Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học
  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như­ ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau như­ chúng ta thấy hiện nay. Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được. Văn hoá của các dân tộc có những nét chung giống nhau (thí dụ như­ đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ­ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại.

    Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị – xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như­ trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc (nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong lịch sử). Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc nhưng sống phân tán ở những quốc gia khác nhau. Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ phát triển. Đã có tình hình nhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào nhau hoặc đồng hoá, thôn tính lẫn nhau. Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà nước để bảo vệ lãnh thổ của mình. Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành ý thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước. Bản thân nhà nước, đến l­ượt nó, lại có tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới của mình. Bộ máy nhà nước trung ­ương tập quyền của nhà Tần ở Trung Quốc chẳng hạn, khi ban hành những pháp luật thống nhất trong cả nước, bắt mọi người cùng viết một kiểu chữ, cùng đi một cỡ xe (th­ư đồng văn, xa đồng quỹ) đã đẩy nhanh sự cố kết của dân tộc Hán ngay từ trước Công nguyên.

    Trước đây, các học giả phương Tây ch­ưa nghiên cứu nhiều về vấn đề dân tộc nói riêng. Các sách báo mácxít cũng dựa chủ yếu vào tình hình của châu Âu mà cho rằng, dân tộc chỉ trở thành dân tộc khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, khi xuất hiện thị trường dân tộc(1). Thực ra, trên thế giới, tính cố kết dân tộc có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân kinh tế, chính trị khác, như­ nhu cầu có những công trình trị thuỷ lớn ở các vùng trồng lúa nước, nhu cầu chống lại sự xâm lược, đô hộ và đồng hoá của ngoại tộc. Việt Nam đã từng bị ngoại tộc đô hộ hơn một nghìn năm mà không bị đồng hoá, sở dĩ như vậy là vì con người (Việt Nam) đã có ý thức về bản sắc của dân tộc mình và nổi dậy chống lại sự đồng hoá ấy. Ý thức về quốc gia – dân tộc đã thể hiện rõ trong hành động lịch sử của Lý Bí khi ông tự x­ưng là Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI, hoặc trong câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư­” thế kỷ thứ XI, trong áng văn bất hủ “Bình Ngô đại cáo” thế kỷ thứ XV. Vậy mà cho đến thế kỷ thứ XX, Việt Nam vẫn ch­ưa đạt đến trình độ một nước tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng là, người Việt Nam đã hình thành nên dân tộc của mình ngay từ thời cổ đại, có thể là ngay từ khi bị ngoại tộc đô hộ mà không sao đồng hoá nổi, chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nước phong kiến độc lập bền vững vào thế kỷ thứ X.

    Có dân tộc hình thành rồi, sau đó mới có ý thức dân tộc. Con người được sinh ra trong cộng đồng, từ cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, ở đây là cộng đồng dân tộc, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người. Đứa trẻ sơ sinh chỉ mới là “con người dự bị”; nó phải tập ăn, tập nói như người, cảm xúc, ứng xử và suy nghĩ như người. Nắm được ngôn ngữ dân tộc – vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là phương tiện nhận thức – đứa trẻ càng nhanh chóng đi vào những khuôn nếp của xã hội, những tục lệ, tín ngưỡng, đạo lý, pháp luật sẵn có của một trình độ văn hoá nhất định. Đến tuổi thành niên, nó mới được xã hội công nhận là một thành viên đủ t­ư cách. Một cách rất tự nhiên, mỗi cá nhân con người đều cảm thấy rất rõ, trong cả thể xác và tâm hồn mình, là người của một dân tộc nhất định. Đó chính là ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc hay là chủ nghĩa dân tộc.

    Như­ vậy, ý thức dân tộc trước hết là ý thức về cội nguồn dân tộc của mỗi con người: mình từ đâu đến? Sau đó là ý thức về quyền dân tộc: quyền làm chủ lãnh thổ (đất nước), làm chủ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc mình. Đó là tinh thần độc lập, tự chủ của mỗi dân tộc. Đó là quyền tự nhiên, mỗi thành viên của dân tộc đều thấy có nghĩa vụ thiêng liêng phải giữ gìn và bảo vệ. Chủ nghĩa dân tộc còn là ý thức về phẩm giá dân tộc. Dân tộc tồn tại và phát triển là thành quả của sức lao động và đấu tranh sáng tạo của nhiều thế hệ tiền bối. Họ đã tạo ra tất cả những giá trị vật chất và tinh thần hợp thành nền văn hoá dân tộc, vừa có bản sắc riêng, vừa là bộ phận hợp thành nền văn hoá chung của nhân loại.

