta và nhân dân ta trong lĩnh vực hoạt động quân sự, đấu tranh vũ trang, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

    Bảo vệ tổ quốc trong tình hình hiện nay luôn gắn với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng bảo vệ nhân dân; gắn với xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng phải được tổ chức thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn trong thực tiễn sinh động của công cuộc xây dựng và đấu tranh trong thời kỳ mới. Kẻ thù chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Chúng dùng mọi thủ đoạn để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chúng móc nối, cấu kết với các lực lượng thù địch bên trong và bên ngoài, lợi dụng các vấn đề dân tộc và tôn giáo… để gây rối, tạo ngòi cho bạo loạn lật đổ. Chúng có thể sử dụng sức mạnh quân sự để can thiệp hòng thực hiện ý đồ xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, biến Việt Nam thành một nước phụ thuộc. Tình hình đó đời hỏi chúng ta phải luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tạo thế chủ động chiến lược đẩy lùi, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay phải được tiến hành bằng sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, mà nòng cốt là liên minh công nông và tầng lớp trí thức, là sức mạnh của các thành phần kinh tế, của cả hệ thống chính trị; là sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và an ninh, kết hợp quốc phòng với an ninh, kinh tế và ngoại giao; kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế với sức mạnh quân sự của đất nước, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù. Quá trình đó cũng là quá trình kết hợp giữa phát huy tinh thần tự lực tự cường với hợp tác mở cửa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để giành thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng.

    Tăng cường sức mạnh bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân một mặt, phải thường xuyên coi trọng xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng vững mạnh trưởng thành. Chăm lo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân rộng khắp, củng cố và tăng cường tiềm lực sức mạnh quân sự đất nước, đảm bảo sẵn sàng đánh thắng các loại hình và quy mô chiến tranh xâm lược của kẻ thù, kể cả chiến tranh vũ khí kỹ thuật cao. Mặt khác, vấn đề hết sức quan trọng là phải tập trung phát triển nhanh và vững chắc nền kinh tế của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, nền an ninh của Tổ quốc, sự bền vững của chế độ không chỉ phụ thuộc vào các yêu tố quân sự mà còn phụ thuộc hết sức chặt chẽ vào các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, phù hợp vối điều kiện lịch sử mới, nhất định nhân dân ta sẽ đi đến thắng lợi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm “con Người” Trong Tư Tưởng Nhân Văn Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Nhân Văn Hồ Chí Minh
  • Đề Cương Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm, Nguồn Gốc Và Quá Trình Hình Thành
  • Bài 1: Đối Tượng Nghiên Cứu
  • Ý Nghĩa Của Việc Học Tập Môn Học Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đối Với Sinh Viên
  • Lênin, Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát Là Gì? Những Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế
  • Nguyên Âm Trong Tiếng Việt Là Gì? Số Lượng Và Phân Loại Các Nguyên Âm Đôi
  • Hoàn Thiện Quy Định Về Tội Rửa Tiền
  • Phòng, Chống Rửa Tiền Qua Các Tổ Chức Tín Dụng Theo Pháp Luật Của Hoa Kỳ, Singapore Và Những Gợi Mở Cho Việt Nam
  • Sinh Trưởng Của Vi Sinh Vật Là Gì? Tốc Độ Tăng Trưởng Trong Xlnt Ra Sao?
  • 1. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng trong thời đại ngày nay

    1.1. Sự ra đời, phát triển và các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin

    1.1.1. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin

    Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi mà chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đang trên đà phát triển mạnh mẽ đã tạo ra những điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội thuận lợi cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Đặc biệt, sự xuất hiện giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp này là một trong những điều kiện chính trị – xã hội quan trọng nhất cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Trong thời kỳ này, nhiều phát minh khoa học mang tính vạch thời đại xuất hiện. Những phát minh khoa học này không chỉ làm bộc lộ rõ tính hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình mà còn tạo ra cơ sở khoa học để khắc phục phương pháp tư duy siêu hình này. Đồng thời, chúng cũng cung cấp những cơ sở khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác ra đời còn là kết quả của sự kế thừa có chọn lọc, tiếp thu có phê phán toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ cổ đại đến thời đại của C.Mác (1818-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895), nhưng trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác còn là kết quả của các yếu tố chủ quan của C.Mác và Ph.Ăngghen, như: tình yêu thương những người lao động, tinh thần hy sinh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng họ, niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, cùng sự thông minh…

    Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác được V.I.Lênin bổ sung, phát triển trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khoa học về thế giới vi mô phát triển và chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng ở nước Nga Xô viết, mở ra giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết khoa học và cách mạng, bởi nó phản ánh đúng quy luật khách quan vận động của lịch sử và đấu tranh xóa bỏ mọi hình thức nô dịch người, xây dựng một xã hội mà ở đó không còn người bóc lột người, người đàn áp người, người nô dịch người và sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự tự do của tất cả mọi người.

    1.1.2. Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học gồm ba bộ phận thống nhất hữu cơ không thể tách rời nhau:

    – Triết học Mác – Lênin là khoa học về những quy luật phổ biến chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; trang bị cho con người thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới.

    – Kinh tế chính trị học Mác – Lênin nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (tức là nghiên cứu quan hệ sản xuất) và trong trao đổi, tiêu dùng; nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với quy luật giá trị thặng dư, chỉ rõ bản chất, những quy luật kinh tế chủ yếu của sự hình thành, phát triển và đưa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tới chỗ diệt vong; chỉ ra những quy luật phát triển của quan hệ sản xuất mới, con đường xây dựng một xã hội không có áp bức bất công, vì tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người – xã hội cộng sản chủ nghĩa, giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.

    – Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chuyển biến xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng xã hội mới; chứng minh rằng, chủ nghĩa tư bản càng phát triển càng tạo ra những tiền đề vật chất đầy đủ cho sự ra đời xã hội mới – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó chính là giai cấp vô sản và nhân dân lao động; chỉ ra sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là lật đổ chủ nghĩa tư bản xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa – không còn người áp bức người, không còn người nô dịch người; nghiên cứu những vấn đề chính trị – xã hội có tính quy luật trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa như vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội…

    1.1.3. Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong các giai đoạn lịch sử

    Thời kỳ trước “đổi mới, cải cách, cải tổ”

    Các nhà lý luận của chủ nghĩa xã hội, đứng đầu là các nhà lý luận Xô Viết đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên tất cả ba bộ phận triết học; kinh tế – chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Họ đã cụ thể hóa và làm giàu thêm những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin bằng thực tiễn đấu tranh giải phóng giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở một loạt nước xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, họ cũng đã kiên quyết đấu tranh bác bỏ những sự xuyên tạc, vu khống ác ý đối với chủ nghĩa Mác – Lênin. Tuy nhiên, sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở Liên Xô nói riêng trước đổi mới, cải cách, cải tổ ít nhiều đã bị giáo điều. Chính vì vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trước đổi mới, cải cách, cải tổ có những biểu hiện giáo điều, xơ cứng, bảo thủ, chậm đổi mới.

