Nêu Khái Niệm ,đặc Điểm ,phân Loại ,thể Loại , Của Sử Thi ,truyền Thuyết , Truyện Cổ Tích. Câu Hỏi 1130066

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Thế Giới:sử Thi Và Thần Thoại Hilap
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Tâm Lí Nhân Vật Trong Sử Thi Ôđixê Của Homere ( Hi Lạp
  • Soạn Văn Bài: Chiến Thắng Mtao
  • Dàn Ý Tính Sử Thi Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu
  • : Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Thơ Tố Hữu Được Thể
  • Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

    – Sử thi là khái niệm được tiếp nhận từ các nền học thuật chịu ảnh hưởng quan niệm văn học và mỹ học thuộc truyền thống châu Âu.

    – Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hay nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

    Cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật. Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, và thường là có phép thuật, hay bùa mê.

    – Truyện dân gian: truyền thuyết, cổ tích

    – Thơ dân gian: Sử thi, truyện thơ, ca dao.

    – Sử thi anh hùng (Đăm Săn) kể về các nhân vật anh hùng thời hình thành các dân tộc với thái độ tôn vinh, có tính chất thần linh, kì ảo.

    – Cổ tích ( Tấm Cám) kể về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, nhằm bênh vực cái thiện, có các yếu tố kì ảo tham gia hỗ trợ.

    – Sử thi (anh hùng):

    + Mục đích sáng tác: Ca ngợi các anh hùng thời xưa.

    + Hình thức lưu truyền: Kể, diễn trò.

    + Nội dung phản ánh: Cuộc chiến đấu để mở rộng bộ lạc.

    + Kiểu nhân vật: Nhân vật anh hùng.

    + Đặc điểm nghệ thuật: Nhân vật người anh hùng vô song, có quan hệ với thần linh.

    – Truyền thuyết:

    + Mục đích sáng tác: Kể lại chuyện của các nhân vật lịch sử.

    + Hình thức lưu truyền: Kể.

    + Nội dung phản ánh: Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia, dân tộc.

    + Kiểu nhân vật: Các vị vua chúa hoặc danh nhân.

    + Đặc điểm nghệ thuật: Các vị vua chúa có gốc hiện thực, có sự giúp đỡ của thần linh.

    + Mục đích sáng tác: Giáo huấn và thưởng thức nghệ thuật.

    + Hình thức lưu truyền: Kể.

    + Nội dung phản ánh: Cuộc đấu tranh giữa thiện và các.

    + Kiểu nhân vật: Chính diện và phản diện.

    + Đặc điểm nghệ thuật: kết cấu theo kiểu nhân vật một chiều, có yếu tố kì ảo tham gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm :phương Pháp Dạy Đọc
  • Học Tốt Ngữ Văn Lớp 10: Chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Theo Chủ Đề : Sử Thi Vệt Nam Và Nước Ngoài
  • Soạn Bài Lớp 10: Chiến Thắng Mtao
  • Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Tác Phẩm Chiến Thắng Mtao Mxây
  • Định Nghĩa Niềm Tin Là Gì? Làm Sao Để Bạn Sở Hữu Niềm Ti N? Update 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Số Niềm Tin Người Tiêu Dùng (Consumer Confidence Index) Là Gì? Khảo Sát Về Chỉ Số Này
  • Giá Trị Niềm Tin Trong Doanh Nghiệp
  • Hãy Chọn Định Nghĩa Chính Xác Nhất Về Oxit Trong Số Các Phương Án Sau
  • Tìm Hiểu Về Oxit Và Tính Chất Hóa Học Của Oxit
  • Bài 1. Tính Chất Hóa Học Của Oxit. Khái Quát Về Sự Phân Loại Oxit
  • Ở thời đại hoà bình này, vũ khí lợi hại của con người chẳng phải là súng, đạn, hay bom nguyên tử nữa mà thay vào đó là những thứ nhẹ nhàng hơn nhưng vẫn không hề yếu thế – chính là niềm tin của con người.

    Định nghĩa niềm tin là gì?

    1. Những nét khái quát về niềm tin

    1.1. Định nghĩa niềm tin là gì?

    Không giống như các công thức toán học hay hoá học, niềm tin là một thứ cảm giác trừu tượng mà con người rất khó phân định. Nhiều sự việc hiện tượng hay thậm chí là con người được đánh giá tốt – xấu, đúng – sai đều tùy thuộc vào niềm tin ở nơi bạn đối với điều xảy ra đó.

    Khái quát về niềm tin

    Trong cuộc sống thường ngày, niềm tin xuất hiện là một điều cực kỳ cần thiết, bất kể mỗi chúng ta ai cũng tồn tại sẵn niềm tin chỉ có điều niềm tin ấy được biến hoá theo nhiều trường phái khác nhau, nhiều hướng khác nhau mà không có quy luật cố định nên sẽ gây ra khó khăn cho việc ra quyết định cuối cùng.

    1.2. Phân loại niềm tin

    Có hai loại niềm tin trái chiều nhau mà bạn cần hết sức chú ý đó là: Niềm tin tích cực và niềm tin tiêu cực. Tất cả chúng đều tồn tại trong con người bạn và trước mỗi sự việc hiện tượng bất kỳ bạn cần phải điều hướng niềm tin ấy sao cho đúng đắn nhất. Làm được điều đó thì ắt kết quả cuối cùng sẽ trở nên tốt đẹp muôn phần. Ngoài ra còn có thêm một loại niềm tin nữa cũng thường xuyên xuất hiện đó là niềm tin giới hạn. Vậy thì cụ thể từng loại thể hiện như thế nào mời bạn cùng theo dõi những nội dung sau đây:

    Niềm tin tích cực

    Niềm tin tích cực được đánh giá cao trong đời sống hay công việc hàng ngày mà bạn phải tiếp xúc. Đây là thứ cảm giác đặc biệt, giúp chúng ta có thêm động lực để tiếp tục phấn đấu và làm việc, hoàn thành các mục tiêu có sẵn mà mình vạch ra trước đó.

    Niềm tin tích cực sẽ giúp bạn điều hướng tốt nhất theo hướng đi đúng đắn nhất để bạn đạt được thành công dù phía trước là nhiều chông gai và thử thách.

    Hiện tại theo khảo sát thì bất cứ ai khi được hỏi đều mong muốn mình sở hữu được thứ niềm tin này và cũng mong muốn được người khác trao cho mình thứ niềm tin tích cực để mọi điều trong cuộc sống được diễn ra một cách tốt đẹp nhất.

    Niềm tin tiêu cực

    Phân loại niềm tin

    Trái ngược hoàn toàn với thứ niềm tin tích cực là loại niềm tin tiêu cực, nó là thứ cảm giác yếu thế hơn khi mọi chuyện xuất hiện trong đầu bạn đều được đánh giá thấp. Chẳng phải ai áp đặt mà là tự bạn áp đặt như vậy, điều này là nguyên nhân chính dẫn đến việc bạn trở nên kém cỏi hơn so với người khác, trong khi cả thế giới đang tự thân vận động để tiến đến một vị trí cao hơn thì bạn lại cho rằng điều đó là vớ vẩn và chẳng có thứ gì là đáng để bạn tin tưởng.

    Mọi thứ được diễn ra xung quanh bạn đều cảm thấy không có gì là điểm nhấn, không có gì đáng để bạn phải quan tâm và có thể trong con người bạn đang còn tồn tại sự tự ti to đùng nên việc đặt niềm tin cũng là rất khó.

    Niềm tin giới hạn

    Còn một thứ niềm tin khác mang tên là giới hạn, loại niềm tin này chỉ xuất hiện ở một cá nhân hay chủ thể nhất định và nó được sử dụng để chỉ những suy nghĩ hay định kiến khác nhau về sự vật, hiện tượng.

    2. Vai trò quan trọng của niềm tin bạn đã biết?

    Trong cuộc sống, không phải lúc nào bạn cũng cảm thấy hạnh phúc và vui vẻ bên những người thân yêu, bạn bè hay đồng nghiệp. Sẽ có rất nhiều thời điểm bạn cảm thấy suy sụp và tuyệt vọng vào một thứ gì đó xảy ra, sẽ có nhiều khi bạn sẽ cảm thấy chán nản và mất phương hướng trên con đường dang dở của mình. Vậy phải làm sao đây?

    Vai trò quan trọng của niềm tin bạn đã biết?

    2.1. Niềm tin là thứ tạo động lực

    Thành công chính là sự kết tinh của nhiều yếu tố khác nhau trong đó niềm tin chiếm một phần khá lớn trong suốt chặng đường dài đó. Để có được thành công như mong muốn bạn cần phải sở hữu khối niềm tin khá lớn. Trong đó đặt niềm tin vào bản thân, niềm tin vào năng lực và trình độ làm việc, có niềm tin vào khả năng chinh phục thử thách của mình,… Niềm tin được xuất hiện càng nhiều đồng nghĩa với việc bạn sẽ có cơ hội thành công lớn hơn.

    2.2. Niềm tin chính là cánh cửa mới

    Tại sao nói niềm tin tạo ra cho bạn cánh cửa mới? Nhiều người có năng lực nhưng lại không có niềm tin trong cuộc sống nên mọi thứ mà họ suy nghĩ đều đang ở một giới hạn an toàn nhất định.

