Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân

--- Bài mới hơn ---

  • #1 Giai Cấp Công Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta
  • Giữ Vững Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nhân Hóa, Khái Niệm Nhân Lực, Khái Niệm Hôn Nhân, Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản , Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Bảo Hiểm Nhân Thọ, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Hôn Nhân Gdcd 9, Khái Niệm Nhân Nghĩa, Khái Niệm Nguồn Nhân Lực, Khái Niệm Nào Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, 2. Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 2 Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa, Biên Bản Niêm Yết Công Khai, 7 Khái Niệm Công Dân Toàn Cầu, Bien Ban Niem Yet Cong Khai Tai San, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Tổng Công Ty 90 91, Khái Niệm Công Ty Cổ Phần, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Kết Thuc Niêm Yết Công Khai Cấp Gcn – Qsd Đât, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Sản Thu Nhập, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Bien Ban Hop Niem Yet Ve Viec Cong Khai Tai San Thu Nhap , Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai Danh Sách, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chúng Ta, Khái Niệm Nhà Máy Nhà Máy Là Cơ Sở Sản Xuất Công Nghiệp, Ve Viec Niem Yet Thong Bao Cong Khai Van Ban Phan Chuia Data, Khái Niệm Y Tế Công Cộng, Khái Niệm Thế Nào Là Nơi Công Cộng, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Giai Đoạn Cuộc Cách Mạng 4.0, Mẫu Công Văn Giải Trình Kê Khai Sai, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mẫu Công Văn Giải Trình Nộp Chậm Tờ Khai Thuế, Cong Van Giai Trinh Cham Nop To Khai Thue, Công Văn Giải Trình Nộp Chậm Tò Khai Thuế Gtgt, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Trong Cách Mạng Công Nghệ 4.0, Bản Khai Thân Nhân Chế Độ Dân Công Hỏa Tuyến, Mẫu 01a Bản Khai Cá Nhân Của Dân Công Hỏa Tuyến, Mẫu Bản Khai Cá Nhân Về Dân Công Hỏa Tuyến, Hướng Dan Khai So Yếu Ly Lịch Công Nhân Viên Chuc, Giai Cấp Công Nhân, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Xu Thế Biến Đổi Của Giai Câp Công Nhân, Bản Khai Cá Nhân. Để Hưởng Chế Độ Bảo Hiểm Y Tế Đối Với Người Có Công … Hiện Nay Tôi Chưa Được Cấp, Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giai Cấp Công Nhân, Bài Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân, Nghị Quyết Số 20 Về Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Công Nhân Phát Huy Sức Mạnh Toàn Dân Tộc, Học Thuyết Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Ngày Nay, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Khái Niệm ăn, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm 511, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm G,

    Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nhân Hóa, Khái Niệm Nhân Lực, Khái Niệm Hôn Nhân, Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản , Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Bảo Hiểm Nhân Thọ, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Hôn Nhân Gdcd 9, Khái Niệm Nhân Nghĩa, Khái Niệm Nguồn Nhân Lực, Khái Niệm Nào Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, 2. Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 2 Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa, Biên Bản Niêm Yết Công Khai, 7 Khái Niệm Công Dân Toàn Cầu, Bien Ban Niem Yet Cong Khai Tai San, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Tổng Công Ty 90 91, Khái Niệm Công Ty Cổ Phần, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Kết Thuc Niêm Yết Công Khai Cấp Gcn – Qsd Đât, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Sản Thu Nhập, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Bien Ban Hop Niem Yet Ve Viec Cong Khai Tai San Thu Nhap , Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai Danh Sách, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Luật Doanh Nghiệp Được Sửa Đổi, Định Nghĩa Lại Về Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Lại Sửa Khái Niệm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Khái Niệm Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước Sở Hữu 100% Vốn Điều Lệ
  • Khái Niệm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Giai Cấp Công Nhân Và Chủ Nghĩa Xã Hội Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Trong Điều Lệ Đảng
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì? Phân Tích Những Điều Kiện Khách Quan Quy Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân.
  • Vấn Đề 7: Giai Cấp Công Nhân
  • 9.Phân tích khái niệm giai cấp công nhân. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Phân tích những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    9.1. Khái niệm giai cấp công nhân (giai cấp vô sản):

    Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định.

    Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản hiện đại. Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại ra đời gắn liền với sự phát triển của đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.

    Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp cơ bản, chủ yếu, đối lập với giai cấp tư sản, là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị thặng dư. Họ là những người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động tùy theo cung – cầu hàng hóa sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng hóa về vật chất lẫn tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc và quy luật cung – cầu hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ phải tạo ra giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt.

    Dưới chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình đế sống”.

    Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ có hai tiêu chí cơ bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác.

    – Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân.

    – Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:

    + Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà những người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản.

    + Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa. Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra là nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.

    9.2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chỉ có thể thoát khỏi ách áp bức bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại.

    9.3. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế – xã hội khách quan của nó quy định:

    – Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân ra đời và từng bước phát triển. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao. Đây là giai cấp tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay.

    – Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống. Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động. Một khi sức lao động đã trở thành hàng hóa, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử thách, mọi may rủi của cạnh tranh; số phận của nó tùy thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hóa sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hóa cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hòa trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ có khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó. Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác chống chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc.

    Vì vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.

    A. Mở bài:

    Trong giai đoạn hiện nay, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, người ta lại thấy không ít những luận thuyết, những quan điểm khác nhau tấn công chủ nghĩa Mác – Lê nin, hy vọng có thể hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác – Lênin. Những luận thuyết phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân lại được nở rộ ở nhiều nơi. Người ta cố tình lập luận rằng, C. Mác đã gắn cho giai cấp công nhân cái sứ mệnh mà nó không có chỉ bởi vì ông thương đó là giai cấp nghèo khổ; rằng, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, đã trở thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung”, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; rằng, công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột nữa, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa! … Có đúng là ngày nay giai cấp công nhân đã mất vai trò lịch sử? Đó là câu hỏi không ít người đã và đang tự hỏi về cái sứ mệnh lịch sử mà Mác và Lênin đưa ra cho giai cấp công nhân kia.

    Và đề trả lời cho câu hỏi đó em đã chọn đề tài : ” Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của mình trong thời đại ngày nay” để có thể nhìn nhận vấn đề này một cách đúng đắn nhất.

    B. Nội dung:

    1.Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    Để đi sâu vào tìm hiểu sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Trước hết ta cần nắm rõ khái niệm giai cấp công nhân.

    – Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành cộng nghiệp thuộc các trình độ kĩ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội của họ phụ thuộc vào chế độ xã hội đương thời, ở các nước tư bản. Họ là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình

    – Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu sụp đổ. Các thế lực phản động đả kích chủ nghĩa Mac-Lênin phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đến ngày nay giai cấp công nhân có còn tồn tại hay ko? Để làm rõ điều này chúng ta cần căn cứ vào 2 thuộc tính sau đây để nhận diện:

    +Thứ nhất nói về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Mác và Ăng-ghen cho rằng công nhân là tất cả những người lao động trực tiếp hay gián tiếp có sử dụng công cụ lao động trong lĩnh vực sản xuất cộng nghiệp ngày càng hiện đại.

    + Thứ hai nói về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: công nhân là những người ko có tư liệu sản xuất phải làm thuê, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư Mác-Ăngghen gọi họ là giai cấp vô sản.

    Lấy hai tiêu chí trên để phân biệt và xác định rằng giai cấp công nhân ngày nay ko hề bị biến mất mà trái lại ngày càng không ngừng phát triển về số lượng. Cụ thể theo tổ chức lao động quốc tế 1900, toàn thế giới có 80 triệu công nhân, đến 199 có hơn 600 triệu, đến 1998 tăng đến 800 triệu.

    Đối với giai cấp công nhân hiện nay mặc dù cơ cấu ngành nghề ở các nuớc tư bản dịch vụ chiếm 50-70% sản xuất đã được tự động hoá với một trình rất cao,nhưng trong lao động kể cả trực tiếp hay gián tiếp ngừơi lao động điều phải sử dụng công cụ lao động của cộng nghiệp hiện đại và họ điều là những nguời ko có tư liệu sản xuất. Do đó xét về địa vị xã hội họ vẫn là người làm thuê. nếu như trước kia người công nhân chỉ bán sức lao động cơ bắp là chủ yếu, thì ngày nay họ còn bán luôn cả sức lao động trí óc và đôi khi bán chất xám lại là điều chủ yếu.Trong xã hội ngày nay có phải cuộc sống của công nhân được trung lưu hóa? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần xét hai xã hội:

    + Ở các nước tư bản, phần đông họ ko càn là những người vô sản trần trụi với hai bàn tay trắng, một số có tư liệu sản xuất phụ mà họ có thể cùng gia đình làm thêm ở nhà để sản xuất một số công đoạn phụ cho nhà máy, xí nghiệp. Một số ít có cổ phần nhưng rất bé và bản thân họ cũng chỉ là những người lao động làm thuê. Và trên thực tế ko phải người công nhân nào cũng có thể mua được cổ phần.

    + Đối các nước xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền họ trở thành giai cấp lãnh đạo, tư liệu sản xuất là của chung. Họ vẫn là giai cấp công nhân nhưng ko còn là vô sản như trước nữa. Như vậy về địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa căn bản đã khác so với trước đây nhưng trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay thì còn có một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân và họ vẫn là người bị bóc lột.

    2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sứ mệnh đó trong thời đại ngày nay.

    a. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Ph. Ăngghen viết: ” thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh lịch

    sử của giai cấp vô sản hiện đại”

    V.I .Lênin cũng chỉ rõ: “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng

    rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”.

    Nói một cách khái quát, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.

    Một câu hỏi nữa được đặt ra đó là: ” Tại sao giai cấp công nhân hiện đại có thể thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy ?”

    – Giai cấp công nhân hiện đại có thể thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử ấy của mình là do địa vị kinh tế – xã hội của nó quy định.

    + Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện đội ngũ giai cấp công nhân, họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội và là nhân tố quyết định trong việc thủ tiêu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    + Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất, nếu có thì chỉ là một phần rất nhỏ mà thôi, vì thế họ phải bán sức lao động và bị bóc lột nặng nề. Nhưng họ là lực lượng xã hội ngày càng lứon mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. Họ là điều kiện tồn tại của giai cấp tư sản và xã hội tư bản.

    + Giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản nhất trí với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động nên có thể thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân trong quá trinh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân quy định một cách khách quan những đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân hiện đại.

    – Những đặc điểm đó là:

    + Giai cấp công nhân hiện đại là giai cấp tiên tiến nhất.

    + Là giai cấp có tinh thần triệt để cách mạnh.

    + Là giai cấp có tính tổ chức và kỉ luật cao.

    + Là giai cấp có bản chất quốc thế.

    b. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong giai đoạn ngày nay:

    Trong điều kiện ngày nay, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại rất đa dạng, có nhiều trình độ khác nhau và không ngừng biến đổi theo hướng không thuần nhất: Công nhân kỹ thuật ngày càng tăng công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ, đóng vai trò chính trong quá trình phát triển, công nhân truyền thống giảm dần. ở các nước tư bản phát triển “công nhân áo xanh” chỉ chiếm 12 – 15% tổng số công nhân . ở Italia công nhân kỹ thuật cao “công nhân áo trắng” chiếm 53% tổng số công nhân. ở Nhật 90% công nhân có trình độ đại học. ở Tây Ban Nha công nhân kỹ thuật chiếm 53%. Công nhân làm việc trong các ngành dịch vụ tăng lên xấp xỉ 50% tổng số công nhân. Mặc dù một số ít trong giai cấp công nhân có cổ phần trong các xí nghiệp của tư bản, nhưng về cơ bản giai cấp công nhân vẫn bị bóc lột, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, sự phân biệt giàu nghèo và tình trạng bất công xã hội vẫn tăng lên, bản chất bóc lột giá trị thặng dư vẫn tồn tại, dù được biểu hiện dưới hình thức tinh vi hơn. Cả sự bần cùng hóa tuyệt đối lẫn bần cùng hóa tương đối của giai cấp công nhân vẫn đang tồn tại. Tuy đại bộ phận tầng lớp trí thức và lao động có kỹ năng đang có việc làm được cải thiện mức sống và gia nhập vào tầng lớp trung lưu, nhưng vẫn không xóa được sự phân hóa giàu nghèo. Chính những nhà xã hội học tư sản tiến bộ đã chứng minh ở các nước tư bản hiện nay sự bóc lột còn cao hơn và với cơ chế càng tinh vi hơn thời Mác.

    Do tính quy định của sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân ngày nay có một số biểu hiện mới: trình độ văn hóa – tay nghề cao hơn; một số công nhân đã có cả tư liệu sản xuất, cổ phiếu, đời sống một bộ phận được cải thiện v.v… Song, những biểu hiện đó không làm thay đổi địa vị cơ bản của công nhân trong chủ nghĩa tư bản. Họ vẫn đang là lực lượng chủ yếu làm ra của cải cho xã hội và lợi nhuận cho các nhà tư bản; là lực lượng đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản, bị bóc lột nhiều nhất và khoảng cách về mức thu nhập giữa họ với giới chủ ngày càng lớn. Công nhân trong các nước tư bản phát triển được trí tuệ hóa, lao động bớt nặng nhọc hơn, có chút ít cổ phần trong doanh nghiệp… thì họ càng bị ràng buộc chặt chẽ hơn vào guồng máy sản xuất của tư bản, càng bị bóc lột nặng nề và tinh vi hơn. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư trung bình ở thế kỷ XIX là 20, thì hiện nay là 300, cá biệt có nơi, như tập đoàn Microsoft tỷ suất này lên tới 5000. Từ một chiều cạnh khác, hiện nay sự tăng lên lượng tri thức khoa học và văn hóa của công nhân lại cũng là một tiền đề quan trọng để giúp họ nhận thức và cải tạo xã hội. Họ đang phê phán chủ nghĩa tư bản và đến với chủ nghĩa xã hội như đến với cái đúng và do sự thôi thúc của lý trí chứ không chỉ do nghèo đói. Với tri thức và khả năng làm chủ công nghệ cao, với năng lực sáng tạo và ý thức về sứ mệnh, giai cấp công nhân hiện đại đang có thêm điều kiện để tự giải phóng.

    Như vậy dù mức sống có cao hơn trước, dù công nhân có được tham gia quản lý thông qua đại biểu trong hội đồng xí nghiệp theo “chế độ tham dự” và “chế độ ủy nhiệm”‘ nhưng họ vẫn là người làm thuê bán sức lao động, ý chí của chủ nghĩa tư bản vẫn là quyền lực chi phối, tầng lớp “nhà quản lý” vẫn chỉ là kẻ phụ thuộc vào giới chủ. Giai cấp công nhân vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và trực tiếp, vẫn là giai cấp tiên phong trong xã hội. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không thể chuyển vào tay một giai cấp hay tầng lớp xã hội nào khác: Những chỉ dẫn cơ bản về đặc trưng bản chất của giai cấp công nhân của Mác – Ăngghen – Lênin đưa ra vẫn là cơ sở phương pháp luận để xem xét, phân tích giai cấp công nhân hiện đại trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển hay trong những nước đang tiếp tục con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nước thế giới thứ ba và toàn thế giới nói chung, trước đây cũng như hiện nay.

    Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động ra của cải vật chất trong lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại. Sản phẩm thặng dư do họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và sự phát triển của xã hội.

    Giai cấp công nhân vừa là người lãnh đạo, đồng thời cùng với nông dân, trí thức và các giai cấp, tầng lớp lao động khác họp thành lực lượng tổng hợp của quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử đó.

    Nhờ có những điều chỉnh lớn và tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là qua toàn cầu hóa kinh tế, chủ nghĩa tư bản đang còn khả năng tiếp tục kéo dài sự tồn tại nhưng không thể tránh được “định mệnh” mà Mác đã vạch ra từ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay là biểu hiện tập trung của xu thế xã hội hóa lực lượng sản xuất và cũng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn cơ bản trong lòng chủ nghĩa tư bản. Nó khai triển mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến mọi ngõ ngách của thế giới qua những biểu hiện xã hội đa dạng. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân hiện đại đang bị chủ nghĩa tư bản toàn cầu bóc lột giá trị thặng dư với một giai cấp “ngày càng trở nên là giai cấp thừa” trong sản xuất và phản động về chính trị; Đó là mâu thuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, hay “phương Bắc và phương Nam”, giữa “trung tâm và ngoại vi”…; là mâu thuẫn của lợi ích từng quốc gia – dân tộc với lợi ích của các tập đoàn tư bản; giữa những nước phát triển và đang phát triển; giữa chủ quyền quốc gia – dân tộc với xu thế đồng hóa cưỡng bức; giữa văn hoá dân tộc với cuộc xâm lăng bằng tư tưởng, lối sống của những nước đế quốc trong môi trường toàn cầu đang vận hành theo những cơ chế bất bình đẳng; Đó còn là mâu thuẫn giữa các nước tư bản xung quanh việc tranh giành vị trí, thế lực và ảnh hưởng thông qua việc chiếm lĩnh ưu thế về khoa học và công nghệ, những nguồn tài nguyên…

    Nhìn chung từ thực tiễn hiện đại, nhu cầu có một toàn cầu hóa với chất lượng mới đang hiện rõ. Và, mầm mống của một phương thức sản xuất mới cũng đang lớn dần, chủ yếu là theo cách này. Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế và không hề xa lạ với những hiện tượng quốc tế phản ánh tiến bộ xã hội. Chủ động, tích cực hội nhập quá trình toàn cầu hóa kinh tế; tận dụng những thời cơ, tranh thủ ngoại lực từ quá trình toàn cầu hoá hiện nay và làm biến đổi nó theo hướng tích cực là một tiến trình hợp quy luật và là con đường để thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân.

    3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam:

    Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là nội dung cơ bản của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam là giải phóng dân tộc và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; qua đó giải phóng giai cấp, giải phóng người lao động, xây dựng một “xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”…Hiện nay, để sớm đưa đất nước khỏi tình kém phát triển, nội dung trọng tâm là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay là “Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Theo đó phát triển giai cấp công nhân cũng chính là phát triển, hoàn thiện chủ thể của sứ mệnh lịch sử hiện đại – cơ sở xã hội quan trọng nhất bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam cũng chỉ có thể thực hiện thắng lợi khi quyền lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân, thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, được giữ vững và không ngừng tăng cường; Nhà nước xã hội chủ nghĩa và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân lao động nước ta không ngừng được hoàn thiện và phát triển.

    Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân: Là giai cấp tiên tiến, là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là giai cấp có tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật và có tinh thần quốc tế vô sản nhưng do hàn cảnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau:

    + Ra đời trước g/c tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề ngay từ mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng Tháng10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, ko bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản, giai cấp công nhân Việt Nam từ khi có đảng lãnh đạo, đã nhanh chóng bước lên vũ đài chính trị với tư cách là một lực lượng chính trị độc lập với mục tiêu: Giải phóng dân tộc xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Giai cấp công nhân khi sinh ra đã kế thừa truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc, tinh thần đó lại được nhân lên gấp bội khi có sự lãnh đạo của Đảng.

    + Sinh ra và trưởng thành ở một nước phong kiến nửa thuôc địa, nông nghiệp lạc hậu nên hạn chế lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam là còn chịu ảnh hưởng tư tưởng nho giáo phong kiến, tác phong của nền sản xuất nhỏ tiểu nông, câu nệ với sách vở, xa rời quần chúng, thoát ly sản xuất, chúng ta đừng có ảo tưởng những tàn dư tâm lý sản xuất nhỏ ấy có thể một ngày, hai ngày bị quét sạch ra khỏi đời sống xã hội.

    Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay gồm người lao động chân tay, lao động trí óc, hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các. Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, họ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến có tri thức. Họ là lực lương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, là hạt nhân vững chắc trong liên minh công nhân, nông dân trí thức. Nhược điểm của giai cấp công nhân Việt Nam: như số lượng còn ít, chưa được rèn luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn thấp. Nhưng điều đó ko thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch sử chủ nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam. Xét về bản chất thì chưa thể có và ko thể có tổ chức chính trị nào, giai cấp nào có thể thay thế được giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mới, trong đó nhân dân lao động được làm chủ, đất nước độc lập và phồn vinh xóa bỏ áp bức bất công, mọi người đều có điều kiện phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Đối với giai cấp công nhân cần phải ” coi trọng phát triển về sồ lượng và chất lượng nâng cao giác ngộ, bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề ngiệp, thực hiện” trí thức hoá công nhân ” nâng cao năng lực ứng dụng và sang tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu wả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo trong thời kì mới…”

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam (…).