    Thời kỳ “đổi mới, cải cách, mở cửa”

    Trong thời kỳ đổi mới, cải cách, mở cửa, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng một số Đảng Cộng sản khác đã vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn mỗi nước. Trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng, trong đó đặc trưng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” vừa là đặc trưng thứ nhất vừa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Trung Quốc đã xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục được xây dựng ở Cu Ba, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào… Vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn tồn tại và phát triển, vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu con người tiến bộ trên trái đất.

    1.2.Những nội dung chủ yếu thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin

    1.2.1. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học thống nhất của ba bộ phận cấu thành không thể tách rời là Triết học Mác – Lênin; Kinh tế chính trị học Mác – Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.

    Học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của Triết học Mác – Lênin chỉ ra rằng, lực lượng sản xuất theo quy luật khách quan tự thân luôn vận động phát triển và đến một giai đoạn nhất định sẽ mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có, mâu thuẫn này được giải quyết sẽ làm cho phương thức sản xuất mới ra đời, kéo theo nó là một xã hội mới, một hình thái kinh tế – xã hội mới được ra đời từ trong lòng xã hội cũ, hình thái kinh tế – xã hội cũ. Quá trình này diễn ra một cách lịch sử – tự nhiên. Từ trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ hình thành những điều kiện, tiền đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

    Học thuyết giá trị thặng dư của Kinh tế chính trị học Mác – Lênin chỉ rõ sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là mục đích và quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính mâu thuẫn giữa tính xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa mâu thuẫn với tính chất tư bản tư nhân chủ nghĩa của sự chiếm hữu tư liệu sản xuất là nguyên nhân của mọi mâu thuẫn trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân – giai cấp tiến bộ, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ với giai cấp tư sản – giai cấp đại diện cho giai cấp bảo thủ, phản tiến bộ. Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cách mạng xã hội do giai cấp công nhân thực hiện. Giai cấp công nhân có vai trò lôi cuốn các tầng lớp lao động khác vào cuộc đấu tranh đập tan xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn người bóc lột người mà Chủ nghĩa xã hội khoa học đã phân tích chỉ ra.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học là còn bởi lẽ, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã kế thừa toàn bộ tinh hoa trong lịch sử tư duy của nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin còn có căn cứ cơ sở, tiền đề khoa học; có giai cấp vô sản và thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp này và các phương pháp khoa học, khách quan trong nhận thức tự nhiên, xã hội và tư duy của con người.

    1.2.2. Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận mácxít

    Trước khi chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học luôn tách rời nhau. Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại cũng có một số nhà tư tưởng có sự thống nhất giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học. Tuy nhiên, sự thống nhất này còn ở trình độ thấp. Hơn nữa, cả thế giới quan khoa học, cả phương pháp luận biện chứng khoa học đều còn ở trình độ thô sơ.

    Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật thống nhất hữu cơ với phép biện chứng. Đồng thời, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều được C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển lên một trình độ mới về chất hơn hẳn so với trước đó. Do đó, sự thống nhất thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học mácxít là một đặc trưng không thể thiếu của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    1.2.3. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với việc xác định rõ con đường, lực lượng, phương thức để đạt mục tiêu đó

    Chủ nghĩa Mác – Lênin xuất phát từ con người hiện thực và cũng nhằm mục đích giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác – Lênin không có mục tiêu nào khác là giải phóng con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột. Nhưng để giải phóng con người, trước hết phải giải phóng giai cấp công nhân rồi tiến tới giải phóng nhân loại, giải phóng xã hội. Con đường giải phóng này là con đường đấu tranh cách mạng đập tan nhà nước tư sản bóc lột, xây dựng một nhà nước mới – nhà nước xã hội chủ nghĩa và sau này là cộng sản chủ nghĩa – mà ở đó không còn bất kỳ sự nô dịch, áp bức, bóc lột con người nào. Muốn vậy, giai cấp công nhân phải đoàn kết, tập hợp giai cấp nông dân và những người lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để thực hiện cuộc đấu tranh cách mạng này.

    Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng tỏ ý nghĩa nhân văn to lớn của mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác – Lênin. Cả về phương diện lý luận, cả về phương diện thực tiễn đều chứng tỏ, chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa nhân đạo nhất.

    1.2.4. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết mở, không ngừng được đổi mới, được phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại

    Về bản chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết phát triển, là hệ thống mở, luôn được bổ sung, phát triển. Ngay từ năm 1887, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi không phải là một giáo điều, mà là sự giải thích quá trình phát triển, quá trình này bao hàm trong bản thân nó một loạt những giai đoạn kế tiếp nhau”.

    C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không bao giờ tự coi lý luận của các ông là “bất khả xâm phạm”, là hệ thống khép kín, là chân lý tuyệt đích cuối cùng. Trái lại, các ông luôn đòi hỏi những người cộng sản phải biết vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa…của mỗi nước. Sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các Đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế cũng cho thấy bản chất vốn có của chủ nghĩa Mác – Lênin là sáng tạo và phát triển. Chính nhờ có sáng tạo mà chủ nghĩa Mác – Lênin được phát triển, chính phát triển lại là điều kiện cho những người mác-xít vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin.

    2. Tư tưởng Hồ Chí Minh – hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam

    2.1. Khái niệm và nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

    2.1.1. Khái niệm

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của Nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân…”.

    Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một hệ thống quan điểm, tư tưởng bao gồm những nội dung cốt lõi:

    Thứ nhất, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Thứ hai, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thứ ba, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thứ tư, về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thứ năm, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Thứ sáu, về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Thứ bảy, về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Thứ tám, về đạo đức cách mạng. Thứ chín, về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Thứ mười, về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

    Đảng ta coi tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi.

    2.1.2. Nguồn gốc hình thành

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chủ nghĩa Mác – Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở nhiều vấn đề lý luận quan trọng, nhất là lý luận về giai cấp – dân tộc và lý luận về chủ nghĩa xã hội.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Hồ Chí Minh là một trong những người con ưu tú của dân tộc. Người đã kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong đó giá trị tiêu biểu là chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lực, tự cường; tinh thần nhân nghĩa; truyền thống đoàn kết tương thân tương ái, truyền thống cần cù, dũng cảm ,thông minh, sáng tạo…

    Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, nhất là những tư tưởng tiến bộ trong Nho giáo, Phật giáo và tư tưởng tiến bộ của Tôn Trung Sơn. Ở đó, Người tìm thấy những yếu tố phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta. Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái và cách mạng phương Tây. Từ đó, Người hướng cách mạng Việt Nam theo những giá trị của nền văn hóa ấy.

    Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu thương Nhân dân vô hạn, một nhân cách lớn. Hồ Chí Minh cũng là người có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, không ngừng học tập để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào giải phóng dân tộc.

    Nhân cách, phẩm chất, tài năng và trí tuệ của Hồ Chí Minh đã giúp Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu được các giá trị văn hóa nhân loại và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, là tiền đề cho những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

    2.2. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh

    2.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người

    Hồ Chí Minh cho rằng, con đường của cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Trong đó, giải phóng dân tộc để dân tộc ta thoát khỏi cảnh lầm than, nô lệ, áp bức, nô dịch bởi thực dân, đế quốc; giải phóng giai cấp để xóa bỏ áp bức giai cấp, bóc lột giai cấp, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân. Giải phóng xã hội để thực hiện công bằng xã hội. Giải phóng con người để mỗi người ai cũng có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được phát triển toàn diện. Tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chủ tịch là dân tộc thì độc lập, dân quyền thì tự do, dân sinh thì hạnh phúc. Chính vì vậy, với Người không có gì quý hơn độc lập, tự do. Nhưng giành được độc lập, tự do rồi mà dân vẫn đói, vẫn rét thì độc lập, tự do cũng vô nghĩa.

    Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi lẽ, giải phóng dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Tuy nhiên, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội và con người sẽ củng cố, khẳng định, bảo vệ giải phóng dân tộc. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, các nước thuộc địa và phụ thuộc phải tiến hành chủ động, sáng tạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Trong các cuộc cách mạng giải phóng ấy thì giải phóng con người là mục tiêu cao nhất của cách mạng, thúc đẩy cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

    2.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

    Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới vững bền. Nói khác đi, chỉ có lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa mới là con đường bảo vệ và phát triển vững chắc nhất thành quả của độc lập dân tộc, mới bảo đảm cho Nhân dân thực sự được hạnh phúc, đồng bào ta thực sự được ấm no. Tất nhiên, độc lập dân tộc cũng là điều kiện, tiền đề, cơ sở để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ phát triển lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển đúng đắn và hợp quy luật khách quan của Việt Nam. Điều này có các luận cứ:

    Thứ nhất, đây là quy luật phát triển khách quan của lịch sử không ai có thể ngăn cản được. Người khẳng định: “Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa… Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho Nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”.

    Có thể nói, chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người ai cũng có việc làm, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành; các dân tộc trong nước đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Chủ nghĩa xã hội có quan hệ hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội như vậy sẽ không chỉ bảo vệ vững chắc thành quả của độc lập dân tộc mà còn làm cho Nhân dân được hạnh phúc, đồng bào được ấm no, tạo điều kiện phát triển mới cho dân tộc, cho mọi người dân. Do vậy, mà Hồ Chí Minh đã gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và đây là một giá trị bền vững trong tư tưởng của Người.

    2.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

    Sức mạnh dân tộc theo Hồ Chí Minh, đó là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do, ý thức tự lực, tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết. Sức mạnh của thời đại được Hồ Chí Minh đúc kết từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Trải qua nhiều nước trên thế giới, Người hiểu rằng, “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Quần chúng nhân dân có vai trò hết sức to lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Chính quần chúng nhân dân là chủ thể của lịch sử, chủ thể của mọi sáng tạo, chủ thể của mọi phong trào cách mạng. Trong một quốc gia, quần chúng nhân dân là gốc của nước. Với Hồ Chí Minh “nước lấy dân làm gốc”.

    Với Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân còn là người quyết định lịch sử. Người thường hay trích dẫn câu ca của người dân vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” để nói lên vai trò to lớn của quần chúng nhân dân. Vai trò của Nhân dân còn được Người khẳng định rõ: “Ở đâu có dân là có núi, có sông, có biển. Dân có sức mạnh hơn cả sông núi. Nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công”. Hồ Chí Minh coi dân chủ thể hiện ở việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Dân chủ không dừng lại với tư cách như là một thiết chế xã hội của một quốc gia, mà còn có ý nghĩa biểu thị mối quan hệ quốc tế, hòa bình giữa các dân tộc. Đó là dân chủ, bình đẳng trong mọi tổ chức quốc tế, là nguyên tắc ứng xử trong các quan hệ quốc tế. Vì vậy, Người yêu cầu phải thực hiện được một nền dân chủ chân chính. Không cho phép ai lợi dụng và lạm quyền “dân chủ” để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và Nhân dân.

    Nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh là khẳng định cội nguồn quyền lực nhà nước ta là ở Nhân dân. “Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ của Nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Bốn là, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước này là nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà nước thực hiện quyền lực của Nhân dân, dựa vào sức mạnh của Nhân dân, trước hết là Nhân dân lao động.

    Nhà nước của dân là: tất cả quyền bính đều thuộc về Nhân dân, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia do Nhân dân phán quyết; tức là Nhân dân phải là người thực hiện quyền lực, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các đại biểu của mình “Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên”.

    Nhà nước do dân vì “lực lượng bao nhiêu là nhờ dân hết”. Nhà nước muốn điều hành quản lý xã hội có hiệu quả thì phải dựa vào dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “dân như nước mình như cá”; phải “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân… Chính phủ chỉ giúp kế hoạch cổ động”. Vì vậy, Đảng ta luôn chủ trương dựa vào dân, tạo điều kiện để nhân dân phát huy cao nhất quyền làm chủ, tham gia tích cực vào việc quản lý nhà nước.

    Nhà nước vì dân nghĩa là mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát và vì lợi ích của Nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được; việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.

    2.2.6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

    Hồ Chí Minh sớm nhận ra rằng, muốn giải phóng dân tộc thì phải có lực lượng quân sự và lực lượng này phải có tổ chức, phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng cần kết hợp giáo dục quân sự với chính trị. Bởi lẽ, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Do vậy, ngay sau khi giành chính quyền về tay nhân dân, Người đã kêu gọi nhân dân cả nước tích cực tăng gia sản xuất, quyết tâm diệt giặc dốt và chỉ rõ trách nhiệm “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi”. Với một nước nông nghiệp, Người đưa ra cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp; xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đảm bảo an ninh lương thực để công nghiệp hoá và là hậu phương vững chắc cho sự nghiệp cách mạng. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tạo lập trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Hồ Chí Minh là người sớm đưa ra chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất. Người coi trọng vấn đề quản lý, hạch toán kinh tế, cho đó là chìa khoá phát triển kinh tế quốc dân. Người đề xuất chính sách mở cửa và hợp tác với các nước để thu hút ngoại lực và phát huy nội lực. Người cũng đã bước đầu đề cập đến vấn đề khoán trong sản xuất.

    Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá với nghĩa rộng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát triển ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nghĩa là phải nâng cao ý thức giác ngộ cách mạng, độc lập dân tộc, kiên trì phấn đấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, ý thức tự lực tự cường, không có gì quý hơn độc lập tự do của nhân dân. Phải thực hiện công bằng xã hội. Phải phát triển dân trí, coi giáo dục là quốc sách.

    2.2.8. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

    Đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên theo Hồ Chí Minh có tầm quan trọng đặc biệt – là gốc, là nền tảng cách mạng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Đạo đức cách mạng là đạo đức mới, trong đạo đức này có sự thống nhất lợi ích của Đảng với lợi ích của dân tộc và lợi ích của nhân loại tiến bộ. Đạo đức cách mạng không đối lập với đạo đức chân chính của dân tộc và đạo đức của nhân loại tiến bộ. Nó chỉ đối lập, xa lạ với đạo đức cũ, đạo đức thủ cựu của giai cấp bóc lột, thống trị. “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”. Vì vậy, xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng và hành động, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi, đánh thức, giác ngộ và cổ vũ họ tham gia cách mạng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, sẵn sàng giao nhiệm vụ và tạo điều kiện để họ được học tập, lao động, cống hiến…

    Để hoàn thành sứ mệnh đó, thế hệ trẻ luôn phải tự giác rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải tích cực làm việc để chuẩn bị cho tương lai. Đó là, phải ra sức học tập, trau dồi tri thức, đặc biệt là rèn luyện đạo đức cách mạng. Thế hệ trẻ phải xung phong trong công tác, đi trước, làm trước, phải có tinh thần sẵn sàng dấn thân “đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm. Việc giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội, nhằm giúp họ tránh những cái độc hại, tiêu cực và tiếp thu, học hỏi những cái hay, tiến bộ trong cuộc sống. Nói về những yêu cầu đạo đức cách mạng của thanh niên, của thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”[27]. Những yêu cầu về phẩm chất đạo đức đó cũng là biểu hiện khác của cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư – những phẩm chất đạo đức chân chính trong mỗi con người.

    Hồ Chí Minh cho rằng cần phải tin tưởng ở thế hệ trẻ, phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong xây dựng và kiến thiết đất nước. Muốn phát huy được thế hệ trẻ phải thực sự hiểu thế hệ trẻ; phải quan tâm tới những nguyện vọng, những lợi ích chính đáng của thế hệ trẻ; xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội đối với việc bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ.

    2.2.10. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

    Đảng Cộng sản Việt Nam theo Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Nhưng Đảng không phải là “quan nhân dân”, mà là “công bộc”, “đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”. Hồ Chí Minh viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Bảo Hiểm Nhân Thọ Là Gì
  • Bán Hàng Là Gì? Các Hình Thức Bán Hàng 2021
  • Website Là Gì Và Những Khái Niệm Về Website
  • Tìm Hiểu Về Website Tĩnh Và Website Động
  • Khái Niệm Web Động Và Web Tĩnh
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm ước, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Url, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm Usb, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Uml, Khái Niệm B/l, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Là Gì, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Lễ Hội,

    Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Chứng Minh Rằng Sự Ra Đời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử
  • Tư Tưởng Nhân Văn Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm “con Người” Trong Tư Tưởng Nhân Văn Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Quân Sự Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Nguồn Gốc Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam Thông Qua Tại Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xi Của Đảng
  • Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

    Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, từ xưa đến nay, đã có nhiều học thuyết, tư tưởng đề cập đến số phận con người, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người muốn được giải phóng khỏi những bế tắc trong cuộc sống đời thường, giải thoát khỏi những ràng buộc hà khắc, ngặt nghèo của tự nhiên, xã hội và của chính bản thân con người. Đó chính là tư tưởng nhân văn, nhân đạo được thể hiện ở những mức độ, trình độ khác nhau, tiếp cận từ những giác độ, bình diện khác nhau 1.

    Xét về thực chất, nhân văn là một giá trị mang tính phổ quát, tổ hợp các yếu tố Chân – Thiện – Mỹ. Nó thuộc bản chất người và là hiện thân của thiên hướng vươn lên và hoàn thiện không ngừng của chính con người. Vì thế, nhân văn bao giờ cũng là lý tưởng và mục tiêu mà loài người hằng vươn tới; nó tồn tại và biến thiên, ngày càng thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong suốt tiến trình đi lên của xã hội loài người.

    1. Khái niệm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

    Như chúng ta đều biết tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bao gồm nhiều bộ phận hợp thành. Về nội dung, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thật rộng lớn, bao quát hết các mặt bản chất con người, đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng, môi trường tồn tại, các nhu cầu thể hiện và khát vọng làm chủ mọi mặt cuộc sống v.v…; về hình thức thể hiện, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, rất cô đọng, khái quát, lại rất cụ thể mà không hề trừu tượng, gần gũi với cuộc sống làm người và ai cũng có thể áp dụng được để tự hoàn thiện tính người, hoàn thiện nhân cách làm người.

    Từ việc trình bày khái quát quá trình hình thành, phát triển, các nội dung chủ yếu tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, có thể hình dung diện mạo của tư tưởng đó, chúng tôi cố gắng đi vào xác định khái niệm khoa học. Việc định nghĩa khái niệm ” Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh” phải xuất phát từ định nghĩa khái niệm rộng lớn hơn “Tư tưởng Hồ Chí Minh” và góp phần vào việc cụ thể hóa, xác định rõ hơn khái niệm này. Khi định nghĩa khái niệm ” Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh” chúng tôi dựa vào các nguyên tắc phương pháp luận mácxít.

    Vấn đề đặt ra ở đây là: Thế thì nội dung cốt lõi của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là gì? Nó có trùng hợp với nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung: Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người? Ở đây, chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó theo gợi ý và phương pháp luận của Ph.Ăngghen khi nói về chủ nghĩa Mác.

    Vào những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ XIX, khi chuẩn bị xuất bản các tác phẩm của C.Mác với tư cách là một vĩ nhân của thế giới, một giám đốc nhà xuất bản của Ý đã trực tiếp hỏi Ph.Ăngghen: Luận điểm nào của C.Mác thể hiện chính xác, tập trung, nổi bật nhất tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa nhân văn mácxít? Ph.Ăngghen không cần phải suy nghĩ lâu để trả lời và nói rõ đó là một luận điểm được trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) khi nói về chủ nghĩa cộng sản như là một chế độ xã hội, trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” 2.