    Niềm tin chính là cánh cửa mới

    Có niềm tin sẽ giúp họ đủ dũng khí để bước chân ra khỏi vùng an toàn trước đây và tiến tới một cánh cửa mới, nơi đó chứa đầy những cơ hội mới, thành công mới. Nếu bạn không có niềm tin thì mãi mãi thành công của bạn sẽ ở sau cánh cửa mà bạn chẳng thể nhìn thấy.

    2.3. Niềm tin là liều thuốc của ước mơ

    Một trong những tiền đề quan trọng để tạo nên ước mơ đó chính là niềm tin. Niềm tin có thể được coi là liều thuốc bổ hữu hiệu để bạn với tới ước mơ của mình.

    Chắc hẳn bạn đã từng được chứng kiến rất nhiều mảnh đời bất hạnh ở xung quanh, rất nhiều người có hoàn cảnh khó khăn thế nhưng họ vẫn đem về cho mình thành quả nổi trội. Đó là những tấm gương đáng để bạn học tập bởi trong những con người ấy họ phải có niềm tin mãnh liệt lắm mới có thể đem về cho mình những thành tích đáng tự hào như vậy.

    Niềm tin có sức mạnh thật phi thường, bất kể ai từ một người bình thường cũng có thể trở nên giàu có và thành công ở bất kỳ thời điểm nào. Bạn cần có thứ niềm tin ấy để vượt qua những khó khăn hay rào cản phía trước.

    2.4. Niềm tin là nguồn năng lượng tích cực

    Chẳng phải những người thừa cân, bệnh tật nhiều tự dưng họ lại có thể tham gia đều đặn vào các buổi đi bộ hay tập thể dục buổi sáng sớm mặc dù trời lạnh căm căm. Cái gì cũng đều có nguyên do của nó cả.

    Họ đặt ra mục tiêu là có một cơ thể khỏe hơn, chống lại bệnh tật hoặc giảm cân để cơ thể quyến rũ,… Quan trọng là họ có niềm tin rằng mình sẽ làm được và cứ thế kiên trì mỗi ngày.

    Như vậy có thể thấy niềm tin có thể truyền cho mỗi chúng ta nguồn năng lượng tích cực để làm việc hiệu quả, một khi thứ niềm tin ấy đủ lớn thì thành công ắt sẽ tìm đến bạn sớm hơn.

    Niềm tin là nguồn năng lượng tích cực

    Như vậy, niềm tin có vai trò vô cùng lớn đối với cuộc sống hàng ngày và cả công việc. Nó không những giúp chúng ta có được một suy nghĩ tích cực mà còn giúp bạn hoàn thiện bản thân, niềm tin càng lớn thì thành công càng mau tới.

    3. Để có niềm tin bạn sẽ làm gì?

    Nhiều bạn trẻ thời nay có vẻ năng động và mạnh mẽ đấy thế nhưng đó chỉ là trạng thái khi bình thường, đến lúc gặp chuyện buồn, sự vô vọng vào một điều gì đó thì họ lại không thể tự mình đứng lên và bước tiếp.

    3.1. Chấp nhận hoàn cảnh thực tiễn

    Một người có niềm tin họ sẽ chẳng bao giờ hoài niệm lại quá khứ và nói ra hai từ “nếu như…”

    Nếu muốn vực dậy niềm tin ở nơi mình, điều đầu tiên mà bạn không thể bỏ qua đó chính là chấp nhận sự thật ở hiện tại. Hãy coi nó như thể một điều tất yếu xảy ra và tìm cách vượt qua những ngày u ám tìm cho mình những ánh nắng chói cang để sưởi ấm. Nhiều khi biết chấp nhận, nhìn thẳng vào sự việc sẽ khiến bạn không bị u mê, không lầm tưởng và đủ tỉnh táo để tìm cách giải quyết.

    3.2. Hãy nghĩ về những thành công trong quá khứ

    Hãy nghĩ về những thành công trong quá khứ

    Nếu như bạn đã từng có quá khứ huy hoàng vậy thì chứng tỏ bạn là người đủ khả năng để đạt được nó một lần nữa. Nhìn lại quá khứ tốt đẹp nhất và coi đó là một tấm gương để có động lực cho những bước đi tiếp theo.

    Nhiều khi đó cũng là một niềm an ủi bản thân, là một thứ động lực hữu hiệu nhất giúp bạn vượt qua khó khăn trước mắt.

    3.3. Tin tưởng tuyệt đối vào bản thân

    Có một câu nói của Rumi mà tôi rất thích đó là “Mọi thứ trong vũ trụ đều có ở trong bạn. Hãy tự hỏi mình tất cả”

    3.4. Không ngoảnh đầu lại phía sau sẽ khiến bạn run sợ

    Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chỉ cần là bạn không tàn tật thì bạn luôn phải dịch chuyển về phía trước, đừng đứng yên một chỗ.

    Có thể trong cuộc sống mỗi chúng ta sẽ có vô số điều làm bạn thất vọng, mất niềm tin thế nhưng dù đó là chuyện gì thì bạn cũng không được phép dừng lại, ngã ở đâu đứng dậy ở đó, bạn không được phép dừng lại cho tới khi không còn chút sức lực nào trong người.

    Sự dừng lại chỉ khiến bạn trở thành người kém cỏi, người khác coi thường và bạn sẽ càng cảm thấy tự tin sau những lời nói cười nhạo đó.

    Không ngoảnh đầu lại phía sau sẽ khiến bạn run sợ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Thu Thập Số Liệu Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Những Quan Trọng Về Nghiên Cứu Khoa Học
  • Mẫu Câu Tiếng Anh Giao Tiếp Trong Dịp Lễ Giáng Sinh
  • Top 10 Đoạn Văn Viết Về Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Nêu Khái Niệm Của Rừng?mik Đang Lm Một Bản Báo Cáo Về Rừng .các Bn Trả Lời Một Số Câu Hỏi Sau Đây Để Giúp Mk Nhé .mik Cần Tư Liệu Để Lm. 1. Nêu Khái Niệm Của Rừng 2.phân Lọai Rừng Là J? 3.phân Loại Rừng Dựa Trên Tích Chất Sử Dụng Gồm Những Loại Rừng Nào (Nói Rõ Một Chút ) 4. Phân

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Và Bạn Đọc: Khai Thác Lâm Sản Trong Rừng Phòng Hộ
  • Kỹ Thuật Thiết Kế Trồng Rừng
  • Học Đòi Đoan Trang, Đbqh Lưu Bình Nhưỡng Lại Nhân Danh Tiếng Nói Của Dư Luận
  • Chuyện ‘người Rừng’ Còn Một Bí Mật Man Rợ Khác…?
  • Sững Sờ Hai Cha Con Trở Về Sau 40 Năm Sống Nguyên Thủy
  • Rừng là một hệ sinh thái bao gồm thực vật, động vật rừng, đất rừng

    và các yếu tố môi trường khác trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0.1 trở lên. Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lí, trong đó bao gồm tổng

    thể cây gỗ,cây cỏ, cây bụi,động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài .

    2.Phân lọai rừng là j?

    Phân loại rừng là một công tác rất quan trọng trong quản lý tài nguyên

    rừng của mỗi quốc gia, và tại Việt Nam công tác phân loại rừng gắn liền

    với lịch sử phát triển xử dụng rừng từ xa xưa.

    3.Phân loại rừng dựa trên tích chất sử dụng gồm những loại rừng nào?

    a. Rừng phòng hộ.

    Rừng được sử dụng cho mục đích bảo vệ nguồn nước, bảo vệ nguồn

    nước chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu và bảo vệ môi

    trường.

    Nó được phân loại theo vị trí như sau:

    + Rừng phòng hộ đầu nguồn

    + Rừng phòng hộ chống cát bay

    + Rừng phòng hộ chắn sóng

    b. Rừng đặc dụng.

    Được sử dụng cho mục đích đặc biệt như bảo tồn thiên nhiên, mẫu

    chuẩn hệ sinh thái, bảo tồn nguồn gen động thực vật, phục vụ nghiên cứu

    khoa học…

    Bao gồm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu văn

    hóa lịch sử và môi trường

    c. Rừng sản xuất.

    Bao gồm các loại rừng dùng để sản xuất , kinh dọanh gỗ, đặc sản

    rừng, động vật rừng kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái

    Rừng ngập mặn, các rặng san hô và cỏ biển còn nguyên vẹn có thể

    làm giảm nhẹ hoặc tiêu tan các đợt sóng thần cao khoảng 15m.

    4. Phân loại rừng theo trữ lượng, tác động của con người, nguồn gốc ,theo tuổi (nói rõ từng loại nha)

    . Phân loại rừng theo trữ lượng.

    + Rừng giàu:Trữ lượng rừng trên 150 m³/ha.