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngày càng được trí thức hóa; có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học-công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao “.

    Cùng với việc triển khai thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tập trung chỉ đạo giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân. Đó là vấn đề bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, đặc biệt là về tiền lương, thu nhập, nhà ở, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội…, tương xứng với những thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và những đóng góp của giai cấp công nhân. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong các loại hình doanh nghiệp. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; chú trọng đào tạo nghề cho công nhân xuất thân từ nông dân và nữ công nhân; từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc, kiến thức pháp luật, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, xây dựng lối sống lành mạnh trong công nhân, nhất là công nhân trẻ. Quan tâm xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở Đảng trong các loại hình doanh nghiệp; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp phù hợp với từng thành phần kinh tế. Đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức gắn với nâng cao chất lượng hoạt động của Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các loại hình doanh nghiệp phù hợp với Điều lệ và quy định của pháp luật. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn và các tổ chức chính trị-xã hội khác trong việc xây dựng giai cấp công nhân.

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, Công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong việc chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cùng với xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị-xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh. Xây dựng giai cấp công nhân nước ta phát triển toàn diện xứng đáng là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tích cực phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, có tầm quan trọng chiến lược và quyết định đối với công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    C. Kết luận:

    Trở lại với câu hỏi đầu tiên: ” Có đúng là giai cấp công nhân ngày nay mất đi sứ mệnh lịch sử của mình hay không?”

    Để làm rõ vấn đề này cần phải dựa trên cơ sở luận chứng địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân hiện nay gắn với việc làm sáng tỏ bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

    + Phương pháp luận trong xem xét vai trò lịch sử của một giai cấp là phải dựa trên cơ sở địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp đó trong xã hội, chứ không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của bất kỳ một cá nhân hoặc một lực lượng xã hội nào. Trong lịch sử, chế độ tư bản chủ nghĩa đã từng chiến thắng chế độ phong kiến bởi vì giai cấp tư sản đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất mới, dựa trên nền đại công nghiệp, tiến bộ hơn hẳn phương thức sản xuất lạc hậu của chế độ phong kiến.

    Đối với giai cấp công nhân, “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”. Trên cơ sở luận giải địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã đưa ra kết luận khoa học: sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau.

    Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải giai cấp này là giai cấp nghèo khổ, mà điều quyết định là do địa vị kinh tế – xã hội của chính nó. Trong xã hội tư bản, các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; trái lại, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Đây là điều quyết định giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

    Lấy sự nghèo khổ làm cơ sở để luận giải sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một lập luận phản khoa học và là mưu đồ hòng xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin.

    + Lại có quan điểm cho rằng, hiện nay ở các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân không còn bị bóc lột như trước nữa; nó đã trở nên “trung lưu hoá” thậm chí trở thành “nhà tư bản” khi đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty. Đúng là hiện nay, việc thực hiện cổ phần hoá ở các nước tư bản phát triển đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng khắp. Người dân hễ có tiền tích luỹ là có thể mua cổ phiếu ở xí nghiệp, công ty cổ phần nào đó (ở Mỹ 10%, ở Anh 12% người lao động có cổ phần) với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn.

    Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, việc bán cổ phiếu cho công nhân không những không động chạm đến quyền lợi của giới chủ, mà trái lại càng làm tăng thêm quyền lực kinh tế cho bọn tư bản. Một chủ tư bản không cần một số lượng tư bản lớn cũng có thể chi phối cả công ty, hoặc nhiều công ty trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hết sức lớn. Bán cổ phiếu cho người lao động chỉ diễn ra trong chừng mực không tổn hại đến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đến lợi ích của giới chủ. Khi đã có cổ phiếu, dù người công nhân có được những quyền lợi nhất định gắn với tình hình sản xuất của Công ty và lợi tức do kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại, nhưng thực chất nguồn lợi nhuận ấy chẳng qua là một phần giá trị thặng dư do chính công nhân làm ra, chứ không phải bớt đi giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản đã bỏ túi. Vậy là, người công nhân không phải đã trở thành nhà “nhà tư bản” theo cái cách người ta nói, mà là “thành nhà tư bản đối với chính mình”.

    Như vậy, công nhân hiện nay dù có cổ phiếu với giá trị cao hơn trước cũng chẳng vì thế mà thay đổi địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Chế độ cổ phiếu thật sự là phương pháp hữu hiệu cột chặt người lao động là bắt họ lệ thuộc hơn nữa vào giới chủ. Hy vọng thay đổi địa vị người lao động trở thành người chủ thật sự ở các nước tư bản chủ nghĩa, do đó chỉ là ảo tưởng, hoặc đó là hành động tự lừa dối mà thôi.

    Giai cấp công nhân nếu đã trở nên “trung lưu hoá”, thì cái sự “trung lưu hoá” ấy là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới chứ không phải làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; đó là do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội và là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân trong đấu tranh chống giai cấp tư sản suốt nhiều thế kỷ qua. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội, mức sống cao về vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không còn giống như những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Đó là sự thật. Thế nhưng, từ những biến đổi đó mà đi đến kết luận giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa, thì đó là sai lầm cả về chính trị và khoa học.

    + Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định: chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất hùng hậu hơn các thế kỷ trước cộng lại. Trong điều kiện cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất đó càng được tăng lên nhanh chóng với những bước tiến nhảy vọt. Chính những yếu tố đó là cơ sở vật chất giúp cho chủ nghĩa tư bản có thể tận dụng một cách hữu hiệu những thành tựu khoa học – công nghệ mới để kéo dài tuổi thọ của mình. Trên thực tế, chủ nghĩa tư bản đã và đang tìm mọi cách điều chỉnh để thích nghi với điều kiện mới.

    Mặc dù có những thay đổi và đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế trong những thập kỷ gần đây, nhưng trong lòng thế giới tư bản hiện đại, mâu thuẫn vốn có của nó giữa lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất không những vẫn còn tồn tại, mà có mặt còn sâu sắc hơn là lan ra phạm vi rộng hơn. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có”.

    Mâu thuẫn xã hội cơ bản giữa giai cấp những người vô sản và giai cấp những người hữu sản; giữa những người nghèo và những người giàu không chỉ còn trong phạm vi một quốc gia, nó đã phát triển ở tầm quốc tế. Sự phát triển của các tập đoàn tư bản, các công ty tư bản xuyên quốc gia tăng sự bòn rút tài nguyên và bóc lột nhân dân nhiều nước thuộc “thế giới thứ ba”; các cuộc chiến tranh đẫm máu chống các quốc gia độc lập có chủ quyền do chủ nghĩa đế quốc phát động… là nguyên nhân chủ yếu khiến cho hơn 500 triệu người bị đe đoạ chết đói, 1,6 tỷ người sống trong cảnh khốn cùng, 600 triệu người thất nghiệp, hơn 800 triệu người mù chữ… Tất cả điều đó đã nói lên tính chất ăn bám, bóc lột, phản động và tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc.

    Rõ ràng, chủ nghĩa tư bản niện đại dù có biến đổi, thích nghi thì về bản chất vẫn là chủ nghĩa tư bản, là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ở trình độ cao, chủ nghĩa tư bản độc quyền xuyên quốc gia, chứ không hề có sự thay đổi bản chất; nó vẫn là chế độ bóc lột, bất công và đầy mâu thuẫn.

    + Theo V.I.Lênin, chủ nghĩa đế quốc là “phòng chờ” đi vào chủ nghiã xã hội. Như thế, phải chăng trong điều kiện mới, cùng với sự phát triển và tác dộng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại thì “phòng chờ” đó càng được mở rộng hơn. Đúng như vậy, với sự mở rộng “phòng chờ” đó, tất yếu sẽ diễn ra sự vùng dậy của lực lượng sản xuất làm nổ tung toàn bộ cái quan hệ sản xuất đang trói buộc nó. Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, mà chủ nghĩa tư bản đang lợi dụng để kéo dài tuổi thọ của nó, đang dần vượt ra khỏi “sự kiểm soát của chính nó”. Do thực hiện chế độ cổ phiếu, nên giới chủ không phải muốn làm gì cũng được mà không tính đến lực lượng cổ đông đông đảo là giai cấp công nhân, tuy giá trị cổ phiếu của họ là nhỏ bé.

    Trong điều kiện đó, Đảng Cộng sản, công đoàn, các tổ chức, đoàn thể của giai cấp công nhân được mở rộng và hoạt động ngày càng phong phú hơn, tạo áp lực đối với giới chủ ngày càng mạnh mẽ hơn. Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản phát triển ngày càng gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển trong một mặt trận chung chống chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc. Giai cấp công nhân ngày càng được rèn luyện và trưởng thành trong đấu tranh chống giai cấp tư sản cả về chính trị và kinh tế trên quy mô quốc gia và quốc tế.

    Cần nhắc lại luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình mà nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy – những công nhân hiện đại, những người vô sản”. Luận điểm nổi tiếng đó càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện lịch sử mới.

    Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đối với những người cộng sản, giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trên thế giới, quả là một thực tế nghiệt ngã và đau xót. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là chủ nghĩa xã hội bị “tiêu vong”, giai cấp công nhân đã “mất vai trò lịch sử”: cũng không làm mất đi ý chí phấn đấu và niềm tin vào tương lai xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Trái lại, giai cấp công nhân có thêm những bài học quý giá về những vấn đề cơ bản của cách mạng, bài học sâu sắc về “cách mạng phải biết tự bảo vệ”; càng nhận thức rõ hơn tính chất quyết liệt, gay go của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong thời đại ngày nay; càng hiểu rõ hơn những bước thăng trầm, những khúc quanh trên con đường thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

    Nhận thức và vận dụng: Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    ứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một phạm trù cơ bản nhất của CNXH khoa học, do đó đã được C.Mác – Ph.Ăngghen và V.I.Lênin nghiên cứu và phát triển hoàn thiện trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới.