    Ở đây, cần lưu ý một điều rất quan trọng: Trong luận điểm nổi tiếng này Ph.Ăngghen đã nhìn thấy hạt nhân và chìa khóa của thế giới quan cộng sản chủ nghĩa của C.Mác và phải hiểu luận điểm đó một cách đầy đủ, trọn vẹn theo nghĩa: Không chỉ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người, mà sự phát triển tự do của cá nhân chỉ có thể được thực hiện khi xã hội được giải phóng khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, nô dịch và tha hóa. Sự phát triển tự do của cá nhân và sự phát triển tự do của xã hội, vì thế, có quan hệ biện chứng và mang tính chế ước lẫn nhau. Không thể có tự do cá nhân trong một xã hội còn có sự thống trị của chế độ tư hữu, người sản xuất bị tước đoạt và tách biệt hẳn các điều kiện và công cụ lao động.

    Vào đầu thế kỷ XX, khi V.I.Lênin và Plêkhanốp soạn thảo Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Dân chủ – xã hội Nga, V.I. Lênin đề nghị cần phải đưa luận điểm đó của Tuyên ngôn vào Cương lĩnh chính trị của Đảng.

    Cũng như C.Mác, Ph.Ănghen, V.I.Lênin nhìn thấy trong việc phát triển tự do, toàn diện của con người, năng lực và tài năng của nó mục đích cơ bản và sự giàu có chủ yếu của xã hội tương lai. Các ông đồng nhất chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa nhân đạo.

    Sau Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản gần một trăm năm, vào năm 1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài về các điều kiện thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình”3 (chúng tôi nhấn mạnh – P.N.A).

    Các tư liệu lịch sử cho phép chúng ta khám phá ra một điều khá thú vị: Sự thống nhất của các nhà kinh điển Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về mục tiêu phát triển của chế độ xã hội tương lai: Hướng vào sự phát triển tự do toàn diện của con người và đó là một nhu cầu khách quan, có thể sớm hay muộn, nhanh hay chậm do đặc điểm dân tộc và thời đại chi phối, nhưng chắc chắn cuối cùng nhân loại sẽ vươn tới xác lập được một xã hội như vậy, một xã hội do con người làm chủ chính đời sống con người.

    Tinh thần này được Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một phương châm khái quát, ngắn gọn: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; độc lập, tự do cho cả dân tộc, cho mỗi cá nhân và cho cả loài người. Với nghĩa đó, độc lập tự do trở thành bản chất cao quý trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, trở thành ngọn cờ chiến đấu và mục tiêu suốt đời hy sinh cống hiến của Người. Vì đó là cái tiên quyết đem lại hạnh phúc và tiến bộ cho nhân dân Việt Nam, cho mỗi người dân và cho cả cộng đồng nhân loại.

    2. Một số đặc trưng chủ yếu của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có một số đặc điểm tổng quát phản ánh quy luật vận động của lý tưởng nhân văn của loài người, lại rất riêng có của Hồ Chí Minh.

    Một điểm dễ thống nhất với nhau là: Sở dĩ tư tưởng Hồ Chí Minh hiện thân khát vọng thể hiện các giá trị làm người cao quý, là linh hồn, là ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lương tâm của thời đại, có sức sống bền vững và có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân Việt Nam và của nhân dân nhiều dân tộc trên thế giới, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, chính là vì tư tưởng của Người đã kế thừa những giá trị tư tưởng, văn hóa “vĩnh cửu” của nhân loại thấm đượm một chủ nghĩa nhân văn cao cả, đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng cháy bỏng và sâu xa của dân tộc và nhân loại.

    Nói về thái độ của mình đối với một số học thuyết và tôn giáo lớn trên thế giới, chính Hồ Chí Minh đã xác nhận: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.

    Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.

    Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.

    Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.

    Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết.

    Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” 4.

    Đứng trên truyền thống nhân văn Việt Nam, trước thực trạng đất nước mất độc lập, chủ quyền, Hồ Chí Minh đòi thực hiện yêu cầu nhân bản bao quát nhất: Đòi cho con người được hưởng những gì vốn có, đó là quyền sống, quyền làm người, quyền độc lập tự do; phải trả lại độc lập cho nhân dân Việt Nam để con người Việt Nam làm chủ đất nước mình, tự mình xây dựng cuộc sống. Đưa con người trở về với chính con người, đó là tư tưởng nhân văn cơ bản, điều mà từ thời cổ đại Arixtốt đã từng mong muốn. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh kêu gọi xóa bỏ nô lệ, áp bức, bần cùng, đối xử với con người như là con người chân chính.

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được nâng lên tầm cao hơn khi Người hội tụ được các tư tưởng tiến bộ toàn nhân loại: Văn minh châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, với các hệ tư tưởng nhân văn Phục hưng, Khai sáng, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Ý, Pháp… Đặc biệt, tư tưởng nhân văn đó trở thành lý luận khoa học, như một lý thuyết vững chắc khi người gặp tư tưởng cộng sản chủ nghĩa với các lãnh tụ thiên tài Mác, Ăngghen, Lênin.

    Tư tưởng cộng sản chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh nâng những yêu cầu có tính nhân bản lên tầm cao đó là tính nhân văn thực thụ. Tính nhân văn ở đây không còn bị giới hạn trong khuôn khổ giải quyết vấn đề vị trí của con người, tách con người khỏi kiếp ngựa trâu do chế độ nô lệ kìm kẹp, làm cho bị tha hóa, mà là giải quyết vấn đề xây dựng vị thế con người trong xã hội mới. Tư tưởng của Người lúc này không chỉ là xóa bỏ tình trạng tha hóa, đưa con người về đúng vị trí của mình mà là phát huy mọi tiềm năng của con người để xây dựng một cuộc sống mới. Thực hiện tư tưởng nhân văn tư bản chủ nghĩa – tự do, bình đẳng, bác ái, từng bước thực hiện lý tưởng nhân văn cộng sản chủ nghĩa, tiến tới một xã hội cộng đồng và hòa nhập, ở đó con người không chỉ có điều kiện để phát huy mọi tiềm lực, tài năng xây dựng xã hội mới, mà còn phát triển toàn diện, hài hòa chính bản thân con người với tư cách là mục đích tối cao của con người. Đây là tính nhân văn cao nhất của con người, của xã hội loài người trên phương diện lý thuyết. Tư tưởng này ở tầm cao hơn, sâu hơn còn bởi vì nó mở ra tính nhân văn vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản, về phương hướng thực hiện mục đích tối cao của con người: Con người là mục đích của sự phát triển lịch sử, của mọi hoạt động của chính mình.