    + Rừng trung bình: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (100-150) m³/ha

    + Rừng nghèo: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (80-100) m³/ha

    + Rừng kiệt: Trữ lượng rừng thấp hơn 50 m³/ha

    Phân loại rừng dựa vào tác động của con người

    + Rừng tự nhiên : là do thiên nhiên tạo ra

    + Rừng nhân tạo :là rừng được hình thành nên bởi con người

    Phân loại dựa vào nguồn gốc

    + Rừng chồi

    + Rừng hạt

    Phân loại rừng theo tuổi

    + Rừng non

    + Rừng sào

    + Rừng trung niên

    + Rừng già

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Hệ Sinh Thái
  • Đề Tài Tìm Hiểu Về Hệ Sinh Thái Rừng Ngập Mặn
  • Tìm Hiểu Về Hệ Sinh Thái Rừng Ngập Mặn
  • Khái Niệm Về Thịt Sạch Và Mối Quan Tâm Của Người Tiêu Dùng Về An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
  • Hành Lang Kinh Tế Đông Tây
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại, Phân Tích Các Chủ Thể Luật Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Các Loại Quan Hệ Pháp Luật
  • Quan Hệ Pháp Luật Đất Đai?
  • Phân Tích Khái Niệm Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Tố Tụng Hình Sự Là Gì?
  • Xem Ngay Nếu Bạn Cần Biết Quan Hệ Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Là Gì ???
  • Chủ thể luật quốc tế là gì? Khái niệm chủ thể luật quốc tế? Chủ thể luật quốc tế có những đặc điểm gì? Phân loại và phân tích cụ thể các loại chủ thể của luật quốc tế?

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ

    Khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế

    Dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý, để xác định được đối tượng của Luật Quốc tế cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau: Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh; Có ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế; Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế; Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

    Cùng với quá trình phát triển khách quan của xã hội thì sự tồn tại và phát triển của Luật Quốc tế cũng đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, do đó trong từng giai đoạn lịch sử mà phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế có sự thay đổi dẫn tới chủ thể của Luật Quốc tế cũng có sự khác nhau nhất định. Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia chủ nô, các liên đoàn chính trị tôn giáo của các quốc gia thành thị. Trong thời kỳ phong kiến, chủ thể Luật Quốc tế là các quốc gia phong kiến, các nhà thờ thiên chúa giáo. Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia có chủ quyền và các tổ chức quốc tế ….

    Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể định nghĩa tổng quát khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế như sau: Chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện.

    Xét về vị trí, tính chất, vai trò chức năng và bản chất pháp lý… thì các chủ thể của Luật Quốc tế có sự khác nhau, tuy nhiên chúng bao giờ cũng có chung các đặc điểm cơ bản và đặc trưng sau:

    Là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia quan hệ pháp Luật Quốc tế.

    Độc lập về ý chí, không chịu sự tác động của các chủ thể khác.

    Được hưởng quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.

    Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể đó gây ra.

    Không có một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế.

    Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao gồm:

    Các quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế.

    Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật Quốc tế.

    Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đây là chủ thể phái sinh của Luật Quốc tế, được hình thành bởi sự hợp tác của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực hướng đến lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cộng đồng.

    Các chủ thể đặc biệt khác.

    Tuy nhiên trong trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, vai trò của các cá nhân, tập đoàn, công ty đa quốc gia, các hiệp hội phi chính phủ trong quan hệ quốc tế ngày càng tăng cho nên việc thừa nhận các chủ thể có sự tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế ở một số lĩnh vực nhất định, do đó có quan điểm cho rằng đây cũng là chủ thể của Luật Quốc tế.

    THỰC TIỄN CÁ NHÂN THAM GIA VÀO QUAN HỆ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

    Cá nhân là chủ thể mang tính tự nhiên, là một thực thể sinh học chiếm số lượng lớn nhất trong xã hội. Cá nhân là chủ thể thường xuyên và quan trọng nhất của nhiều ngành luật như: pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật đất đai… bởi đây là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia chưa công nhận cá nhân là chủ thể của Luật Quốc tế.

    Đặc điểm chủ thể của cá nhân

    Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có quyền và nghĩa vụ. Đây là những quyền do nhà nước quy định và không ai được tự hạn chế nghĩa vụ của mình cũng như quyền và nghĩa vụ của người khác. Mọi cá nhân sinh ra không phân biệt giới tính, thành phần dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo… đều có năng lực pháp luật như nhau và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Điều này được công nhận tại Điều 6 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 (Ở bất kì nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật).

    Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí cũng như độc lập chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Khả năng này được xác định dựa theo độ tuổi và khả năng nhận thức của con người. Năng lực hành vi của cá nhân ở các quốc gia khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau là khác nhau.

    Quyền năng chủ thể luật quốc tế của cá nhân

    Tính chủ thể pháp lý của cá nhân được thể hiện ở chỗ cá nhân cũng gánh vác trách nhiệm và nghĩa vụ cũng như hưởng các quyền lợi mà Luật Quốc tế quy định, bởi suy cho cùng hành vi của từng cá nhân trong một quốc gia là cách thức quốc gia đó thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế. Ngoài ra, để pháp điển hóa các quy định của pháp luật quốc tế, các quốc gia phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tạo khung pháp lí cho việc áp dụng các quy định đó trong đời sống xã hội. Như vậy, việc này đã gián tiếp công nhận các cá nhân của quốc gia đó, chính là những người trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế của quốc gia mình.

    Mặt khác, trong rất nhiều văn bản pháp luật quốc tế, cá nhân được đem ra xem xét như là một chủ thể của quan hệ pháp luật này và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.Theo Điều 1 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế thì Tòa án có quyền xét xử đối với những cá nhân về những hình sự quốc tế nguy hiểm nhất được quy định trong Quy chế. Cũng theo Điều 5 Quy chế này thì Tòa án sẽ xét xử đối với hầu hết những tội phạm nguy hiểm nhất do cá nhân thực hiện, đó là tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội gây chiến tranh xâm lược. Điều lệ của Tòa án binh 1945 ở Nurnberge và Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948 cũng thừa nhận như trên.

    Chúng ta cùng thử đánh giá khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế của cá nhân với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế thông qua một ví dụ điển hình sau:

    Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam

    Tranh chấp về chủ quyền biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày càng gay gắt. Như chúng ta đã biết, Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 và mới đây, bằng hành động ban hành cấm đánh bắt cá từ ngày 16/5/2008 đến 1/8/2008 thì Trung Quốc như càng muốn khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo có đầy lợi thế về mặt kinh tế lẫn mặt chính trị này.

    Chính vì vậy, 21/6/2009 lực lượng tuần tra Trung Quốc đã bắt ba tàu cá gồm 37 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi Việt Nam, khi họ đang hành nghề đánh cá bình thường tại khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Sau đó, 1/8/2009, 13 ngư dân Việt Nam khác vào tránh bão tại Hoàng Sa cũng bị Trung Quốc bắt giữ.

    Ngày 21/3/2010, một thuyền cá của ông Tiêu Viết Là bị Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh bắt ở gần quần đảo Hoàng Sa. Phía Trung Quốc đã buộc ông Là gọi điện về nhà, đòi gửi tiền chuộc thì mới trả tự do cho ông và các thuyền viên. Họ cũng giải thích ông bị bắt và phải nộp phạt vì “xâm phạm lãnh hải” Trung Quốc.

    Gia đình ông Tiêu Viết Là thì cho hay đây là lần thứ hai tàu của ông bị bắt khi hoạt động tại khu vực gần Hoàng Sa. Được biết số tiền chuộc Trung Quốc đòi hỏi là khoảng 180 triệu đồng, được cho là “quá lớn” so với hoàn cảnh tài chính eo hẹp của gia đình ông. Chính quyền sở tại và cơ quan biên phòng đã có báo cáo, kiến nghị lên Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu can thiệp.

    Quan điểm chính thức của phía Việt Nam là không nộp tiền phạt, vì điều đ́ó đồng nghĩa với thừa nhận chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông.

    CÁ NHÂN KHÔNG PHẢI CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ

    Cá nhân không có ý chí độc lập khi tham gia quan hệ pháp luật quốc tế

    Rõ ràng, cá nhân có thể có nhiều quyền mà luật quốc tế ấn định, như quyền xuất ngoại, du nhập vào nước khác, quyền thụ đắc tài sản, quyền hoạt động thương mại,… nhưng cá nhân luôn phải nhờ quốc gia mình can thiệp với nước ngoài, để nước ngoài công nhận những quyền đó của cá nhân. Như thế, rõ ràng là khi tham gia vào tất cả các quan hệ của đời sống xã hội thì cá nhân vẫn chịu một sự chi phối rất lớn từ ý chí, từ quyền lực chính trị của chủ thể đặc biệt – đó là Nhà nước.

    Ví dụ: Điều 6 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948 quy định: “Những kẻ phạm tội diệt chủng sẽ bị 1 Tòa án có thẩm quyền của quốc gia nơi hành vi phạm tội được thực hiện xét xử hoặc một tòa án hình sự quốc tế có thể phán quyết trên cơ sở các quốc gia thanh viên sẽ chấp nhận thẩm quyền của Tòa án quốc tế đó”

    Với quy định này có thể thấy, một cá nhân phạm tội diệt chủng, tùy thuộc vào ý chí của các quốc gia, có thể bị xét xử bởi 1 tòa án của quốc gia hoặc bị xét xử bởi 1 tòa án quốc tế do các quốc gia thỏa thuận thành lập. Cá nhân không có quyền lựa chọn, tức là không có ý chí trong một quan hệ pháp luật quốc tế mà mình tham gia.