    Song, điều phức tạp của lịch sử là ở chỗ, các tộc người, các dân tộc hình thành và phát triển khi đã có sự phân tầng xã hội thành các giai cấp. Sự xuất hiện giai cấp không làm tan rã cộng đồng dân tộc, mà chỉ chia rẽ con người trong cộng đồng dân tộc, thậm chí đến mức đối kháng. Trong cùng một dân tộc, ý thức dân tộc của mỗi giai cấp lại được chiết quang qua ý thức về lợi ích giai cấp; vì vậy, nó không thể không mang thêm những sắc thái riêng bắt nguồn từ tính giai cấp.

    Việc cải tiến công cụ lao động tuy chậm chạp nhưng liên tục trong xã hội nguyên thủy làm tăng dần năng suất lao động của con người; đến một độ nhất định (thời đại đồ đồng, đồ sắt), sản xuất xã hội đủ sức tạo ra những sản phẩm thặng d­ư. Tiền đề này đã dẫn đến một tất yếu lịch sử là sự hình thành giai cấp và kèm theo nó là sự phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc. Một số người có điều kiện chiếm dụng những sản phẩm thặng dư­ và sống trên lư­ng người khác, trở thành giai cấp ăn bám và thống trị. Đa số người còn lại vẫn buộc phải sản xuất trực tiếp đổ mồ hôi kiếm miếng ăn, đó là những giai cấp bị bóc lột và bị trị, là nhân dân lao động. Đồng thời, cũng chỉ có người nào không buộc phải trực tiếp lao động sản xuất mới có thì giờ rảnh để chuyên làm lao động trí óc, phát triển mọi năng khiếu tinh thần của con người và trở thành những nhà trí thức. Trong xã hội có giai cấp, tầng lớp trí thức phần nhiều xuất thân từ giai cấp thống trị hoặc phụ thuộc vào họ. Tình hình này đ­ưa đến sự lầm lẫn cho rằng, kẻ lao tâm thì trị người và được người nuôi, còn kẻ lao lực thì nuôi người và bị người trị (Mạnh Tử). Thực ra, những thành viên của các giai cấp thống trị trong lịch sử trước đây không phải đều là trí thức hoặc bắt đầu từ chỗ là trí thức. Sở dĩ họ thống trị là vì họ đã nắm được quyền lực, mà cơ sở vật chất của quyền lực là sự chiếm đoạt, chủ yếu bằng bạo lực.

    Sự hình thành các giai cấp và tầng lớp trí thức đánh dấu sự xuất hiện của bất bình đẳng xã hội giữa con người với nhau, xâm hại tính cộng đồng gắn liền với bản chất của con người là một động vật xã hội, có tính xã hội. Trong đấu tranh giai cấp, hiện t­ượng mạnh được yếu thua, cư­ờng quyền át công lý, “cá lớn nuốt cá bé” chẳng qua là biểu hiện của quy luật đấu tranh sinh tồn, của “luật rừng” trong giới sinh vật. Các giai cấp đấu tranh với nhau, song vẫn dựa vào nhau cùng tồn tại: đấu tranh giai cấp không làm tan rã được xã hội. Nó không phủ định bản chất con người đã bắt đầu định hình, mà chỉ ­minh hoạ cho thấy rằng, việc hình thành con người là một quá trình tiến hoá trường kỳ, từ tính động vật đơn thuần đến tính người hoàn thiện hơn, thực sự là con người. Tính động vật hay thú tính là cái nền tảng ban đầu nhưng được cải biến dần dần, còn tính người hay nhân tính thì ngày càng được trau dồi và nâng cao. Sự đối kháng giai cấp không điều hoà, tuy đã biến con người thành “chó sói đối với người”; nhưng cũng chính đấu tranh giai cấp lại là động lực làm cho xã hội tiến hoá đi lên, từ hình thức bóc lột và thống trị tàn nhẫn và thô bạo của chế độ chiếm nô, đến chế độ phong kiến hết sức chuyên chế nhưng đã ít tàn bạo hơn, đến chế độ tư bản bóc lột tinh vi hơn và thống trị một cách “dân chủ”, nghĩa là che đậy hơn. Tính động vật đơn thuần đã từng bước chuyển hoá, mở đường cho tính người được nâng lên dần dần một cách không thể đảo ng­ược được.