    Tinh thần nhân văn đặc sắc của Hồ Chí Minh thể hiện ở khát vọng biến tư tưởng thành hiện thực trên cơ sở một sự hiểu biết chắc chắn các điều kiện hiện tại và quy luật xã hội đặc thù của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu.

    Để thực hiện lý tưởng nhân văn ” không có gì quý hơn độc lập, tự do“, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu bản chất thật sự của chủ nghĩa thực dân, phát hiện các mâu thuẫn trong lòng nó, nắm bắt thấu đáo nhu cầu phát triển khách quan của xã hội Việt Nam, xu thế vận động của thế giới, khảo cứu các cuộc cách mạng điển hình để vạch ra con đường đi cho cách mạng Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Xét về lý tưởng nhân văn, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người Việt Nam trong giải phóng dân tộc là cả cộng đồng dân tộc Việt Nam đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân để giành độc lập dân tộc. Con người trong giải phóng giai cấp là các giai cấp cần lao, trước hết là công – nông, đấu tranh để xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa. Còn con người trong giải phóng con người là mỗi con người, với tính cách là cá nhân, phải được giải phóng khỏi mọi sự áp bức, bất công, được tự do hạnh phúc, được phát triển về mọi mặt, được làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên, làm chủ bản thân mình; bằng cách đó tạo điều kiện cho con người thoát khỏi mọi sự tha hóa để có bản chất người tốt đẹp nhất.

    Tính chất thực tiễn cách mạng của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh quy tụ ở mục đích của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng là xây dựng một xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, bất công; một xã hội giàu mạnh, công bằng, văn minh; với những con người mới có phẩm chất cao đẹp, có trình độ phát triển toàn diện. Những con người được đào tạo, giác ngộ đó chính là động lực quyết định nhất của sự phát triển: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa5. Con người xã hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện, hoàn toàn đi đến không có chủ nghĩa cá nhân, nghĩa là loại bỏ được mọi sự tha hóa dai dẳng nhất, nguy hại nhất của chính bản thân con người.

    Một xã hội đáp ứng được các nhu cầu giải phóng con người, tạo cho con người phát triển toàn diện chỉ có thể là chế độ xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng nhân văn thực tiễn, đầy sinh khí hiện thực được Hồ Chí Minh biến thành mục tiêu cách mạng xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    Sau khi đất nước được giải phóng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ thì nhiệm vụ tiếp theo của dân tộc ta là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó là lôgíc tất yếu của lý thuyết phát triển theo hướng nhân văn. Về phương diện văn hóa, chủ nghĩa xã hội là kết quả đấu tranh không ngừng của con người theo hướng tiến về phía Chân – Thiện – Mỹ; nó là một trình độ phát triển cao của văn hóa, văn minh; văn hóa hiểu theo nghĩa là trình độ người, bản chất người của toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội. Trên cả hai bình diện đã nêu, không có chế độ xã hội nào tốt đẹp hơn chủ nghĩa xã hội!

    Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa xã hội hiện thực, cụ thể, nó phải được xây dựng trên mảnh đất của một quốc gia gắn liền với đặc điểm lịch sử, truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc. Chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh xây dựng ở Việt Nam là một xây dựng mới công bằng, nhân đạo, tốt đẹp, nhằm mục tiêu cụ thể là dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh, con người hạnh phúc.

    Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh lãnh đạo thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng, phát triển mọi tiềm năng dân tộc và tiềm năng xã hội, cụ thể là giải phóng và phát triển con người. Đó là một sự nghiệp của chính con người vì bản thân con người để đạt tới cả hai loại giá trị: Độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no. Theo Hồ Chí Minh, con người không chỉ được giải phóng về mặt xã hội mà điều chủ yếu và cuối cùng là giải phóng, phát triển toàn bộ bản chất, bản tính tốt đẹp của mình. Bản chất sâu xa lớn lao trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là tất cả cuối cùng đều vì sự phát triển con người Việt Nam. Xóa bỏ tha hóa, trả lại cho con người Việt Nam phẩm chất, phẩm giá làm người, giải phóng toàn bộ tiềm năng thể chất, trí tuệ, tài năng sáng tạo của con người Việt Nam.

    Trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, lòng nhân ái giữ vị trí hàng đầu, song nó không bó hẹp lòng thương người ở tình nghĩa đồng bào, những “người trong một nước phải thương nhau cùng”, mà mở rộng đến khắp năm châu bốn biển. Người luôn coi con người và cuộc sống ở bất cứ nơi đâu đều là giá trị cuối cùng và cao nhất phải đấu tranh giành được.

    Khác với chủ nghĩa nhân văn tư bản chủ nghĩa cực đoan chỉ đề cao chủ nghĩa cá nhân mà không hề đả động đến con người lao động, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đề xướng việc giải phóng hoàn toàn con người, mà trước hết là chủ yếu là giải phóng con người lao động bị áp bức bóc lột, thủ tiêu mọi gông xiềng, nô lệ, bất công, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc, cơm no, áo ấm cho các dân tộc và mỗi con người. Tính giai cấp công nhân gắn liền với tính dân tộc, tính quốc tế và tính thời đại là một đặc trưng nổi bật nhất của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn liền hạnh phúc của những con người bị áp bức, bị đọa đầy thuộc các dân tộc bị thống trị và lệ thuộc ở thuộc địa với độc lập dân tộc, với tự do, giai cấp được giải phóng.

    Lòng thương yêu con người gắn chặt với tình yêu Tổ quốc và dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Sau ngày trở thành Chủ tịch nước, mặc dầu bận trăm công nghìn việc, người cũng rất quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, đặc biệt đối với nhân dân miền Nam đang chịu nhiều đau khổ do đế quốc Mỹ và ngụy quyền gây nên. Người nói, “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Ngay cả trước lúc “đi xa”, Hồ Chí Minh còn nhớ “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.

    Khi đi thăm bất cứ nước nào, Người đều giành thời gian tiếp xúc với nhân dân lao động. Đối với các cháu thiếu niên, nhi đồng, Hồ Chí Minh không chỉ là “Bác Hồ” của nhân dân, của thiếu nhi Việt Nam, mà còn của cả nhân dân, thiếu nhi nhiều nước trên thế giới. Chính lòng nhân ái, tư tưởng nhân văn của Người là một yếu tố đã chinh phục được nhân dân thế giới.