    Như vậy, cá nhân không có ý chí độc lập khi tham gia các quan hệ quốc tế, và như vậy cá nhân không thể là một chủ thể của luật quốc tế.

    Cá nhân không có quyền và nghĩa vụ riêng biệt so với các chù thể khác của Luật Quốc tế

    Không thể phủ nhận rằng, trên thực tế, có một số trường hợp luật quốc tế trao các quyền và nghĩa vụ trực tiếp cho cá nhân. Đặc biệt là sự ra đời của Bản tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/2948 đã công nhận mọi cá nhân, bất luận là người dân quốc gia độc lập hay bị trị đều được hưởng các quyền và tự do trong bản tuyên ngôn.

    Các quyền và tự do căn bản trong bản tuyên ngôn có thể được chia thành 4 loại: (1) Các quyền về tự do cá nhân (Từ điều 3 đến điều 13) như các quyền sống tự do và an toàn, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được được bảo vệ chống lại mọi sự bắt bớ giam giữ trái phép, mọi sự tran tấn, trừng phạt dã man, quyền tự do đi lại, xuất ngoại, hồi hương; (2) Các quyền về tự do trong mối liên lạc với người khác (Điều 14 đến Điều 16) như quyền tị nạn, quyền có quốc tịch, quyền lập gia đình; (3) Các quyền tự do tinh thần và tự do chính trị (từ Điều 17 đến Điều 21) như quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, tự do bầu cử, ứng cử, quyền tham gia các công việc công; (4) Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (Điều 22 đến Điều 27) như quyền có việc làm, quyền tự do chọn việc làm, tự do lập nghiệp đoàn, được hưởng các chế độ an ninh xã hội, tự do học tập, hưởng một nền giáo dục căn bản và miễn phí, tự do tư tưởng về khoa học,…

    Một số nhà luật học đã dựa vào những căn cứ như trên đã đề cập, họ chứng minh rằng cá nhân vẫn được hưởng quyền và các nghĩa vụ như các chủ thể khác của luật quốc tế. Tuy nhiên, theo quan điểm của em thì dù các Điều ước Quốc tế trên là hướng tới con người, hướng tới cá nhân thì những quyền, nghĩa vụ cá nhân tồn tại trong Điều ước quốc tế đó chỉ với ý nghĩa là khách thể của các quan hệ pháp luật điều ước quốc tế về quyền con người, hình thành từ sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau hay với tổ chức quốc tế. Cá nhân trong các mối quan hệ như vậy chỉ có thể là đối tượng của những thỏa thuận hay cam kết quốc tế mà không thể là chủ thể của những mối quan hệ đó được.

    Như vậy, cần phải thấy rằng việc cá nhân tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế về quyền con người là do sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế. Cá nhân chỉ là chủ thể của quyền con người chứ không phải chủ thể của luật quốc tế về quyền con người.

    Như vậy, có thể khẳng định cá nhân không các quyền, nghĩa vụ ngang bằng, riêng biệt với các chủ thể khác của luật quốc tế mà phải chịu sự tác động của quốc gia.

    Cá nhân không thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý một cách độc lập

    Có thể thấy rằng không một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế, trên nó không tồn tại quyền lực chính trị nào chi phối hoạt động của nó và khi tham gia vào các quan hệ quốc tế thì các chủ thể có vị trí độc lập, bình đẳng với nhau. Khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi của mình gây ra có quan hệ mật thiết với khả năng có sự tự do ý chí tham gia các quan hệ quốc tế.

    Do đó, một điều tất yếu từ việc cá nhân không có các quyền, nghĩa vụ riêng biệt theo quy định của luật quốc tế là cá nhân sẽ không có sự tự do ý chí tham gia các qan hệ quốc tế, đồng thời cá nhân cũng không có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi của mình gây ra 1 cách độc lập. Một khi không có vị trí độc lập bình đẳng với các chủ thể khác, cá nhân sẽ không thể độc lập gánh chịu trách nhiệm pháp lý do những hành vi của mình gây ra.

    Thực tiễn ta thấy rằng, trong mối tương quan về địa vị pháp lý trong Luật quốc gia thì nhà nước luôn có quyền tài phán đối với công dân nước mình, phần lớn các quan hệ phát sinh giữa cá nhân với nhà nước đều được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy, mệnh lệnh phục tùng. Mặt khác, chúng vẫn có thể bị tài phán bởi các cơ quan quốc tế khác (ví dụ như Tòa án binh Quốc tế) theo Luật Quốc tế.

    Vì vậy, khi tham gia vào các hoạt động, cá nhân luôn bị chi phối ảnh hưởng bởi quyền lực chính trị và khi tham gia vào quan hệ với các chủ thể khác của Luật Quốc tế thì chủ thể này khó có thể có được vị trí độc lập và bình đẳng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Hiến Pháp Và Bản Chất Của Nó
  • Tổng Hợp Giải Đáp Câu Hỏi Môn Hiến Pháp
  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Hiến Pháp
  • Quan Hệ Pháp Luật Luật Hiến Pháp
  • Pháp Luật Phá Sản (Bankruptcy Law) Là Gì? Vai Trò Của Pháp Luật Phá Sản
  • Nêu Khái Niệm Về Các Loại Truyện Truyền Thuyết, Cổ Tích, Ngụ Ngôn…

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Ngữ Là Gì ? Tất Cả Về Thành Ngữ
  • Thành Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ
  • An Ninh Chính Trị Là Gì ? Khái Niệm An Ninh Chính Trị
  • An Ninh Kinh Tế Là Gì? Khái Niệm An Ninh Kinh Tế
  • Khái Niệm Adn Là Gì? Vai Trò Của Adn Trong Đời Sống?
  • Đây là đề mik tự chế thui nhưng ai có câu trả lời hay nhất sẽ đc tick nhìu nhất lun

    Câu 1:Nêu khái niệm về các loại truyện:truyền thuyết,cổ tích,ngụ ngôn và truyện cười.

    Câu 2:Phát biểu cảm nghĩ của em về hình tượng Thánh Gióng.

    Câu 3:Nêu khái niệm về danh từ,cụm danh từ và chỉ từ.

    Câu 4:Kể về kỉ niệm của em vói 1 thầy cô giáo

    Câu 5:Phát biểu cảm nghĩ về truyện Con Rồng Cháu Tiên.

    • Câu 1:

      – Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

      – Truyện cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật Đây loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ …

      – Truyện ngụ ngôn là truyện kể dân gian bằng văn xuôi hay bằng thơ, mượn chuyện về loài vật, đồ vật, cây cỏ… làm ẩn dụ, hoặc chính chuyện con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện đời, chuyện người, nhằm nêu lên bài học luân lí.

      Truyện cười (còn gọi là truyện tiếu lâm) một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước…

      Truyền thuyết Thánh Gióng xuất hiện từ thời Hùng vương dựng nước và được nhân dân ta lưu truyền từ đời này sang đời khác cho đến tận ngày nay. Đây là một truyền thuyết hay vào bậc nhất trong những truyền thuyết nói về truyền thống giữ nước của dân tộc ta.

      Hình tượng Thánh Gióng với nhiều yếu tố thần kì là biểu tượng rực rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước, đồng thời thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân ta về người anh hùng cứu nước chống ngoại xâm.

      Người xưa cho rằng đã là anh hùng thì phải phi thường, phải có khả năng như thần thánh, do trời sai xuống giúp đời. Do đó mà cậu bé làng Gióng là một nhân vật kì lạ. Bà mẹ Gióng có thai cũng khác thường: Một hôm, bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai… Bà có thai không phải chín tháng mười ngày mà tròn mười hai tháng. Đây là sự tưởng tượng của dân gian về nhân vật phi thường của mình.

      Điều kì lạ nữa là Gióng lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi cứ đặt đâu thì nằm đấy. Những chi tiết kỳ ảo đó càng thu hút người nghe. Gióng không nói nhưng khi nghe sứ giả rao loa thì bỗng dưng cất tiếng nói. Tiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói tự nguyện đánh giặc. Lời nói yêu nước, cứu nước ấy cũng không phải là lời nói bình thường ở tuổi lên ba.

      Chi tiết thần kì ấy ca ngợi ý thức đánh giặc, cứu nước của nhân dân ta được gửi gắm trong hình tượng Gióng. Ý thức trách nhiệm đối với đất nước được đặt lên hàng đầu với người anh hùng và tạo cho người anh hùng những khả năng hành động phi thường.

      Còn năm ngửa trên chõng tre mà Gióng đòi có ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đánh tan quân giặc. Ba tuổi, Gióng vẫn chưa biết đi nhưng tới lúc giặc đến thì vươn vai hoá thành tráng sĩ, nhảy lên mình ngựa, phi thẳng ra chiến trường. Khi cần có sức lực, tầm vóc để cứu nước thì Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa may xong đã căng đứt chỉ.