    C.Mác và Ăngghen đã tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, chỉ ra biện pháp và con đường để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. V.I.Lênin khẳng định: “Điểm chủ yếu trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa” 1 .

    Khi sử dụng khái niệm giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng những thuật ngữ khác nhau: như giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp… về cơ bản thuật ngữ này trước hết biểu thị một khái niệm thống nhất đó là chỉ giai cấp công nhân hiện đại, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại.

    Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là sản phẩm của cách mạng công nghiệp, ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp; trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao.Có hai tiêu chí cơ bản:

    Về phương thức lao động của giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là những người lao động công nghiệp, sản xuất ra sản phẩm công nghiệp. Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ, người thợ thủ công trong công trường thủ công. Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp. C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích: “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản là sản phẩm của nền đại công nghiệp” 2 . “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy… công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại” 3 .

    Về địa vị của giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: giai cấp công nhân là những người lao động không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, họ buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống. “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống” 4 .

    Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản Ph.Ăngghen đưa ra định nghĩa: “giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động lao động trong thế kỷ XIX” 5 . “giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng sản sinh ra…” 6 .

    Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là trong thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết, V.I.Lênin phát triển, hoàn thiện và làm rõ hơn vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình cách mạng XHCN. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành những người chủ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Địa vị kinh tế chính trị của giai cấp công nhân có những thay đổi căn bản.

    Xuất phát từ quan niệm của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sự biến đổi của giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay, có thể định nghĩa: Giai cấp công nhân: “Là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của LLSX có tính chất xã hội hóa ngay càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lên CNXH. Trong các nước TBCN, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có TLSX, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; Trong các nước XHCN, họ đã cùng nhân dân lao động làm chủ những TLSX chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân mình” 7 .

    Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng tiến bộ của phương thức sản xuất. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sửtoàn thế giới của giai cấp công nhân là tổ chức lãnh đạo xã hội (XH) thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản để đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng toàn XH khỏi áp bức bất công xóa bỏ CNTB xây dựng thành công CNCS trên phạm vi toàn thế giới.

    Tổ chức lãnh đạo XH thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản: xoá bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Giai cấp công nhân là người đào huyệt chôn CNTB, từng bước xây dựng CNXH, CNCS.

    Về kinh tế: giai cấp công nhân trở thành lực lượng sản xuất cơ bản và là giai cấp quyết định sự tồn tại xã hội hiện đại và tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.

    Về chính trị: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động tiến hành đấu tranh giành chính quyền, xác lập và bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ cho nhân dân.

    Về văn hóa tư tưởng: giai cấp công nhân đấu tranh với hệ tư tưởng phi vô sản, xác lập địa vị thống trị của hệ tư tưởng giai cấp công nhân xây dựng nền văn hóa và con người mới XHCN.

    Xét một cách tổng quát: Địa vị kinh tế xã hội khách quan của giai cấp công nhân chỉ ra rằng giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới CNTB. V.I.Lênin: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do những điều kiện khách quan quy định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động” 8 . Và, với tính chất như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    Sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo XH xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cụ thể: về kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Đặc điểm chính trị – xã hội của giai cấp công nhân, này tạo khả năng để giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình: giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, C.Mác: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” 9 . Giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỷ luật cao; giai cấp công nhân có bản chất quốc tế.

    Từ sự phân tích địa vị kinh tế – xã hội, đặc điểm chính trị – xã hội của giai cấp và tầng lớp trung gian có thể kết luận: chỉ duy nhất giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, từng bước xây dựng CNXH, CSCN trên phạm vi toàn thế giới.

    Đảng Cộng sản là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân – nhân tố chủ quan cơ bản nhất để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đầu tiên đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. Vì: Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản là tổ chức bao gồm những phần tử tiên tiến, ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng Cộng sản đại biểu một cách triệt để và trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

    Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được thể hiện qua việc thực hiện các nhiệm vụ: Đảng Cộng sản vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phân tích đúng đắn tình hình cụ thể đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối chiến lược, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của quá trình cách mạng cũng như của từng giai đoạn cách mạng (giành chính quyền, xây dựng CNXH…) trong từng nước cũng như trên toàn thế giới. Đảng Cộng sản tuyên truyền đường lối, giáo dục, thuyết phục giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động thực hiện thắng lợi đường lối đã đề ra. Đảng Cộng sản tổ chức, chỉ huy toàn bộ quá trình cách mạng cũng như từng giai đoạn cách mạng: tập hợp lực lượng, bố trí cán bộ, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh; Mọi cán bộ, đảng viên ca Đảng Cộng sản gương mẫu thực hiện và thực hiện đường lối đã đề ra.

    Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được thể hiện thông qua việc thực hiện hai giai đoạn cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN.

    Trước hết giai cấp công nhân Việt Nam thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản đã lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính nhân dân, “phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.

    Sau đó phải chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN: giai cấp công nhân từng bước lãnh đạo nhân dân lao động xây dựng CNXH – chế độ xã hội không có người bóc lột người, “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

    Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng XH to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh có tính chất công nghiệp” 10 .

    Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” 11 .

    Để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân cũng như mỗi người công nhân cần thường xuyên phấn đấu vươn lên, trưởng thành về các mặt: tư tưởng, chính trị, lập trường giai cấp, văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay nghề… cần tập trung:

    Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

    Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bồi dưỡng ý thức chính trị, ý thức pháp luật, từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân;

    Thực hiện tốt chính sách, pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân gắn với tăng năng suất lao động;

    Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy trong xây dựng giai cấp công nhân;

    Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong xây dựng giai cấp công nhân

    Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế.Quán triệt quan điểm và mục tiêu, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Được Thể Hiện Ở Những Điểm Chủ Yếu Nào?
  • Bản Chất Giai Cấp Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Giữ Vững Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Nhà Nước Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Bản Chất Của Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Sự Hình Thành Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Năm Xu Hướng Biến Động Của Giai Cấp Công Nhân Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Mot So Dinh Nghia Ve Giai Cap Congmotsodinhnghiavegiaicapcongnhan Doc
  • Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân
  • – Nhà nước là một sản phẩm tất yếu của một xã hội có giai cấp, nó bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, ko có một nhà nước nào phi giai cấp, ko có nhà nước đứng trên giai cấp

    – Nhà nước VN mới theo quan điểm của HCM là một nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, vì

    + Một là, Nhà nước do ĐCS lãnh đạo, điều này được thể hiện

    * ĐCSVN lãnh đạo nhà nước giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân. HCM vẫn nhấn mạnh nòng cốt của nhân dân là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức do giai cấp công nhân mà đôi tiên phong của nó là ĐCSVN lãnh đạo

    * Đ lãnh đạo nhà nước bằng phương thức hợp, Đó là:

    (+) Đ lãnh đạo bằng đường lối quan điểm, chủ trương để nhà nước thể chể hoá thành pháp luật, chính sách, kế hoạch

    (+) Đ lãnh đạo nhà nước bằng hoạt động của các tổ chức Đ và Đ viên của mình trong bộ máy, cơ quan nhà nước

    (+) Đ lãnh đạo bằng công tác kiểm tra

    + Hai là, bản chất giai cấp của nhà nước ta thể hiện ở tính định hướng CNXH của sự phát triển đất nước

    + Ba là, bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ

    b. Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc của nhà nước

    – Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của rất nhiều thế hệ người VN. Cuối thế kỷ 19 đầu thể kỷ 20, dân tộc VN rơi vào khủng hoảng đường lối cách mạng. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống thực dân P của dân tộc ta mặc dù rất oanh liệt nhưng độc lập, tự do cho dân tộc vẫn chưa trở thành hiên thực. Từ đầu năm 1930 khi Đ ra đời đã lãnh đạo thắng lợi các cuộc đấu tranh giành chính quyền lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở đông nam châu Á

    – Tính thống nhất còn biểu hiện ở chỗ nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân lấy lợi ích của dân làm cơ bản. Bản chất của vấn đề này ở chỗ, HCM khẳng định lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc là một

    -Trong thực tế, nhà nước ta đã đứng ra làm nhiệm vụ của cả dân tộc giao phó, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập, tụ do của tổ quốc, xây dựng một nước VN hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tích cực vào sự tiến bộ của thể giới

    Nhận xét

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Và Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Chủ Nghĩ Xã Hội Khoa Học
  • Trac Nghiem Chu Nghia Xa Hoi Khoa Hoc
  • Kinh Nghiệm Thực Tiễn Về Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Chuong 2 75 Tiet Tccn
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì? Phân Tích

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực: Động Não Viết Và Công Khai
  • Định Nghĩa Của Động Não Là Gì? (Cho Nhóm & Cá Nhân)
  • Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề
  • Phương Pháo Công Não (Alex.osborn 1908)
  • Bệnh Viêm Màng Não: Khái Niệm, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Điều Trị Và Cách Phòng Ngừa
  • Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định.

    Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số lượng người vô sản mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản hiện đại.

    Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại gắn liền với sự phát triển của nền đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.

    Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp cơ bản, chủ yếu đối lập với giai cấp tư sản là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị thặng dư. Họ là người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động tuỳ theo cung – cầu hàng hoá sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng hoá về vật chất và tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc vào cung – cầu hàng hoá sức lao động, phụ thuộc vào kết quả sức lao động của chính họ. Họ phải tạo ra giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại giai cấp tư sản chiếm đoạt.

    Dứơi chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “g iai cáp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình để sống “.

    Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm nhưng công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ là hai tiêu chí cơ bản để xác định phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác.

    Một là, về phương thức lao động, phưong thức sản xuất, đó là người lao động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá ngày càng cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân.

    Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:

    + Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản.

    + Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hoá. Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra làm nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau:

    Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuấtcó tính chất xã hội hoá ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.

    2 Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản,giai cấp công nhân chỉ có thể thoát khỏi ách áp bức bóc lột bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hưũ về tư liệu sản xuất. Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại.

    Ph. Ăngghen viết: “thự hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

    3 Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    Trong các tác phẩm ” tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C. Mác, Ph. Ăngghen viết: “sự phát triển của nền đại công nghiệp đã phá sập dưới chân của giai cấp tư sản, chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã xây dựng lên chế độ sản xuất và chiếm hữu của nó. Trước hết, giai cấp tư sản tạo ra những người đào huyệt tự chôn nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế – xã hội khách quan của nó quy định:

    -Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân ra đời và từng bước phát triển. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hoá ngày càng cao. Đây là giai cấp tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định sự phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay.

    – Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống. Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động. Một khi sức lao động đã trở thành hàng hoá, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử thách, mọi may rủi của canhj tranh; số phận của nó phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hoá sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hoá cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hoà trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất chống chế độ lại áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó. Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác chống chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc.

    Vì vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: ” Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của nền đại công nghiệp”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mạch Khuếch Đại Công Suất Class D Có Những Ưu Điểm Gì?
  • Bài 1: Các Khái Niệm Cơ Bản Về Mạch Khuếch Đại Thuật Toán
  • Chương 9: Mạch Khuếch Đại Công Suất
  • Bài 8 : Mạch Khuyếch Đại
  • Cách Xác Định Loại Hình Doanh Nghiệp Theo Quy Định
  • 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Giữ Vững Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Bản Chất Giai Cấp Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Được Thể Hiện Ở Những Điểm Chủ Yếu Nào?
  • 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Khái Niệm Đa Dạng Sinh Học, Khái Niệm Nhân Lực, Khái Niệm Nhân Hóa, Khái Niệm Hôn Nhân, Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản , Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Sgk, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Bình Đẳng Giới, Bài 4 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, 1 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Sbt, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Lớp 8, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 3 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nhân Nghĩa, Khái Niệm Bảo Hiểm Nhân Thọ, Khái Niệm Nguồn Nhân Lực, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Hôn Nhân Gdcd 9, Khái Niệm Nào Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất, Toán 8 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Toán 8 Bài Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Violet, Soạn Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Toán 8 Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Vnen, Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Vnen, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Violet, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, 2 Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 2. Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, Toán Hình 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Violet, Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm Công Ty Cổ Phần, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, 7 Khái Niệm Công Dân Toàn Cầu, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Tổng Công Ty 90 91, Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Bien Ban Niem Yet Cong Khai Tai San, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Biên Bản Kết Thuc Niêm Yết Công Khai Cấp Gcn – Qsd Đât, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Sản Thu Nhập, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Tờ Khai Đăng Ký Người Phụ Thuộc Của Cá Nhân Có Thu Nhập Từ Tiền Lương, Tiền Công, Bien Ban Hop Niem Yet Ve Viec Cong Khai Tai San Thu Nhap , Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai Danh Sách, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chúng Ta, Khái Niệm Nhà Máy Nhà Máy Là Cơ Sở Sản Xuất Công Nghiệp, Ve Viec Niem Yet Thong Bao Cong Khai Van Ban Phan Chuia Data, Khái Niệm Thế Nào Là Nơi Công Cộng, Khái Niệm Y Tế Công Cộng, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Tờ Khai Yêu Cầu Cấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Nhãn Hiệu, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Mẫu Giải Trình Chậm Nộp Tờ Khai Thuếết Nập Đảng, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Giai Đoạn Cuộc Cách Mạng 4.0, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Mẫu Công Văn Giải Trình Kê Khai Sai, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Bài Diễn Văn Kỷ Niệm 90 Năm Ngày Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bản Đăng Ký Xây Dựng Phong Cách Người Công An Nhân Dân Bản Lĩnh Nhân Văn Vì Nhân Dân Phục Vụ, Tờ Khai Đăng Ký Nhãn Hiệu, Mẫu Tờ Khai Đăng Ký Nhãn Hiệu, Mẫu Tờ Khai Sửa Đổi Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu,

    2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Khái Niệm Đa Dạng Sinh Học, Khái Niệm Nhân Lực, Khái Niệm Nhân Hóa, Khái Niệm Hôn Nhân, Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản , Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Sgk, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Bình Đẳng Giới, Bài 4 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, 1 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Sbt, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Lớp 8, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, 3 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nhân Nghĩa, Khái Niệm Bảo Hiểm Nhân Thọ, Khái Niệm Nguồn Nhân Lực, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Nhân Cách, Khái Niệm Hôn Nhân Gdcd 9, Khái Niệm Nào Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất, Toán 8 Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Toán 8 Bài Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Violet, Soạn Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Toán 8 Khái Niệm Tam Giác Đồng Dạng, Bài 4 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng Vnen, Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Vnen, Khái Niệm 2 Tam Giác Đồng Dạng Violet, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân,

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Giai Cấp Công Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân
  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Luật Doanh Nghiệp Được Sửa Đổi, Định Nghĩa Lại Về Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Lại Sửa Khái Niệm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Thuyết Về Chính Đảng Kiểu Mới Của Giai Cấp Công Nhân Của V.i.lênin
  • Khái Niệm Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Luận Văn Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Tài Liệu Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giai Cấp Công Nhân, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Hãy Giải Thích Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Bài Văn Mẫu Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Đề Bài Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Hãy Giải Thích ý Nghĩa Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Em Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Giai Đoạn Cuộc Cách Mạng 4.0, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mẫu Đơn Xin Đi Nghĩa Vụ Công An Nhân Dân , Dong Chi Hay Phan Tich Cac Giai Doan Phat Trien Chu Nghia Cong San Nhu The Nao, Định Nghĩa Hôn Nhân, Định Nghĩa Pháp Nhân, Định Nghĩa Danh Nhân, Định Nghĩa Bảo Hiểm Nhân Thọ, Định Nghĩa Phép Nhân, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Trong Cách Mạng Công Nghệ 4.0, Hồ Sơ Công Nhận Cán Bộ Tiền Khởi Nghĩa, Chủ Nghĩa Mác Và Phong Trào Công Nhân, ý Nghĩa Điều Lệnh Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Du Lịch Của Trần Nhạn, Phân Tích ý Nghĩa Sáu Điều Bác Hồ Dạy Công An Nhân Dân, Quy Định Nghĩa Vụ Công An, Định Nghĩa Công Cơ Học, Định Nghĩa Công, Bản Kiểm Điểm Cuối Năm Chiến Sĩ Nghĩa Vụ Trong Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Công Suất, Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Công Suất Điện, Nhận Định Nào Sau Đây Phản ánh ý Nghĩa Lịch Sử Của Cuộc Kháng Chiến Chống , Nhận Định Nào Sau Đây Về Thời Cơ Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám Không Đúng, Xu Thế Biến Đổi Của Giai Câp Công Nhân, Định Nghĩa Nơi Công Cộng, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Bài Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân, Nghị Quyết Số 20 Về Giai Cấp Công Nhân, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Công Nghệ Thông Tin, Định Nghĩa Công Trong Trường Hợp Tổng Quát, Cơ Cấu Xã Hội Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp Tầng Lớp Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Đảng Lãnh Đạo Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Độc Lập Dan Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội Giai Đoạn 19, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Thong Tu Quy Dinh Ve Nhan Xet Dánh Giá Xep Loai Cán Bộ Trong Công An Nhân Dân, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Giai Cấp Công Nhân Phát Huy Sức Mạnh Toàn Dân Tộc, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Ngày Nay, Học Thuyết Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Thong Tu So 30.2019 Ngay 05/9/2019 Bo Cong An Quy Dinh Ve Nhan Xet Danh Gia Can Bo Cong An Nhan Dan, Quyết Định 1319 Năm 2021 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Quyết Định 1319 Năm 2021 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Hãy Phân Tích Định Nghĩa Của Dự án Thông Qua Một Dự án Công Trình Xây Dựng Cụ Thể, Tiểu Luận Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Tuyển Dụng Nhân Lực, Bài Tiểu Luận Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân, Quyết Định Công Nhận Ban Thanh Tra Nhân Dân, Công Văn Giải Trình Nguyên Nhân Không Có Xuất Tờ Khai, Tiểu Luận Sứ Mệnh Lịch Sử Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Quyết Định Giải Thể Công Ty, Thông Tư Quy Định Về Công Tác Bảo Vệ Bí Mật Nhà Nước Trong Công An Nhân Dân, Bai Tham Luan Ve Cong Tac Tiep Nhận Và Giải Quyết Các Thủ Tục Hành Chính, Quy Định 72 Về Công Tác Đảng Trong Công An Nhân Dân, Giải Pháp Nâng Cao ý Thức Chấp Hành Điều Lệnh Công An Nhân Dân, Luận Văn Thạc Sĩ Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Nguồn Nhân L, Quy Định Về Thành Lập, Tổ Chức Lại, Giải Thể Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập, Luận Văn – Đề án ‘Đề Tài “hoạt Động Công Chứng Của Nhân Dân Địa Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp”, Lý Luận Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và ý Nghĩa Trong Việc Hình Thành Cộng Đồng Asean, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Uyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ngh, Uyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ngh, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Quyết Định 2677/qĐ-bqp Phê Duyệt Đề án “Đổi Mới Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tại Đơn Vị Trong Giai Đo, Quyết Định 2677/qĐ-bqp Phê Duyệt Đề án “Đổi Mới Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tại Đơn Vị Trong Giai Đo, Thảo Luận, Nhấn Mạnh, Làm Rõ Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế; Tập Trung Nội Dun, Thảo Luận, Nhấn Mạnh, Làm Rõ Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế; Tập Trung Nội Dun, Công Văn Chỉ Định Nhân Sự, Quy Định 72 Cua Bch Tw Về Công An Nhan Dan, Định Mức Nhân Công, Hồ Sơ Công Nhận Gia Đình Văn Hóa, Tiểu Luận Những Điều Kiện Quy Định Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhâ, Thông Tư Xác Định Đơn Giá Nhân Công, Hoạch Định Nhân Lực Tại Công Ty, Định Biên Nhân Sự Công Ty, Quyết Định Sa Thải Công Nhân, Hoạch Định Nguồn Nhân Lực Của Các Công Ty It, Hoạch Định Nguồn Nhân Lực Của Công Ty Fpt,

    Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giai Cấp Công Nhân, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Quy Định Về Quản Lý, Điều Trị, Chăm Sóc, Giải Quyết Chính Sách Đối Với Quân Nhân, Công Nhân Viên Chứ, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Hãy Giải Thích Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Bài Văn Mẫu Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Đề Bài Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Hãy Giải Thích ý Nghĩa Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Em Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Thất Bại Là Mẹ Thành Công, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Giai Đoạn Cuộc Cách Mạng 4.0, Tại Sao Phải Liên Minh Giai Cấp Công Nhân, Giai Cấp Nông Dân Và Đội Ngũ Trí Thức Trong Thời Kỳ Quá Đ, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mẫu Đơn Xin Đi Nghĩa Vụ Công An Nhân Dân , Dong Chi Hay Phan Tich Cac Giai Doan Phat Trien Chu Nghia Cong San Nhu The Nao, Định Nghĩa Hôn Nhân, Định Nghĩa Pháp Nhân, Định Nghĩa Danh Nhân, Định Nghĩa Bảo Hiểm Nhân Thọ, Định Nghĩa Phép Nhân, Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Trong Cách Mạng Công Nghệ 4.0, Hồ Sơ Công Nhận Cán Bộ Tiền Khởi Nghĩa, Chủ Nghĩa Mác Và Phong Trào Công Nhân, ý Nghĩa Điều Lệnh Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Du Lịch Của Trần Nhạn, Phân Tích ý Nghĩa Sáu Điều Bác Hồ Dạy Công An Nhân Dân, Quy Định Nghĩa Vụ Công An, Định Nghĩa Công Cơ Học, Định Nghĩa Công, Bản Kiểm Điểm Cuối Năm Chiến Sĩ Nghĩa Vụ Trong Công An Nhân Dân, Định Nghĩa Công Suất, Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Công Suất Điện, Nhận Định Nào Sau Đây Phản ánh ý Nghĩa Lịch Sử Của Cuộc Kháng Chiến Chống , Nhận Định Nào Sau Đây Về Thời Cơ Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám Không Đúng, Xu Thế Biến Đổi Của Giai Câp Công Nhân, Định Nghĩa Nơi Công Cộng, Định Nghĩa 7 Công Cụ Quản Lý Chất Lượng, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Bài Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân, Nghị Quyết Số 20 Về Giai Cấp Công Nhân, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Định Nghĩa Nào Xác Đáng Nhất Về Công Nghệ Thông Tin, Định Nghĩa Công Trong Trường Hợp Tổng Quát,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mot So Dinh Nghia Ve Giai Cap Congmotsodinhnghiavegiaicapcongnhan Doc
  • Năm Xu Hướng Biến Động Của Giai Cấp Công Nhân Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Sự Hình Thành Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Về Bản Chất Của Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Nhà Nước Ta
  • Các Khái Niệm Kinh Tế Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Đất Đai
  • Gia Đình Việt Nam: Truyền Thống Và Hiện Đại
  • Khái Niệm Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Thu Nhập Hộ Gia Đình (Household Income) Là Gì? Ưu Điểm Của Thu Nhập Hộ Gia Đình
  • Giáo Án Môn Công Nghệ
  • Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuấttái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữulợi ích.

    Nghĩa rộng của từ này chỉ “toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông” của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian, thường là một năm.

    Là một bộ phận của nền chuyên tạo ra và . Trong nền kinh tế phong kiến, cơ cấu ngành kinh tế còn nghèo nàn, các hoạt động kinh tế ở quy mô nhỏ, manh mún. Ngành kinh tế chủ yếu khi đó là nông nghiệp và . Các ngành kinh tế được đa dạng hóa và hình thành như hiện nay bắt đầu từ những năm 1800 (hơn 2 thế kỷ trước), và kể từ đó liên tục phát triển cho đến ngày nay với sự trợ giúp của tiến bộ . Rất nhiều nước phát triển (như , , ) phụ thuộc sâu sắc vào khu vực sản xuất. Các quốc gia, các nền kinh tế và các ngành công nghiệp của các quốc gia đó đan xen, liên kết, tương tác nhau trong một mạng lưới phức tạp mà không dễ hiểu biết tường tận nếu chỉ nghiên cứu sơ sài.

    Một xu hướng gần đây là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế khi các quốc gia công nghiệp tiến tới xã hội hậu công nghiệp. Điều này thể hiện ở sự tăng trưởng của lĩnh vực trong khi tỷ lệ của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế giảm xuống, và sự phát triển của nền kinh tế thông tin, còn gọi là cuộc cách mạng thông tin. Ở xã hội hậu công nghiệp, lĩnh vực chế tạo được tái cơ cấu, điều chỉnh thông qua quá trình “offshoring” (chuyển dần các giai đoạn sản xuất ít giá trị gia tăng ra nước ngoài).

    Các ngành kinh tế cơ bản

    3/ Khu vực thứ ba chính là khu vực dịch vụ: giao thông, tài chính, ăn uống, du lịch, giải trí, v.v..

    4/ Khu vực thứ tư – khu vực tri thức: Hiện có xu hướng tách một số ngành trong khu vực dịch vụ gồm giáo dục, nghiên cứu và phát triển, thông tin, tư vấn thành một khu vực riêng.

    Các ngành kinh tế tại Việt Nam

    Chính phủ Việt Nam áp dụng Hệ thống ngành kinh tế theo Quyết định số Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế cụ thể:

    • Nhóm A: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
    • Nhóm B: Khai khoáng.
    • Nhóm C: Công nghiệp chế biến, chế tạo.
    • Nhóm D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí
    • Nhóm E: Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải.
    • Nhóm F: Xây dựng.
    • Nhóm G: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác.
    • Nhóm H: Vận tải kho bãi.
    • Nhóm I: Dịch vụ lưu trú và ăn uống.
    • Nhóm J: Thông tin và truyền thông.
    • Nhóm K: Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm.

    …..

      Nhóm U: Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế.

    Ngành kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam là sản xuất nông nghiệp. Mặc dù tỷ lệ đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP vẫn tiếp tục giảm so với các năm trước (20,9%) nhưng vẫn hơn 60% dân số tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Việt Nam là nước xuất khẩu hạt tiêu đen lớn nhất thế giới và là nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo và cà phê. Những sản phẩm nông nghiệp quan trọng là hạt tiêu, hạt điều, cao su và thủy sản.

    Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh sự tồn tại của các hình thức sở hữu. Hiện nay ở Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh tế trong nước (kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế hỗn hợp) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

    Tổng sản phẩm trong nước

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài làm ra, ở một thời kỳ nhất định, thường là một năm.

    GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trình độ phát triển và mức sống của con người.

    Công thức chung để tính Tổng sản phẩm trong nước GDP là:

    GDP = ( tiêu dùng + đầu tư + xuất khẩu ) – nhập khẩu .

    Tổng thu nhập quốc gia

    Tổng thu nhập quốc gia (GNI) bằng GDP cộng chênh lệch giữa thu nhập nhân tố sản xuất từ nước ngoài với thu nhập nhân tố sản xuất cho nước ngoài, trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.

    GNI lớn hơn hay nhỏ hơn GDP tuỳ thuộc mối quan hệ kinh tế (đầu tư vốn, lao động…) giữa một nước với nhiều nước khác. Nhìn chung, những nước có vốn đầu tư nước ngoài cao thì GNI lớn hơn GDP. Ngược lại, những nước đang tiếp nhận đầu tư nhiều hơn là đầu tư ra nước ngoài sẽ có GDP lớn hơn GNI.

    Trên phạm vi toàn thế giới, GDP tăng nhanh qua các năm (tốc độ tăng trưởng bình quân năm khoảng 3,6%) và đạt tới gần 40,9 nghìn tỉ USD năm 2004, gấp 16 lần năm 1900. Trong đó các nước có nền kinh tế phát triển chiếm 2/3 tổng GDP của toàn cầu.

    GNI và GDP bình quân đầu người

    Để so sánh mức sống của dân cư ở các nước khác nhau, người ta thường dùng các chỉ số GDP và GNI bình quân đầu người. GNI/đầu người và GDP/đầu người được tính bằng GNI và GDP chia cho tổng số dân ở một thời điểm nhất định.

    Chỉ số thu nhập theo đầu người phản ánh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia và được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc sống. d) Cơ cấu ngành trong GDP

    Để đánh giá nền kinh tế của một nước, người ta còn căn cứ vào cơ cấu ngành trong GDP. Số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới (WB) chỉ rõ sự khác nhau về cơ cấu ngành giữa các nhóm nước có trình độ phát triển kinh tế khác nhau. Các nước kinh tế phát triển thường có tỉ trọng dịch vụ rất lớn. Ngược lại, các nước đang phát triển có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp thì phần đóng góp của dịch vụ trong cơ cấu GDP thường từ 20 – 30%.

    Xu thế chung khi chuyển từ một nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tế phát triển là giảm nhanh tỉ trọng nông nghiệp cả trong cơ cấu lao động lẫn cơ cấu GDP, đồng thời tăng tương ứng trong cơ cấu GDP và lao động của khu vực công nghiệp ở giai đoạn đầu và tăng cơ cấu lao động, cơ cấu GDP của khu vực dịch vụ ở giai đoạn sau.

    CHÚ THÍCH TỪ NGỮ:

    GDP: Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội (trong nước)

    GNI: Gross National Income- Tổng thu nhập quốc gia/Tổng thu nhập quốc dân

    Sản xuất Tái sản xuất Trao đổiPhân phốiLưu thôngTiêu thụHàng hóaDịch vụCơ cấu nền kinh tế

    Manh mún Khu vực sản xuấtTường tậnSơ sàiHậu công nghiệpCách mạng thông tinKhai mỏKhai khoángKho bãi

    GDPGNITốc độ tăng trưởngMức sốngĐầu tưVốnBình quân đầu ngườiTỉ trọng

    • Trong xã hội hậu công nghiệp, cơ cấu ngành kinh tế có xu hướng chuyển đổi như thế nào?
    • Theo Cục Đầu tư Nước ngoài, số vốn đăng ký đầu tư vào Việt Nam từ đầu năm tới nay đã lên tới 14,7 tỷ USD, trong khi số vốn các doanh nghiệp VN đầu tư ra nước ngoài là 1,38 tỷ USD. Có thể nhận xét điều gì về GNI và GDP qua 2 con số này?
    • Cho bảng số liệu Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng ở Việt Nam từ năm 1999 đến 2006. Em có nhận xét gì về xuất khẩu hàng hóa ở Việt Nam:
    • Theo đánh giá của em, Việt Nam có thể và nên phát triển mặt hàng nào trong xuất khẩu?
    • Nêu sự khác biệt về tỷ trọng các ngành kinh tế trong cơ cấu ngành của các nước phát triển và đang phát triển.