    Ở chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, không có tình yêu thương con người chung chung, mà chỉ có tình thương yêu dành cho người bị áp bức, nghèo khổ ở bất cứ nước nào. Người đã phân biệt bạn thù rõ rệt, phân biệt nhân dân Pháp, Mỹ với những bọn thực dân đế quốc là người Pháp, Mỹ – những kẻ chủ mưu xâm lược, nuôi mộng thôn tính các dân tộc nhỏ yếu và đẩy nhân dân nước họ đến chỗ chết chóc. Vì vậy, Hồ Chí Minh bao giờ cũng độ lượng khoan dung với những người lầm đường lạc lối đi đánh thuê cho bọn thực dân đế quốc.

    Tình yêu thương dân tộc trong Hồ Chí Minh đã quyện chặt với tình yêu thương nhân loại bị bóc lột, đọa đầy, áp bức. Đó là lý do vì sao tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được ca tụng, được noi theo và dần dần trở thành tư tưởng của thời đại. Nó không chỉ có tác dụng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do mà còn phát huy ảnh hưởng trong công cuộc xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ sau khi các dân tộc đã thoát được ách đô hộ của thực dân.

    2. C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, H.1980, t.1, tr.569.

    3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.272.

    4. Trương Niệm Thức: Hồ Chí Minh truyện, Nxb.Bát Nguyệt, Thượng Hải, tháng 6-1949.

    5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.10, tr.310.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm, Nguồn Gốc Và Quá Trình Hình Thành
  • Bài 1: Đối Tượng Nghiên Cứu
  • Ý Nghĩa Của Việc Học Tập Môn Học Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đối Với Sinh Viên
  • Từ Tín Ngưỡng Tự Do Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đến Quyền Tự Do Tín Ngưỡng, Tôn Giáo Trong Hiến Pháp Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Tôn Giáo
  • Bài Giảng Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Ôn Tập Xã Hội Học Đại Cương Cau Hoi On Tap Ppt
  • Có Quá Nhiều Thứ Cần Học Trong Thời Gian Ngắn? Những Cách Được Chứng Minh Sau Đây Sẽ Giúp Bạn
  • Học Sinh Việt Có Quá Nhiều Thứ ‘học Để Quên’
  • Sử Dụng Mạng Xã Hội Sao Cho Có Ích?
  • Khái Niệm Và Phân Loại Tư Tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • KIỂM TRA BÀI CŨ

    Vai trò của Chủ nghĩa Mác – Lênin?

    Câu 1

    Ba quy luật cơ bản của

    phép biện chứng duy vật?

    Câu 2

    CHƯƠNG 2

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    A. MỤC TIÊU HỌC TẬP

    1. Về kiến thức: Trình bày được khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, 3 tiền đề tư tưởng lý luận và các phẩm chất, năng lực của Hồ Chí Minh.

    2. Về kỹ năng: Đánh giá vị trí, vai trò của các tiền đề tư tưởng lý luận và các phẩm chất, năng lực của Hồ Chí Minh.

    3. Về thái độ: Củng cố niềm tin yêu, kính trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phê phán những quan điểm xuyên tạc về Bác. Từ đó chủ động, tự giác và tích cực trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    I. Cơ sở, quá trình hình thành và phát triển

    tư tưởng Hồ Chí Minh

    “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

    B. NỘI DUNG

    “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”

    “Là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại”

    “Là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

    2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

    a. Hoàn cảnh lịch sử: (Nghiên cứu giáo trình)

    b. Những tiền đề tư tưởng lý luận

    Tinh hoa văn hóa

    nhân loại

    Các giá trị truyền thống

    tốt đẹp của dân tộc

    Chủ nghĩa Mác- Lênin

    Yêu nước, ý chí độc lập, tự cường.

    Đoàn kết, nhân ái, khoan dung, tinh thần cộng đồng.

    Cần cù, thông minh, sáng tạo.

    THUYẾT TRÌNH

    Chủ đề: Truyền thống yêu nước của

    Dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ

    Chủ đề: Truyền thống yêu nước của

    Dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ

    CHÀO MỪNG CÔ VÀ CÁC BẠN

    ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM 2

    Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951 tại Chiêm Hóa- Tuyên Quang) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

    Vì lòng yêu nước, căm thù giặc, ông đã:

    “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”.

    “TRẦN HƯNG ĐẠO”

    Đến những thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống Pháp, để rồi sao vàng, cờ đỏ tung bay trên toàn quốc với cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nếu không có tinh thần yêu nước, lòng tự hào, làm sao dân tộc nhỏ yếu như chúng ta có thể làm nên những chiến thắng vang dội.

    HƯỚNG VỀ BIỂN ĐÔNG

    BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

    THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC

    CẢM ơn cô và các bạn lắng nghe!

    Chủ đề: Truyền thống yêu nước của

    Dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ

    BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM 2

    Văn hóa phương Đông

    Văn hóa phương Tây

    Chủ nghĩa “Tam dân” của Tôn Trung Sơn

    (1866 -1925)

    VĂN HÓA

    PHƯƠNG ĐÔNG

    Tư tưởng Phật giáo

    Tư tưởng Nho giáo

    CHỦ NGHĨA TAM DÂN

    Dân quyền

    tự do

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Tư tưởng về tự do

    bình đẳng, bác ái

    Quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

    VĂN HÓA

    PHƯƠNG TÂY

    Mở đầu bản tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ đã dẫn chứng 2 bản tuyên ngôn của nước nào?

    1.Chủ nghĩa Mác- Lênin

    là gì?

    2.Con đường HCM đến với

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    3.Nội dung HCM tiếp thu

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    4.Cách thức HCM tiếp thu

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    5.Mục đích HCM tiếp thu

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    Chủ nghĩa Mác-Lênin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, nó cung cấp cho con người một công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới; nó chỉ ra quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc

    Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin

    Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp

    Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

    Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc

    “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

    Hình của Đảng lồng trong hình của Nước

    Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười.

    1.Chủ nghĩa Mác- Lênin

    là gì?

    2.Con đường HCM đến với

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    3.Nội dung HCM tiếp thu

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    4.Cách thức HCM tiếp thu

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    5.Mục đích HCM tiếp thu

    Chủ nghĩa Mác- Lênin?

    Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848)

    Tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc” của Lênin

    Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của Lênin

    Một số tác phẩm của các nhà kinh điển

    của chủ nghĩa Mác – Lênin

    Luận cương của Lênin

    HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA

    YÊU NƯỚC HCM

    TRI THỨC NỀN

    NGUỒN GỐC CHỦ YẾU

    TƯ TƯỞNG

    HỒ CHÍ MNH

    Tóm lại:

    c. Các phẩm chất, năng lực của Hồ Chí Minh

    Trước hết: đó là tư duy độc lập,

    tự chủ, sáng tạo cộng với sự nhận

    xét, phê phán tinh tường, sáng

    suốt trong việc nghiên cứu,

    tìm hiểu hiện thực cuộc sống.

    c. Các phẩm chất, năng lực của Hồ Chí Minh

    Thứ hai: đó là sự khổ công học tập

    nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong

    phú của nhân loại, học tập kinh nghiệm

    đấu tranh của phong trào giải phóng

    dân tộc, phong trào công nhân

    quốc tế.