      Dân gian kể rằng: Gióng ăn một bữa bảy nong cơm, ba nong cà, uống một hớp nước cạn đà khúc sông. Dấy là cách nói cường điệu của dân gian để tô đậm tính chất phi thường cho nhân vật mà mình yêu mến. Mẹ Gióng nuôi không nổi, bà con trong làng nô nức gom góp gạo thóc nuôi cậu bé, vì ai cũng mong cậu lớn nhanh để giết giặc cứu nước. Gióng đã lớn lên bằng thức ăn, thức mặc, bằng sự yêu thương, đùm bọc của dân làng. Gióng đâu chỉ là con của một bà mẹ mà là con của mọi người, của nhân dân. Một người cứu nước sao đặng? Phải toàn dân góp sức chuẩn bị cho sự nghiệp đánh giặc. Như vậy mới đủ sức mạnh để chiến thắng quân thù. Gióng lớn lên từ trong lòng nhân dân và do nhân dân nuôi dưỡng. Sức mạnh dũng sĩ của Gióng được nuôi bằng cơm gạo quê hương và tình thương vô hạn của bà con.

      Vì sao Gióng lại lớn nhanh như vậy? Gióng lớn lên từ khi nào và lớn lên để làm gì? Trước khi có tiếng gọi cứu nước, Gióng chi nằm ngửa, không nói, không cười. Gióng mở miệng nói lời đầu tiên là để đáp lại lời kêu gọi cứu nước. Dường như việc cứu nước có sức mạnh làm cho Gióng vụt lớn lên. Việc cứu nước vô cùng to lớn và cấp bách, Gióng không lớn lên nhanh thì làm sao làm được nhiệm vụ cứu nước ? Cuộc chiến đấu đòi hỏi dân tộc ta phải vươn mình phi thườnq như vậy. Hình ảnh Gióng vươn vai là tượng đài bất hủ về sự trưởng thành vượt bậc, về hùng khí của một dân tộc trước nạn ngoại xâm. Khi lịch sử đặt vấn đề sống còn cấp bách, khi tình thế đòi hỏi dân tộc vươn lên một tầm vóc phi thường thì cả dân tộc vụt đứng dậy như Thánh Gióng, tự thay đổi tư thế, tầm vóc của mình. Hình tượng cậu bé làng Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân trong cuộc chiến tranh cứu nước.

      Gióng chính là hình ảnh của nhân dân. Nhân dân lúc bình thường thì âm thầm lặng lẽ, cũng như Gióng ba năm không nói, không cười. Nhưng khi nước nhà gặp cơn nguy biến thi họ rất mẫn cảm, tự nguyện đứng ra cứu nước cứu nhà. Cũng như Gióng, khi vua vừa phát lời kêu gọi, chú bé đã đáp lời cứu nước.

      Đánh tan giặc Ân, Gióng cưỡi ngựa lên đỉnh núi Sóc, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Gióng ra đời đã khác thường thì ra đi cũng khác thường.

      Nhân dân trân trọng muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng nên đã để Gióng đi vào cõi bất tử, Gióng không quay về triều để được vua ban cho bổng lộc, vinh quang. Gióng biến mất vào cõi hư không. Sinh ra từ cõi lặng im, nay Gióng trở về trong im lặng, không màng phú quý, công danh. Tuy Gióng đã trở về trời nhưng thật ra Gióng luôn luôn ở lại với đất nước, cây cỏ, với dân tộc Việt. Vua phong cho Gióng là Phù Đổng Thiên Vương. Gióng được nhân dân Suy tôn là Thánh và lập đền thờ ngay tại quê hương để muôn đời ghi nhớ công ơn.

      Gióng là hình tượng tiêu biểu, rực rỡ của người anh hùng đánh giặc cứu nước. Trong văn học dân gian Việt Nam, đây là hình tượng người anh hùng đánh giặc đầu tiên, tiêu biểu cho lòng yêu nước của nhân dân ta.

      Gióng là người anh hùng mang trong mình sức mạnh của cả cộng đồng.Trong buổi đầu dựng nước, sức mạnh của thần thánh, tổ tiên thể hiện ở sự ra đời thần kì của chú bé làng Gióng. Sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở việc bà con dân làng góp gạo nuôi Gióng.

      Dân tộc Việt Nam anh hùng muốn có hình tượng khổng lổ, tuyệt đẹp và có ý nghĩa khái quát để phản ánh hết được lòng yêu nước, khả năng và sức mạnh quật khởi của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm suốt bốn ngàn năm lịch sử. Hình tượng Thánh Gióng với vẻ đẹp tuyệt vời rực sáng muôn đời đã đáp ứng được điều đó.

      – Danh từ là các từ chỉ người , sự vật ,hiện tượng , …..

      – Cụm danh từ là một nhóm các danh từ đi chung với nhau để làm thành một danh từ chung. Cụm danh từ có thể bao gồm từ hai đến vài danh từ.

      – Chỉ từ là những từ dùng để trỏ vào sự vật , nhằm xác định vị trí của chỉ từ trong không gian hoặc thời gian .

      Trong tuổi thơ của mỗi người, ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ về thầy, cô giáo cũ của mình, những kĩ niệm đẹp xen lẫn nỗi buồn đều được khắc sâu trong trí nhớ của chúng ta. Riêng tôi có một kỉ niệm mà tôi không bao giờ quên, kỉ niệm sâu sắc về một người thầy đáng kính của tôi.

      Năm ấy, khi tôi còn học lớp một, tôi có những kỉ niệm đẹp về thầy giáo chủ nghiệm của mình. Tôi đã bước sang lớp một, ngưỡng cữa của bậc tiểu học, có nhiều bạn mới, thầy cô mới.

      Ngày trọng đại ấy, ngày tôi không bao giờ quên. Sau buổi lễ khai giảng, tất cả các học sinh đều bước vào lớp học của mình để học buổi học đầu tiên và gặp gỡ thầy cô giáo chủ nhiệm của mình và cũng là người sẽ gắn bó với tôi trong suốt thời gian học tiểu học.

      Khi thầy bước vào, dáng người thầy thật nhanh nhẹn và thầy chào chúng tôi. Tôi trông thầy cũng đã đứng tuổi, tóc thầy cũng đã điểm bạc, khuôn mặt thầy gầy, bàn tay thầy có nhiều vết nhăn, chắc thầy đã có mấy chục năm lận đận với học sinh. Thầy bước lên bục giảng, thầy ra hiệu cho chúng tôi im lặng và thầy nói:chào các con, thầy tên là Hồ Viết Cảnh, thầy sẽ chủ nhiệm lớp các con trong suốt bậc tiểu học. Giọng thầy thật ấm áp, nhẹ nhàng, làm cho những suy nghĩ trong đầu tôi về một người thầy giáo chủ nhiệm thật dữ dằn và nghiêm khắc đều tan biến.

      Sau khi ra mắt chúng tôi, thầy bắt đầu dạy cho chúng tôi những bài học đầu tiên mà cũng là những bài học đầu đời dạy tôi nên người. Thầy viết lên bảng những dòng chữ đầu tiên, tôi trông thấy bàn tay thầy run run khi viết, sau này tôi mới biết, thầy phải chịu đựng những cơn đau do tham gia cuộc chiến tranh kháng chiến chống mĩ để viết nên dòng chữ đẹp đó. Sau khi viết xong đề bài, thầy hỏi chúng tôi có thấy rõ không, một và bạn ngồi phía dưới do mắt kém nên không thấy liền được thầy chỗ khác cho phù hợp. Trong buổi học thầy đến tận chỗ của từng người để chỉ cho chúng tôi những chỗ không hiểu. Cuối giờ, thầy cho chúng tôi xếp hàng ra về, mọi người đi về rất thẳng hàng, tiếng cười đùa của một vài bạn đã làm xôn ao khắp sân trường. Buổi học đầu tiên đã kết thúc như vậy đó, thầy đã để lại cho tôi những suy nghĩ về một người thầy mẫu mực.

      Những buổi học sau, thầy nghiêm khắc với những bạn lười học, khen thưởng những bạn ngoan. Giờ ra chơi, thầy đều ra chơi cùng chúng tôi, thầy chơi những rò chơi dân gian cùng với chúng tôi, nhìn khuôn mặt thầy lúc đấy thật đáng yêu, nhìn kĩ thầy, tôi có cảm giác khuôn mặt thầy rất giống khuôn mặt ông nội tôi. Ông tôi đã mất từ khi tôi còn nhỏ, những kỉ niệm đẹp của ôg và tôi đều được tôi khắc ghi. Nhìn thầy, tôi cảm thấy nhớ đến ông, nhớ đến cảnh chơi đùa của hai ông cháu, tôi liền chạy vào phòng học, ngồi trong góc khóc. Lúc đó có một bàn tay đặt lên vai tôi khẽ vỗ về, hình ảnh ông nội vỗ về tôi mỗi khi buồn hiện về, tôi bỗng khóc to lên, không sao có thể kiềm chế được. Thì ra đó chính là thầy, thầy khẽ nói với tôi:” Thành, sao con khóc, nói ra để thầy chia sẽ với con”. Rồi thầy ôm tôi vào lòng, nhận được sự an ủi của thầy, tôi càng khóc to hơn. Sau hôm đó tôi cảm thấy được thầy quan tâm nhiều hơn.