    Chọn các từ ngữ điền vào chỗ trống:

    cùng kỳ tỷ trọng tốc độ tăng trưởng đầu tư

    vốn dầu thô than đá đạt

    ( Năm 2007) Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã báo cáo: thu hút …………………..vào sản xuất kinh doanh trong 11 tháng qua ………………. mức cao nhất từ trước đến nay. Đặc biệt là đầu tư nước ngoài, tổng số …………………..đạt trên 15 tỷ USD, tăng 38,4% so với ………………., vượt 15% so với dự kiến cả năm. Hoàn thành thắng lợi mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2007, đạt chúng tôi 8,5%. Trong xuất khẩu, ……………….. và ………………….. là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt được mức tăng trưởng cao và tiếp tục chiếm …………………..lớn trong xuất khẩu cả nước trong những năm gần đây, vượt cả chỉ tiêu quy hoạch xuất khẩu.

    Nông nghiệp

    • Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.
    • Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất NN được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi…

    Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản đạt 4 tỷ USD, Việt Nam được đánh giá là nhà xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu…Gạo xuất khẩu đạt 3,9 triệu tấn với kim ngạch 900 triệu USD, tăng gần 23% so với năm 2003; Xuất khẩu hạt điều đạt 100.000 tấn, với kim ngạch 400 triệu USD (mở rộng thị trường sang Mỹ, Trung Quốc, Đông và Bắc Âu). Ngành chế biến gỗ xuất khẩu tăng mạnh nhất trong năm, đạt trên 1 tỷ đồng (chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành nông nghiệp); Cà phê xuất khẩu đạt 900.000 tấn, tăng gần 40%, với kim ngạch tăng gần 30%; Xuất khẩu chè đạt 900.000 tấn, với kim ngạch gần 90 triệu USD, (mức cao nhất từ trước tới nay); Xuất khẩu hồ tiêu đạt hơn 98.000 tấn, trị giá 133,7 triệu USD…

    Tuy nhiên vẫn còn những mặt hạn chế: Các sản phẩm nông nghiệp còn kém về chất lượng làm cho hàng hóa khó đi vào thị trường của các nước phát triển. Việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, sự đa dạng hoá nông nghiệp, phát triển chế biến nông sản…tốc độ chậm. Lao động nông nghiệp tăng ở nông thôn dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, cản trở việc tăng năng suất lao động…

    Mô hình mới đã xuất hiện ở châu thổ sông Hồng: Các làng nghề đã phát triển thành “cụm công nghiệp”, vượt ra khỏi giới hạn làng trở thành các trung tâm năng động, biến những người nông dân thành các doanh nhân, chủ các xí nghiệp nhỏ, vừa và hiện đại, như: đồ gỗ Đồng Kỵ, sứ Bát tràng, lơn nạc Nam Sách, rau Gia Lộc, cây cảnh Mễ Sở, rau hoa Mê Linh-Đông Anh…

    Công nghiệp

    Công nghiệp, là một bộ phận của nền , là lĩnh vực vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ , và .

    Ở một số quốc gia như Việt Nam và Nhật Bản, công nghiệp bao gồm:

    • Khai thác khoáng sản, than, đá và dầu khí
    • Chế biến, chế tạo (kể cả chế biến thực phẩm, gỗ)
    • Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước.

    Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là “hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa”. Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v.v..

    Bởi hoạt động công nghiệp là vô cùng đa dạng, có rất nhiều cách phân loại công nghiệp:

    • Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng, v.v..
    • Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương.

    Công nghiệp nặng là lĩnh vực công nghiệp sử dụng nhiều , đối ngược với công nghiệp nhẹ là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Công nghiệp nặng không dễ dàng tái phân bố như công nghiệp nhẹ vì nhiều tác động đến và chi phí nhiều hơn. Công nghiệp nặng có thể được hiểu là ngành mà sản phẩm dùng để cung cấp cho các ngành công nghiệp khác. Ví dụ, đầu ra của các xưởng thép, nhà máy hóa chất là đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ hoặc bán buôn khác nhiều hơn là bán lẻ đến tay người tiêu dùng.

    Công nghiệp nhẹ là ngành công nghiệp ít tập trung hơn công nghiệp nặng, và thiên về cung cấp tiêu dùng hơn là phục vụ các doanh nghiệp (có nghĩa là sản phẩm được sản xuất cho người tiêu dùng cuối cùng hơn là sản xuất để làm đầu vào cho một quá trình sản xuất khác). Các cơ sở công nghiệp nhẹ thường ít gây tác động môi trường hơn công nghiệp nặng và vì thế chúng có thể được bố trí gần khu dân cư.

    Một số định nghĩa kinh tế đưa ra rằng công nghiệp nhẹ là “hoạt động sản xuất, chế tạo sử dụng một khối lượng vừa phải nguyên vật liệu đã được chế biến để tạo ra những sản phẩm có giá trị khá cao so với khối lượng của chúng”.

    Ví dụ về các ngành công nghiệp nhẹ như: giầy dép, quần áo, đồ nội thất, thiết bị trong nhà, v.v..

    Dịch vụ

    Dịch vụ, trong , được hiểu là những thứ tương tự như nhưng là phi vật chất. Có nhiều ngành dịch vụ:

    • Cung cấp điện, nước
    • Xây dựng (không kể sản xuất vật liệu xây dựng)
    • Thương mại
    • Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán, …
    • Y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em
    • Giáo dục, thư viện, bảo tàng
    • Du lịch, khách sạn, cho thuê nhà
    • Thông tin, bưu chính, internet
    • Giao thông, vận tải
    • Cung cấp năng lượng (không kể khai thác và sản xuất)
    • Giải trí, thể thao, đánh bạc, dịch vụ tình dục
    • Ăn uống
    • Các dịch vụ chuyên môn (tư vấn, pháp lý, thẩm mỹ, v.v…)
    • Quân sự
    • Cảnh sát
    • Các công việc quản lý nhà nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Kinh Tế Trang Trại
  • Vì Sao Lee Min Ho Không Thể Trở Thành Người Chồng Lý Tưởng?
  • Hộ Gia Đình Là Gì Theo Quy Định Tại Bộ Luật Dân Sự 2021
  • Luận Văn: Phát Triển Kinh Tế Hộ Phi Nông Nghiệp Tại Hà Nội, Hay
  • Kế Hoạch Hóa Gia Đình Là Một Phần Của Quyền Con Người
  • Kinh Doanh Là Gì? Các Khái Niệm Cơ Bản Trong Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Kinh Doanh Và Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Kinh Doanh Khách Sạn Hiện Nay
  • Khái Niệm Kinh Doanh Khách Sạn
  • Hoàn Thiện Khái Niệm Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Bài 2: Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • 1. Các Loại Hình Kinh Doanh

    Có nhiều loại hình kinh doanh khác nhau, nhưng có ba loại chính đó là

    Kinh doanh dịch vụ

    Doanh nghiệp sản xuất

    Doanh nghiệp bán lẻ

    Giao dịch trong nhiều giao dịch

    Trong kinh doanh, việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ là một hoạt động diễn ra thường xuyên. Một sản phẩm / dịch vụ trước khi đến tay người tiêu dùng có thể trải qua nhiều giao dịch khác nhau.

    Lợi nhuận là mục tiêu chính

    Việc kinh doanh được thực hiện với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Lợi nhuận chính là phần thưởng cho các dịch vụ của một doanh nhân.

    Kỹ năng kinh doanh để thành công

    Bất cứ ai muốn trở thành một doanh nhân giỏi đều cần phải có những phẩm chất và kỹ năng kinh doanh tốt để có thể điều hành doanh nghiệp.

    Rủi ro và sự không chắc chắn

    Kinh doanh phải chịu rủi ro và sự không chắc chắn. Một số rủi ro, chẳng hạn như mất mát do hỏa hoạn và trộm cắp có thể được bảo vệ bằng bảo hiểm. Cũng có những điều không hắc chắn, chẳng hạn như mất mát do thay đổi nhu cầu hoặc thị trường mất giá…

    Người mua và người bán

    Mỗi giao dịch kinh doanh đều có tổi thiếu một bên mua và một bên bán.

    Kết nối với sản xuất

    Hoạt động kinh doanh có thể được kết nối với sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ. Trong trường hợp này, nó được gọi là hoạt động công nghiệp. Các ngành công nghiệp có thể là chính hoặc phụ.

    Ưu đãi về hàng hóa và dịch vụ

    Trong kinh doanh phải có giao dịch về hàng hóa và dịch vụ. Hàng hóa có thể chia thành 2 loại sau:

    Hàng tiêu dùng: Hàng hóa được sử dụng bởi người tiêu dùng cuối cùng để tiêu dùng được gọi là hàng tiêu dùng, ví dụ TV, Xà phòng, v.v.

    Hàng hóa sản xuất: Hàng hóa được sử dụng bởi nhà sản xuất để sản xuất ra hàng hóa khác như máy móc, thiết bị, vv

    Đáp ứng mong muốn của con người

    Doanh nhân là người đáp ứng mong muốn thỏa mãn mong muốn của con người thông qua việc tiến hành kinh doanh. Bằng cách sản xuất và cung cấp các mặt hàng khác nhau, các doanh nhân cố gắng thúc đẩy sự hài lòng của người tiêu dùng.

    Nghĩa vụ xã hội

    Doanh nhân hiện đại có ý thức về trách nhiệm xã hội của họ. Kinh doanh ngày nay là định hướng dịch vụ hơn là định hướng lợi nhuận.

    Dịch vụ tài chính

    Bao gồm các ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, v.v. thu lợi nhuận thông qua việc đầu tư và quản lý nguồn vốn.

    Thông tin

    Lợi nhuận thu được thông qua bán lại các quyền sở hữu trí tuệ

    Kinh doanh vận tải

    Thu lợi nhuận thông qua phí vận chuyển hàng hóa từ nơi này sang nơi khác

    Dịch vụ công cộng

    Ví dụ như ngành điện, xử lý chất thải, nước sinh hoạt thường được đặt dưới sự quản lý của chính phủ

    Sản xuất

    Sản xuất hàng hóa từ các nguyên liệu thô hoặc các chi tiết cấu thành, sau đó bán đi thu lợi nhuận.

    Bán lẻ và phân phối

    Hoạt động như một trung gian giữa nhà sản xuất và khách hàng, thu lợi nhuận qua dịch vụ bán lẻ và phân phối hàng hóa/ dịch vụ.