    Thứ ba: là ý chí của một nhà yêu

    nước một chiến sỹ cộng sản

    nhiệt thành, một trái tim yêu nước,

    thương dân, thương yêu những

    người cùng khổ,

    sẵn sàng chịu đựng hi sinh.

    c. Các phẩm chất, năng lực của Hồ Chí Minh

    Thứ tư: là một tấm gương đạo đức

    cao đẹp, trong sáng, cần, kiệm,

    liêm, chính, chí công vô tư.

    c. Các phẩm chất, năng lực của Hồ Chí Minh

    Các tấm gương điển hình trong học tập và làm theo lời Bác

    Hoàn cảnh

    lịch sử

    Những tiền đề

    tư tưởng

    lý luận

    Các phẩmchất,

    năng lực của Hồ Chí Minh

    TỔNG KẾT BÀI

    ĐIỀU KIỆN

    CHỦ QUAN

    ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN

    Học để làm

    Học để biết

    HỌC ĐỂ LÀM GÌ?

    Học để cùng chung sống

    Học để làm người

    LIÊN HỆ BẢN THÂN

    Học để làm việc

    làm người

    làm cán bộ

    Học để phụng sự đoàn thể

    Giai cấp và nhân dân

    Tổ quốc và nhân loại

    Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

    ( Hồ Chí Minh tháng 9/1949)

    1. Lời bài hát sau đây đã đề cập đến tiền đề tư tưởng lý luận nào trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?

    49

    ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC

    A. Giá trị truyền thống của dân tộc

    B. Tinh hoa

    văn hóa nhân loại

    C. Chủ nghĩa

    Mác- Lênin

    2.Tiền đề tư tưởng lý luận nào là nguồn gốc chủ yếu trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?

    ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC

    A. Giá trị truyền thống của dân tộc

    B. Tinh hoa

    văn hóa nhân loại

    C. Chủ nghĩa

    Mác- Lênin

    Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi

    trong sự nghiệp của chúng ta!

    “Tại sao trong số bao nhiêu người Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước thì Bác Hồ là người duy nhất tìm thấy con đường cứu nước”.

    GIAO NHIỆM VỤ

    RÚT KINH NGHIỆM

    SAU TIẾT GIẢNG

    Trân trọng

    cảm ơn

    quý thầy cô!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội: Suy Nghĩ Về Vấn Đề Tự Học
  • Phân Tích Tương Quan Trong Nghiên Cứu
  • Sống Tương Quan Trong Cộng Đoàn
  • Hệ Số Tương Quan (Correlation Coefficient) Là Gì? Ứng Dụng Của Hệ Số Tương Quan Trong Tài Chính
  • Bài 3: Nhiệm Vụ, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Khái Niệm Tư Tưởng Là Gì? Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Gì? Ý Nghĩa Tư Tưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Là Gốc
  • Chuyên Đề 4 Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Sức Mạnh Của Nhân Dân, Của Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Giáo Trình Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Tư tưởng là ý thức của một cá nhân, một cộng đồng. Nó chứa một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học. Các khái niệm mang tính nhất quán, những quan điểm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    Quan điểm về tư tưởng xuất phát từ những ý tưởng của những nhà tư tưởng có tầm nhìn cao. Không phải ai có ý tưởng đều được coi là nhà tư tưởng, bởi lẽ theo nhà bác học Lênin cho rằng người đó phải biết cách giải quyết được những vấn đề chính trị, sách lược, tổ chức.

    Tư tưởng không phải những cái có sẵn hay đã được đóng khung từ trước. Nó có thể được sinh ra và phát sinh trong quá trình trao đổi, suy nghĩ của con người. Tư tưởng được mọi người tiếp thu có chọn lọc dưới dạng lĩnh hội lẫn phê phán.

    Theo đó tư tưởng là gì? Đó là cái gì đó không giới hạn, nó luôn được hình thành trong quá trình tiếp thu của con người .Tư tưởng có thể có dạng tiêu cực và tích cực.

    Tư tưởng chính trị của dân chủ

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng, chính trị… Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Người đã vận dụng và phát triển thêm những ý tưởng của các nhà bác học. Phát huy những cái tiên tiến và sử đổi những cái chưa tốt.

    Các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh đã ghi chép, nhận định những vấn đề cũng như hoạt động của người. Các nội dung này được hình thành và phát triển từ các thời kỳ hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào cách mạng Việt Nam và quốc tế. Các tư tưởng của người được ứng dụng vào trong các cuộc đấu tranh cũng như thực tế lúc bấy giờ.

    Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh nhận định Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam.Tiếp thu các tư tưởng những người đi trước và các tư tưởng tiên tiến. Các tư tưởng được áp dụng như tư tưởng cộng sản Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng pháp, tư tưởng văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Những tư tưởng của người được đánh giá rất cao. Là những tư tưởng có tính triết lý cao, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin. Dân tộc Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh luôn coi tư tưởng của Người là khối tài sản lớn, là kim chỉ nam cho mọi hành động.

    Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng. Là những tư tưởng để xây dựng một đất nước yên bình. Nó nằm trong các tư tưởng của những người đi trước. Tư tưởng chính trị nó là sách lược để đất nước ta chống lại quân giặc. Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân.

    Dân tộc Việt Nam sử dụng chủ nghĩa Mác – Lênin là vũ khí lý luận, là nền tảng tư tưởng chính trị. Các lý luận là kim chỉ nam, chỉ ra phương hướng cho chúng ta trong thực tế. Mỗi cán bộ đều phải học tập để áp dụng vào thực tế.

    Tử tưởng chính trị cũng chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Học tập và làm theo tư tưởng này giúp xây dựng Đảng về chính trị vững mạnh.

    Tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt là những tư tưởng tiên tiến, tiến bộ của những người đi trước đã để lại cho nhân dân khối tài sản quý báu. Đặc biệt là tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của dân tộc ta.

    • Tư tưởng là tất cả những suy nghĩ, định hướng, phân tích, đánh giá hay kết luận… thành ý trong đầu của chúng ta. Ví dụ: khi nhìn thấy con gà, chúng ta thốt lên “Con gà trống đẹp quá!” cũng là chúng ta đang tư tưởng và tư tưởng được bộc lộ ra ngoài bằng lời nói.

    Sự khác nhau giữa tư tưởng và lý luận là gì?

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Quá Trình Hình Thành, Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Ôn Tập Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh Khái Niệm Và Nguồn Gốc
  • Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100