      Vào một hôm, do tôi không học bài nên bị điễm kém, thầy liền mắng tôi, tôi liền chạy về chỗ ngồi, trong lòng tôi cảm thấy rất tức thầy. Vào giờ ra chơi thầy không ra chơi với các bạn như mọi khi, thầy xuống chỗ tôi. Thầy nói:”thầy xin lỗi em vì đã quá nặng lời, nhưng em là lớp trưởng nên phải gương mẩu cho các bạn noi theo…. thầy giảng lại cho tôi bài tôi chưa hiểu. Tôi nhìn thầy lúc đó mà trong lòng cảm thấy hối hận vô cùng, ân hận vì đã làm thầy buồn. tôi tự hứa sẽ cố gắng phấn đấu tốt hơn.

      Vậy đấy, thầy đã để lại cho tôi những kỉ niệm không bao giờ phai mờ về một người thầy giản dị mà thân thương. Tôi hứa sẽ cố gắng học tập để trở thành công dân tốt, có ích cho đất nước và xã hội. Công ơn thầy sẽ mãi được khắc ghi như câu danh ngôn:

      “Ngọc không mài không sáng, người không học không tài.”

      Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, em rất thích truyện Con Rồng, cháu Tiên. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên hay Sự tích trăm trứng, Lạc Long Quân và Âu Cơ… vốn là một thần thoại có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo như các nhân vật thần linh có nhiều phép lạ và hình tượng cái bọc trăm trứng… đã biến nó thành một truyền thuyết hay và đẹp vào bậc nhất, nhằm giải thích và suy tôn nguồn gốc giống nòi cao quý của dân tộc Việt.

      Lạc Long Quân và Âu Cơ là sản phẩm của trí tưởng tượng hồn nhiên, phong phú của người xưa. Hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ được dệt nên từ những chi tiết lạ thường.

      Lạc Long Quân là con trai của thần Long Nữ ở Đông Hải (biển Đông); còn Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, sống ở vùng núi cao phương Bắc. Mỗi thần có một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp của Lạc Long Quân được nhấn mạnh là vẻ đẹp của tài năng. Thân có thân hình Rồng, sống được cả dưới nước lẫn trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ, trấn áp được lũ yêu quái (Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh) làm hại dân lành. Thần lại có lòng thương người, thường dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở.

      Âu Cơ là Tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần. Nàng thích đi đây đi đó. Nghe nói vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng bèn tìm đến thăm và tình cờ gặp Lạc Long Quân ở đó.

      Câu chuyện hấp dẫn người nghe bởi những chi tiết ngẫu nhiên lạ lùng: Rồng ở dưới nước gặp Tiên trên non cao rồi yêu nhau, kết duyên thành vợ chồng. Đây là biểu tượng của sự kết hợp giữa hai thành phần chính trong cộng đồng mới hình thành của dân tộc Việt.

      Đời Hùng vương, cư dân Văn Lang chủ yếu là người Lạc Việt và Âu Việt. Họ thường xuyên quan hệ với nhau về kinh tế, văn hóa. Cuộc hôn nhân thần thoại giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ phản ánh mối quan hệ và sự thống nhất giữa cư dân của hai bộ tộc này.

      Truyện Con Rồng, cháu Tiên phản ánh sự hình thành của đất nước Lạc Việt trong buổi bình minh của lịch sử qua các chi tiết: Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đật tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ… Khi cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi vua đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi.

      Đây là thời kì mở đầu kỉ nguyên độc lập của người Việt, hay còn gọi là thời kì Hùng Vương dựng nước.

      Nội dung truyện nhằm giải thích nguồn gốc dân tộc Việt là con Rồng, cháu Tiên. Tổ tiên ta là hai vị thần khỏe mạnh, tài năng, xinh đẹp, đức độ. Cuộc hôn nhân giữa Long Quân – Âu Cơ như một mối lương duyên tiền định và kết quả thật tạ thường ! Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở thành một trăm ngươi con hồng hào, đẹp đẽ… Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. Dấu ấn thần tiên được khắc sâu trong cuộc sinh nở này.

      Hình ảnh cái bọc một trăm trứng mang ý nghĩa tượng trưng rất thiêng liêng. Nó khẳng định rằng tất cả các dân tộc sống trên đất Việt đều chung một mẹ sinh ra, do đó mối quan hệ giữa các dân tộc là mối quan hệ anh em thân thiết. Hai tiếng đồng bào (cùng một bọc) đã gợi lên đầy đủ và cảm động nghĩa tình keo sơn, máu thịt ấy.

      Sự tích Lạc Long Quân chia tay với Âu Cơ, đem theo năm mươi con xuống biển, còn năm mươi người con theo mẹ lên núi, ngoài lí do kẻ ở trên cạn, người ở dưới nước, tính tình, tập quán khác nhau, khó mà ăn, ở cùng nhau một nơi lâu dài còn nhằm giải thích sự phân bố vùng định cư của các dân tộc trên đất Lạc Việt. Ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta đã tiến hành những cuộc sắp đặt giang sơn. Địa bàn đất nước rộng, các dân tộc đã biết phân chia nhau cai quản, Kẻ ở chốn núi rừng, kẻ đồng bằng, người biển cả… lập nghiệp khắp nơi, khắp chốn. Khi có việc quan trọng, lớn lao, họ lại tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau.

      Điều đó thể hiện truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong suốt mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc ta.

      Con Rồng, cháu Tiên là một truyền thuyết đặc sắc trong kho tàng truyện cổ dân gian. Nó thể hiện lòng tự hào, tự tôn về nguồn gốc cao quý của dân tộc ta, đồng thời khẳng định và ca ngợi mối quan hệ gắn bó thân thiết cùng truyền thống đoàn kết tốt đẹp có từ lâu đời của các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam. Mỗi người chúng ta dù sinh sống ở bất cứ nơi đâu cũng luôn nhớ tới cội nguồn và tự hào là dòng giống Tiên Rồng, là con cháu của các vua Hùng.

      Like (0) Báo cáo sai phạm

    • Câu 2:

      Tuổi thơ của tôi gắn liền với làng quê thanh bình, tươi đẹp, với dòng sông quê hương, cánh đồng mênh mộng và những phiên chợ quê náo nhiệt. Cứ mỗi tháng một lần, tôi lại theo bà đi chợ phiên, những kí ức ấy bây giờ vẫn mãi tồn tại trong tâm trí tôi.

      Chợ phiên quê tôi thường họp vào ngày cuối cùng của mỗi tháng. Cứ mỗi lần gần đến dịp họp chợ phiên, trước đó một , hai ngày bà tôi thường phải chuẩn bị đầy đủ bị, làn cùng dây , bà bảo rằng, chuẩn bị trước như vậy để ngày hôm đó còn đi sớm, và có nhiều thứ cần phải mua. Quả đúng như lời bà nói, ngày họp chợ phiên cuối cùng cũng đến, từ tờ mờ sáng, bà đã đèo tôi trên chiếc xe đạp đi một quãng đường dài. Chợ họp ở trung tâm xã, khi bà cháu tôi đến nơi, trời đã sáng hẳn, khung cảnh chợ náo nhiệt mà tưng bừng như ngày hội.

      Bà đưa tôi đi một vòng quanh chợ, đi đến đâu cũng nhiều những mặt hàng mới mà hàng ngày khó kiếm được. Chợ chia làm ba khu, khu đầu tiên là khu bán các thứ quà, đồ ăn. Mỗi lần đi qua nơi đó, tôi đều bị thu hút bởi hương thơm của các món bánh đặc trưng của quê tôi. Mùi bánh rán thơm phức, những chiếc bánh tròn, nhỏ, vàng ươm, giòn rụm lăn đều trong chảo dầu sôi . Hương vị của bánh lại càng khiến tôi mê mẩn bởi vị ngọt lịm của đỗ, mềm dẻo của bột. Những sạp bán xôi gấc, xôi ngô rồi các thứ chè đậu đỏ, đậu xanh tấp nập người thưởng thức.

      Khu thứ hai là khu bán rau, quả, thịt. Rau xanh mơn mởn được các bác nông dân tự tay trồng, chăm sóc bày trên những chiếc mẹt. Quả chín đến mùa như táo, lê, ổi đầy màu sắc cùng với những thăn thịt heo, thịt bò tươi ngon treo lủng lẳng trước các sạp. Những tiếng mời chào, mua bán rộn ràng khiến cho không gian càng thêm náo nhiệt. Bên cạnh đó, người ra còn bày bán các mặt hàng như vải, cây cảnh, giày dép,…hay đồ dùng gia đình, không thiếu một món hàng gì.

      Nếu nói rằng chợ phiên giống như một chiếc siêu thị thu nhỏ của làng quê quả cũng không có gì sai. Tuy nhiên chợ phiên vẫn mang một nét gì đó cổ truyền, dân giã mà mộc mạc. Tiếng cười nói suồng xã, âm thanh mua bán náo nhiệt, người người qua lại tấp nập để mua được những món đồ tươi ngon, ai cũng làn lớn bị nhỏ xách về đã tạo cho mỗi phiên chợ một nét riêng độc đáo.

      Dù bây giờ đã lớn, không còn ở quê cùng bà thường xuyên như ngày bé nhưng mỗi lần có dịp về chơi, thỉnh thoảng tôi vẫn cùng bà đi chợ phiên. Tôi rất yêu quý những phiên chợ quê tôi, gắn liền với tuổi thơ tôi với bao kỉ niệm tươi đẹp.

      Like (0) Báo cáo sai phạm

    • 7. Hiểu được ý nghĩa các chi tiết tưởng tượng, kì ảo và các đồ vật thần kì trong các văn bản truyền thuyết và cổ tích.