    Kinh doanh bất động sản

    Thu lợi từ việc bán, cho thuê, phát triển các tài sản bao gồm đất, nhà ở gắn liền với đất, và các loại công trình khác.

    Kinh doanh dịch vụ

    Cung cấp các dịch vụ và hàng hóa vô hình, thu lợi bằng cách tính giá sức lao động hoặc các dịch vụ đã cung cấp cho chính phủ, các lĩnh vực kinh doanh khác hoặc khách hàng như trang trí nội thất, làm đẹp, tạo mẫu tóc, trang điểm, thẩm mỹ, giặt là, kiểm soát dịch bệnh, côn trùng..

    4. Các Lĩnh Vực Chính Trong Kinh Doanh

    Quản trị: quản trị nhân lực, máy móc, hiệu suất công việc, lên kế hoạch phát triển, chiến lược kinh doanh trong tầm nhìn gần và xa.

    Tiếp thị: các hoạt động nhằm đưa thông tin về sản phẩm/dịch vụ tới người tiêu dùng. Mục đích nhằm thúc đẩy doanh thu, tăng lợi nhuận.

    Tài chính: Các vấn đề về ngân sách, xây dựng chiến lược để dùng tiền tạo ra doanh thu ở mức cao nhất.

    Kế toán: Hoạt động thu chi, kiểm soát dòng tiền ra vào chính xác, cụ thể để giúp doanh nghiệp phát triển vững chắc, tránh tình trạng thất thoát. Đây cũng là cách để các công ty điều chỉnh hướng đi, giúp việc phát triển doanh nghiệp đảm bảo có lãi, tránh lỗ vốn, phá sản.

    Sản xuất: khâu nghiên cứu, tìm các các ưu thế đặc biệt và sản xuất sản phẩm sao cho chất lượng, có lợi cho sức khỏe, được người dùng đón nhận. Có thể nói đây là “linh hồn” của quá trình kinh doanh. Nếu không có sản phẩm/dịch vụ tốt, các hạng mục kể trên đều trở nên vô nghĩa.

    Bán hàng: hoạt động kích cầu, các chiến lược cụ thể, trực tiếp để tăng doanh thu, đem về nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    5.Những Yếu Tố Cần Lưu Tâm Để Kinh Doanh Thành Công

    Mong rằng với các chia sẻ vừa rồi, bạn sẽ hiểu kinh doanh là gì và có định hướng đúng đắn hơn cho con đường sự nghiệp của mình. Tìm hiểu về kinh doanh không phải là chuyện đơn giản ngày một ngày hai có thể hoàn thiện.

    Có thể nói rằng, lĩnh vực này vô cùng khó, có sự cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên, cái gì cũng có giá của nó. Ngược lại khi biết tận dụng các chiến lược kinh doanh hiệu quả, bạn có thể thu lợi nhuận lớn, phất lên nhanh chóng.

    Hãy tiến hành tìm hiểu tường tận các kiến thức từ cơ bản đến báo cáo kết quả kinh doanh là gì. Muốn phát triển và lớn mạnh hơn nữa, trước tiên bạn cần đi từ nền tảng.

    Đây là lưu ý đầu tiên bạn không nên bỏ qua khi muốn bắt đầu kinh doanh và tránh tối đa các rủi ro.

    Khá nhiều người phân vân không biết học quản trị kinh doanh khó xin việc hay không. Thực tế vẫn có không ít cử nhân kinh tế, nhất là chuyên ngành kế toán đang lao đao vì không tìm được chỗ đứng như mong đợi.

    Tuy nhiên, đừng bi quan nhìn vào điều này. Bởi thực tế cơ hội kinh doanh nhỏ lãi lớn vẫn rất nhiều. Để có thể trở thành người thành công trong lĩnh vực kinh doanh, bạn nên lưu ý những điều sau:

    Thứ hai, chọn sản phẩm/dịch vụ mà bạn cảm thấy yêu thích để bắt đầu. Niềm đam mê sẽ cho bạn sự kiên trì.

    Thứ ba, hãy chắc chắn sản phẩm/dịch vụ bạn chọn thật sự tốt và khác biệt. Chỉ có khi thực sự sở hữu thế mạnh mới giúp bạn sớm thành công, tránh xa nhiều khó khăn, cản trở phía trước.

    Thứ tư, đừng quên xây dựng chiến lược kinh doanh cụ thể, bài bản ngay từ bước đầu và tuân thủ chặt chẽ đúng lộ trình đã đề ra.

    Ngọc Mai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Doanh Là Gì? Những Khái Niệm Căn Bản Cập Nhật
  • Chương I. §1. Khái Niệm Về Khối Đa Diện
  • Khái Niệm Khoa Học Công Nghệ Là Gì Và Vai Trò Trong Đời Sống?
  • Khái Niệm Kinh Tế Hàng Hoá, Kinh Tế Thị Trường
  • Đổi Mới Khái Niệm “kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”?
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì? Phân Tích Những Điều Kiện Khách Quan Quy Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân.

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề 7: Giai Cấp Công Nhân
  • Dạy Trẻ Các Khái Niệm Về Góc, Hình Chữ Nhật Toán Lớp 3
  • Cách Tính Diện Tích Hình Chữ Nhật, Công Thức Chu Vi Hình Chữ Nhật, Có
  • Công Thức Tính Chu Vi Và Diện Tích Hình Chữ Nhật Lớp 3
  • Toán Lớp 5 Trang 108: Hình Hộp Chữ Nhật. Hình Lập Phương
  • Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định.

    Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số lượng người vô sản mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản hiện đại.

    Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại gắn liền với sự phát triển của nền đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.

    Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp cơ bản, chủ yếu đối lập với giai cấp tư sản là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị thặng dư. Họ là người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động tuỳ theo cung – cầu hàng hoá sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng hoá về vật chất và tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc vào cung – cầu hàng hoá sức lao động, phụ thuộc vào kết quả sức lao động của chính họ. Họ phải tạo ra giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại giai cấp tư sản chiếm đoạt.

    Dứơi chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “g iai cáp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình để sống “.

    Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm nhưng công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ là hai tiêu chí cơ bản để xác định phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác.

    Một là, về phương thức lao động, phưong thức sản xuất, đó là người lao động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá ngày càng cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân.

    Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:

    + Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản.

    + Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hoá. Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra làm nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau:

    Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuấtcó tính chất xã hội hoá ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.

    2 Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản,giai cấp công nhân chỉ có thể thoát khỏi ách áp bức bóc lột bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hưũ về tư liệu sản xuất. Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại.

    Ph. Ăngghen viết: “thự hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

    3 Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    Trong các tác phẩm ” tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C. Mác, Ph. Ăngghen viết: “sự phát triển của nền đại công nghiệp đã phá sập dưới chân của giai cấp tư sản, chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã xây dựng lên chế độ sản xuất và chiếm hữu của nó. Trước hết, giai cấp tư sản tạo ra những người đào huyệt tự chôn nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế – xã hội khách quan của nó quy định:

    -Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân ra đời và từng bước phát triển. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hoá ngày càng cao. Đây là giai cấp tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định sự phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay.

    – Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống. Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động. Một khi sức lao động đã trở thành hàng hoá, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử thách, mọi may rủi của canhj tranh; số phận của nó phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hoá sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hoá cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hoà trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất chống chế độ lại áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó. Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác chống chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc.

    Vì vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: ” Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của nền đại công nghiệp”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Trong Điều Lệ Đảng
  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi
  • Một Số Vấn Đề Về Giai Cấp Công Nhân Và Chủ Nghĩa Xã Hội Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì?
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Được Thể Hiện Ở Những Điểm Chủ Yếu Nào?
  • Khái Niệm Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Luận Văn Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Tài Liệu Phân Tích Khái Niệm Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
  • Quan Điểm Của Lê Nin Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Và Tổ Chức Công Đoàn
  • Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Mác
  • Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định.

    Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số lượng người vô sản mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản hiện đại.

    Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại gắn liền với sự phát triển của nền đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.

    Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp cơ bản, chủ yếu đối lập với giai cấp tư sản là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị thặng dư. Họ là người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động tuỳ theo cung – cầu hàng hoá sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng hoá về vật chất và tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc vào cung – cầu hàng hoá sức lao động, phụ thuộc vào kết quả sức lao động của chính họ. Họ phải tạo ra giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại giai cấp tư sản chiếm đoạt.

    Dứơi chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “g iai cáp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình để sống “.

    Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm nhưng công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ là hai tiêu chí cơ bản để xác định phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác.

    Một là, về phương thức lao động, phưong thức sản xuất, đó là người lao động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá ngày càng cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân.

    Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:

    + Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản.

    + Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hoá. Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra làm nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau:

    Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuấtcó tính chất xã hội hoá ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.

      Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản,giai cấp công nhân chỉ có thể thoát khỏi ách áp bức bóc lột bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hưũ về tư liệu sản xuất. Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại.

    Ph. Ăngghen viết: “thự hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

      Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    Trong các tác phẩm ” tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C. Mác, Ph. Ăngghen viết: “sự phát triển của nền đại công nghiệp đã phá sập dưới chân của giai cấp tư sản, chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã xây dựng lên chế độ sản xuất và chiếm hữu của nó. Trước hết, giai cấp tư sản tạo ra những người đào huyệt tự chôn nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế – xã hội khách quan của nó quy định:

    -Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân ra đời và từng bước phát triển. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hoá ngày càng cao. Đây là giai cấp tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định sự phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay.

    – Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống. Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động. Một khi sức lao động đã trở thành hàng hoá, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử thách, mọi may rủi của canhj tranh; số phận của nó phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hoá sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hoá cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hoà trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất chống chế độ lại áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó. Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác chống chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc.

    Vì vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: ” Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của nền đại công nghiệp”.

    Khái niệm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Thuyết Về Chính Đảng Kiểu Mới Của Giai Cấp Công Nhân Của V.i.lênin
  • Định Nghĩa Giai Cấp Công Nhân
  • Mot So Dinh Nghia Ve Giai Cap Congmotsodinhnghiavegiaicapcongnhan Doc
  • Năm Xu Hướng Biến Động Của Giai Cấp Công Nhân Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Sự Hình Thành Của Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100