      8. Hiểu nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của các văn bản đã học.

      9. Nêu các bài học được rút ra từ các văn bản truyện đã học: + Truyện ngụ ngôn: Ếch ngồi đáy giếng; Thầy bói xem voi. + Truyện cười: Treo biển.

      10. Đọc các đoạn văn hay trong các văn bản dựa trên nội dung viết cảm nhận về các đoạn văn (đoạn trích) đó.

    • GIÚP MÌNH VỚI MÌNH CẦN GẤP

      SOẠN BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG

      TÌM HIỂU VÀ SƯU TẦM TRUYỆN CỐ DÂN GIAN HẢI PHÒNG

      trong câu truyện ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH khi người chồng đánh giậm,Mai thị đã xây dựng cuộc sống gia đình như thế nào?Việc Mai thị nhặt được vàng của Vạn Lịch có ý nghĩa gì?

    • Câu 6:Tìm các từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội trong những câu sau:

      a, Sáng ra bờ suối ,tối vào hang

      Cháo bẹ măng tre vẫn sẵn sàng

      (Hồ Chí Minh,Tức cảnh Pác Pó)

      Khi con tu hú gọi bầy

      Trái chiêm đang chín,trái cây ngọt dần

      Vườn râm dậy tiếng ve ngân

      Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào

      (Khi con tu hú-Tố Hữu)

      b, Ghé tai mẹ,hỏi tò mò

      Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?

      Mẹ cười:Nói cứng,phải xiêu

      Ra khơi ông còn dám,tui chẳng liều bằng ông!

      Nghe ra ông cũng vui lòng

      Tui đi,còn chạy ra sông dặn dò:

      “Coi chừng sóng lớn,gió to

      Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình

      (Mẹ suốt-Tố Hữu)

      c, -Chán quá,hôm nay mình phải nhận con ngỗng cho bài tập làm văn.

      -Trúng tủ,hắn nghiễm nhiên đạt điểm cao nhất lớp

    • SOẠN GIÚP MIK BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG(PHẦN VĂN VÀ TẬP LÀM VĂN)GIÚP MIK VỚI THANKS

    • Đây là đề mik tự chế thui nhưng ai có câu trả lời hay nhất sẽ đc tick nhìu nhất lun

      Câu 1:Nêu khái niệm về các loại truyện:truyền thuyết,cổ tích,ngụ ngôn và truyện cười.

      Câu 2:Phát biểu cảm nghĩ của em về hình tượng Thánh Gióng.

      Câu 3:Nêu khái niệm về danh từ,cụm danh từ và chỉ từ.

      Câu 4:Kể về kỉ niệm của em vói 1 thầy cô giáo

      Câu 5:Phát biểu cảm nghĩ về truyện Con Rồng Cháu Tiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Loại Truyền Thuyết: Khái Niệm, Đặc Trưng, Phân Loại
  • Truyền Thuyết Là Gì, 4 Đặc Trưng Của Truyền Thuyết Lớp 6
  • Khái Niệm Nhà Nước, Sự Khác Biệt Giữa Nhà Nước Với Các Thiết Chế Chính Trị Khác Trong Xã Hội?
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Định Nghĩa Ratio Analysis / Phân Tích Tỷ Số Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Reader – Sort / Máy Đọc – Phân Loại Là Gì?
  • Định Nghĩa Reaffirmation / Tái Xác Nhận Là Gì?
  • Định Nghĩa Real Estate Mortagage Investment Conduit (Remic) / Đơn Vị Phát Hành Đầu Tư Cầm Cố Bất Động Sản Là Gì?
  • Định Nghĩa Real Estate Owned / Bất Động Sản Sở Hữu Là Gì?
  • Định Nghĩa Pyramiding / Thực Hiện Kiểu Kim Tự Tháp Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    1. Ngân hàng: Việc kiểm tra chi tiết thành quả tài chính của một ngân hàng so với ngân hàng cùng quy mô, được biểu thị bằng tỷ số lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn cổ đông, hiệu suất (chi phí không sinh lãi chia cho thu nhập), tỷ số khoản vay xóa sổ, lợi nhuận trên mỗi cổ phần, biên lợi nhuận ròng, thu nhập không sinh lãi và các tiêu chuẩn khác. Các nguồn thông tin bao gồm các báo cáo ngân hàng hằng năm, dữ liệu báo cáo theo yêu cầu được báo cáo cho cơ quan điều tiết ngân hàng và các báo cáo mẫu 10K và mẫu 10Q trình cho Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái.

    Xem UNIFORM BANK PERFORMANCE REPORT.

    Việc phân tích tỷ số xem xét tình hình và khả năng sinh lợi tổng quát của các ngân hàng và các công ty cổ phần ngân hàng. Bốn loại tỷ số tổng quát trong việc đánh giá thành quả của các ngân hàng và các công ty cổ phần ngân hàng bao gồm: khả năng sinh lợi – lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn cổ đông; vốn-tỷ số vốn; khả năng thanh toán – hệ số thanh toán và tỷ số rủi ro tài sản-tỷ số vốn được điều chỉnh rủi ro.

    2. Cho vay thương mại: Tỷ số tài chính được sử dụng bởi các tổ chức cho vay thương mại, sử dụng trong việc phân tích tình hình tài chính của những người vay hiện tại và tiềm năng. Các tỷ số thương mại so sánh thành quả của các hãng khác nhau trong các ngành công nghiệp nhất định có từ hiệp hội Robert Morris, Hiệp hội các nhân viên tín dụng ngân hàng quốc gia, Bộ Thương mại Mỹ và các nguồn khác.

    XemBALANCE SHEET RATIOS.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Rating / Đánh Giá Xếp Hạng Là Gì?
  • Định Nghĩa Rate-Reduction Mortgage / Cầm Cố Lãi Suất Giảm Là Gì?
  • Định Nghĩa Rate Of Return / Tỷ Lệ Lợi Nhuận, Suất Thu Lợi Là Gì?
  • Định Nghĩa Range Forward / Hợp Đồng Kỳ Hạn Trong Phạm Vi Là Gì?
  • Định Nghĩa Raised Check / Chi Phiếu Bị Nâng Số Là Gì?
  • Định Nghĩa Nonrecourse Loan / Khoản Cho Vay Không Truy Đòi Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Current Pool Factor / Thừa Số Tổ Hợp Hiện Hành Là Gì?
  • Định Nghĩa Unauthorized Transfer / Chuyển Giao Không Được Phép Là Gì?
  • Định Nghĩa Nonrecurring Gain (Or Loss) / Lời (Hoặc Lỗ) Không Lặp Lại Là Gì?
  • Định Nghĩa Nonrevolver / Không Tái Tục Là Gì?
  • Định Nghĩa Normal Yield Curve / Đường Cong Sinh Lợi Bình Thường Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    1. Khoản cho vay mà nguồn hoàn trả cho bên cho vay là dòng tiền mặt tạo ra bởi một dự án được tài trợ bằng khoản cho vay đó, hoặc tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay. Hình thức tài trợ không truy đòi thường được sử dụng trong nghiệp vụ bao thanh toán (Factoring) các khoản phải thu. Người cho vay hoàn toàn chịu rủi ro tín dụng. Nếu người vay không thể chi trả, thì quyền truy đòi của người cho vay là tịch thu tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay; người vay không có nghĩa vụ trả nợ cá nhân. Trong khoản vay cầm cố không truy đòi, người cho vay phải xem xét tài sản cầm cố, thay vì người vay, như là nguồn hoàn trả cuối cùng.

    2. Thỏa thuận nghĩa vụ sàn của một hãng giao dịch, thí dụ như một hãng xe hơi được giới hạn trong việc đảm bảo về xác thực của chúng từ chào bán, hãng xe hơi, .. Hãng xe hơi không thể bị đòi hỏi mua lại các hợp đồng mua trả góp không chi trả từ người cho vay như trong trường hợp tài trợ có truy đòi.

    3. Khoản vay nông nghiệp trong đó người cho vay bị luật pháp ngăn cấm, sẽ không có hành động chống lại người vay nếu tài sản thế chấp khoản vay (vụ thu hoạch của nông dân) không đủ để hoàn trả khoản vay.

    Loại tài trợ này được thực hiện thông qua chương trình cho vay trực tiếp của chính phủ liên bang dành cho các nông dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Blind Brokering / Hoạt Động Môi Giới Ẩn Danh Là Gì?
  • Định Nghĩa Pooled Cost Of Funds / Chi Phí Vốn Tổ Hợp Là Gì?
  • Định Nghĩa Mismatch / Không Tương Xứng Là Gì?
  • Định Nghĩa Acquittance / Biên Nhận Là Gì?
  • Định Nghĩa Totten Trust / Ủy Thác Totten Là Gì?
  • Định Nghĩa Coupon (Bond) / Trái Tức Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Yield To Maturity / Lợi Suất Khi Đáo Hạn Là Gì?
  • Định Nghĩa General Accepted Accounting Principles (Gaap) / Các Nguyên Tắc Kế Toán Chấp Nhận Chung Là Gì?
  • Định Nghĩa Wall Street / Phố Wall Là Gì?
  • Định Nghĩa Gold Certificate / Chứng Chỉ Vàng Là Gì?
  • Định Nghĩa Good Money / Tiền Có Sẵn Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Trái tứclà tiền lãicông bố đối với các loạitrái phiếukhi nó được phát hành. Thông thường trái tức được thanh toán theo định kỳ 6 tháng.

    Trái tức thường được thể hiện dưới dạng tỉ suất trái tức, giống nhưlãi suấtcho vay. Ví dụ: một trái phiếu $1000 với tỉ suất trái tức 7% sẽ nhận được $70 mỗi năm.

    Từ “coupon”, nghĩa nguyên gốc là “cuống phiếu”, vì vào thời kỳ đầu, trái phiếu phát hành ra thường có các cuống phiếu kèm theo tương ứng với kì trả trái tức. Những người nắm trái phiếu có thể xé cái cuống phiếu ấy ra để đi đổi lấy tiền lãi. Vì vậy mới xuất hiện một cụm từ “coupon clipper” – người cắt cuống phiếu – chỉ những người sở hữu trái phiếu. Ngày nay thì phương pháp này đã không còn được sử dụng, thay vào đó là các bản ghi điện tử.

    Trên tờ trái phiếu Mecca Tempe kì hạn 20 năm phát hành năm 1944 có đến 40 chiếc cuống phiếu. Với tỉ suất trái tức 5%/năm, mỗi tờ cuống phiếu ấy có giá trị $2.5 vào ngày đáo hạn in trên đó. Tuy nhiên, những tờ cuống phiếu này chưa bao giờ được cắt ra khỏi tờ trái phiếu vì công ty phát hành đã bị vỡ nợ trong cuộc Đại suy thoái. Tòa nhà được xây dựng từ số tiền huy động bị thành phố New York tịch thu để bù vào tiền thuế, và được đặt lại tên là Tòa nhà Trung tâm Thành phố New York. Những tờ cuống phiếu này ngày nay không còn chút giá trị gì về mặt kinh tế nhưng hay được sử dụng mang tính biểu trưng trong các tranh ảnh liên quan đếnchứng khoán.

    Người cầm giữ trái phiếu, tuy không phải lúc nào cũng là người cho vay chính thức nhưng lại là chủ nợ thực tế xét trên quan điểm anh ta phải bỏ tiền ra để có trái phiếu đó. Trái tức chính là phần bù đắp cho việc anh ta cho người khác sử dụng số tiền của mình. Vì vậy trái tức luôn luôn tồn tại và gắn liền với trái phiếu.

    Tuy nhiên, không phải loại trái tức nào cũng thể hiện rõ ràng như một khoản tiền nhận được định kì. Trong trường hợptrái phiếu zero coupon, trái tức lại tồn tại dưới dạng ẩn. Thay vì được chi trả trái tức định kỳ, người mua trái phiếu zero coupon sẽ được hưởng một mức giá chiết khấu thấp hơn mệnh giá. Phần chênh lệch ấy chính là trái tức chi trả cho người nắm trái phiếu khi đáo hạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Coupon / Phiếu Lãi Là Gì?
  • Định Nghĩa Corporation / Công Ty Cổ Phần Là Gì?
  • Định Nghĩa Conversion Privilege / Đặc Quyền Chuyển Đổi, Quyền Chuyển Đổi Hợp Đồng Là Gì?
  • Định Nghĩa Consumer Credit / Tín Dụng Của Người Tiêu Dùng (Như Mua Chịu, Mua Trả Dần) Là Gì?
  • Định Nghĩa Conversion / Chuyển Đổi Là Gì?
  • Định Nghĩa Corporate Governance / Quản Trị Công Ty Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Municipal Securities Rulemaking Board (Msrb) / Ủy Ban Quy Tắc Chứng Khoán Đô Thị Là Gì?
  • Định Nghĩa Unauthorized Investment / Đầu Tư Không Được Phép Là Gì?
  • Định Nghĩa X9 Là Gì?
  • Định Nghĩa Cash Market / Thị Trường Tiền Mặt Là Gì?
  • Định Nghĩa Cash Position / Tình Hình Tiền Mặt Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Corporate Governance (CG) ngày càng thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng vì tầm quan trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của doanh nghiệp và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Tuy nhiên, bản thân khái niệm CG lại được định nghĩa mờ nhạt và dễ nhầm lẫn, vì lý do cũng rất tự nhiên là CG bao trùm lên một số lớn các hiện tượng kinh tế khác biệt. Kết cục là nhiều người khác nhau đã đi tới nhiều định nghĩa khác nhau về CG. Mỗi người cố gắng đưa ra một loại định nghĩa phản ánh mối quan tâm riêng của cá nhân về tác động và ảnh hưởng của CG trong lĩnh vực của mình. Mà hình như cũng khó mà đoán biết được liệu sự “rối loạn” về định nghĩa của CG này có được khắc phục trong tương lai hay không. Do vậy, cách hiệu quả có lẽ là chúng ta nên ngắm nghía một số định nghĩa khác nhau, thay vì lại loay hoay tìm kiếm “một định nghĩa tốt nhất. Một số định nghĩa về Corporate Governance:

    “Corporate governancelà một lĩnh vực kinh tế học nghiên cứu cách thức động viên quá trình quản trị hiệu quả của các doanh nghiệp bằng việc sử dụng các cơ cấu động viên lợi ích, ví dụ hợp đồng, cấu trúc tổ chức và quy chế-quy tắc. CG thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính, chẳng hạn, bằng cách nào người chủ sở hữu doanh nghiệp động viên các giám đốc họ sử dụng vận hành để đem lại lợi suất đầu tư hiệu quả hơn”,www.encycogov.com, Mathiesen .

    “Corporate governancelà hệ thống người ta xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu trúc CG chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp như Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan. CG cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành doanh nghiệp. Bằng cách này, CG cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc”, OECD 4/1999.

    “Corporate governancecó thể được hiểu theo nghĩa hẹp là quan hệ của một doanh nghiệp với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của doanh nghiệp với xã hội…”, Financial Times .

    Trong tiếng Việt, cũng do nguyên nhân của bản thân sự định nghĩa mờ nhạt từ gốc gác, CG cũng rất khó có được một chữ nghĩa chuẩn xác. Chúng ta có thể tạm gọi nó là Hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột, hay thay chữ hệ thống bắt “cơ chế”. Có lẽ đó là cách hiểu dễ hình dung nhất trong Việt ngữ về Corporate Governance.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Unrealized Capital Gains / Lợi Nhuận Chưa Thu Từ Tài Sản Là Gì?
  • Định Nghĩa Unorganized Money / Thị Trường Tiền Tệ Phi Tổ Chức Là Gì?
  • Định Nghĩa Unlimited Supplies Of Labor / Nguồn Cung Lao Động Không Giới Hạn Là Gì?
  • Định Nghĩa United Nations Eductional, Scientific And Cultural Organization (Unesco) / Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa Của Liên Hợp Quốc (Unesco) Là Gì?
  • Định Nghĩa United States Agency For International Development (Usaid) / Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Của Hoa Kỳ (Usaid) Là Gì?
  • Định Nghĩa Z-Tranche / Trái Phiếu Z – Trái Phiếu Dồn Tích Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Zvi Griliches / Zvi Griliches (Tên Người) Là Gì?
  • Định Nghĩa Z-Test / Kiểm Định Z Là Gì?
  • Định Nghĩa Z-Share / Cổ Phiếu Z Là Gì?
  • Định Nghĩa Zoning Ordinance / Luật Quy Hoạch Đất Đai Là Gì?
  • Định Nghĩa Zone Of Support / Vùng Giá Hỗ Trợ Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Z-Tranche là một loại trái phiếu đặc biệt dùng để thanh toán lần lượt nghĩa vụ nợ là các khoản vay có thế chấp. Loại trái phiêu này không nhận được bất kỳ khoản thanh toán lãi hoặc gốc nào cho đến khi tất cả các loại trái phiếu ưu tiến và các tranche khác đã được thanh toán hết cả gốc và lãi. Với Z-Tranche, lãi vay không được thanh toán mà sẽ được cộng gộp vào với phần gốc để tính lãi cho các đợt trả trong tương lai.

    Giải thích

    Mục đích chính của Z-Tranche là để tăng tốc độ đáo hạn của các tranche ưu tiên (senior tranche) bằng cách giải ngân thanh toán mà đáng lẽ Z-tranche được nhận cho các tranche có ưu tiên cao hơn. Các nhà đầu tư sở hữu các khoản vay nợ dài hạn hoặc những người lo lắng về rủi ro tái đầu tư sẽ được hưởng lợi từ việc đầu tư vào trái phiếu Z-tranche.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Accredited Advisor In Insurance – Aai / Cố Vấn Bảo Hiểm Được Cấp Chứng Nhận-Aai Là Gì?
  • Định Nghĩa Accreting Principal Swap / Hợp Đồng Hoán Đổi Tiền Gốc Tích Lũy Là Gì?
  • Định Nghĩa Accrue / Tích Lũy Là Gì?
  • Định Nghĩa Accrued Dividend / Cổ Tức Tích Lũy Là Gì?
  • Định Nghĩa Accrued Expense / Chi Phí Dồn Tích / Phải Trả Là Gì?
  • Tin tức online tv