    Mặt khác, giai cấp xuất hiện cũng có nghĩa là con người đã làm gia tăng một cách đáng kể năng lực sản xuất và khai thác tự nhiên của mình. Con người đã v­ượt qua được giai đoạn tiền sử – giai đoạn dã man và tiến vào giai đoạn văn minh. Việc lao động trí óc được tách ra thành một dạng hoạt động chuyên biệt là thêm một đòn bẩy hết sức mạnh mẽ để phát triển năng lực nhận thức của con người: năng lực quan sát, chiêm nghiệm, năng lực tư duy, phân tích và tổng hợp, tổng kết, nâng nhận thức từ trình độ cảm ­tính lên trình độ lý tính. Tất cả những điều đó đã xây dựng nên nền văn hoá đặc trưng cho loài người: nền văn hoá dân gian rất phong phú của quần chúng nhân dân và cả một nền văn hoá bác học đồ sộ do những nhà trí thức các thế hệ sáng tạo ra. Sự phát triển tất cả các hình thái ý thức của con người: tư tưởng, các môn khoa học tự nhiên, các môn khoa học xã hội giúp con người không chỉ ngày càng nhận thức được và làm chủ tự nhiên, mà còn vươn lên nhận thức được và làm chủ xã hội và cả bản thân mình. Có thể nói, con người đã và còn tiếp tục sáng tạo ra cả một thế giới mang tính người, được “người hoá”. Thành tựu rực rỡ này làm vinh quang cho con người, đồng thời cũng là điểm tới của một lộ trình vô cùng gian nan và đau khổ, đẫm mồ hôi và máu: cái giá phải trả cho quá trình lịch sử mấy nghìn năm của xã hội có giai cấp.

    Cho đến nay, xã hội loài người vẫn chư­a thoát ra ngoài khuôn khổ của xã hội có giai cấp. Vậy, ý thức giai cấp đã tác động như thế nào tới ý thức cộng đồng, cụ thể ở đây là ý thức dân tộc?

    Nhìn một cách đại thể thì xã hội có giai cấp gồm hai lớp người: lớp trên là những giai cấp bóc lột, thống trị và lớp dưới là những giai cấp lao động, bị trị. Là thành viên của dân tộc, dĩ nhiên các giai cấp lớp trên cũng có ý thức về dân tộc mình, có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Là giai cấp thống trị, nắm bộ máy nhà nước, họ đồng hành với dân tộc mình và hiểu rằng, không có dân thì làm sao có nước. Lợi ích giai cấp của họ thời kỳ đầu nằm trong lợi ích của dân tộc. Vô số những anh hùng dân tộc trong lịch sử là những vua sáng, t­ướng tài, những nhà tư tưởng, nhà văn hoá thuộc thành phần lớp trên. Nhưng khi một triều đại phong kiến nào đó đã suy đồi thì cũng có những ông vua bán nước cầu vinh, “cõng rắn cắn gà nhà” hòng giữ lại lợi ích nhỏ nhen của triều đại mình. Bản thân giai cấp tư­ sản đã từng giương cao ngọn cờ cách mạng dân chủ, làm rung chuyển châu Âu phong kiến các thế kỷ XVII, XVIII. Đại cách mạng Pháp đã đem lại thống nhất, tự do và vinh quang cho dân tộc Pháp. Nhưng từ giữa thế kỷ XIX, chính giai cấp t­ư sản Pháp đã trở thành bảo thủ và phản động; nó đã ký hiệp ư­ớc đầu hàng quân Phổ xâm lược trong khi công nhân và nhân dân lao động Pari ngoan c­ường chống lại (1871). Mặt khác, các giai cấp lớp trên đều là giai cấp thống trị, đều có tham vọng mở rộng sự thống trị của giai cấp mình ra bên ngoài. Trong tư tưởng của họ, ý thức về quốc gia, chủ nghĩa quốc gia luôn lấn át chủ nghĩa dân tộc. Đó là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh xâm lược, chinh phục triền miên trong lịch sử của chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

    Ng­ược lại là những giai cấp lao động ở lớp dưới. Họ không những duy trì được tính người, một động vật biết tạo ra công cụ lao động và lao động bằng công cụ, mà còn phát huy và hoàn thiện tính người với t­ư cách một động vật xã hội, n­ương tựa vào nhau mà sống, có tình thương đồng loại và đạo lý làm người: đó chính là chủ nghĩa nhân đạo. Dĩ nhiên, nhân dân lao động cũng có thể có biểu hiện tư tưởng dân tộc hẹp hòi, vị kỷ, và ở thân phận bị trị có thể nhiều ít nhiễm tư tưởng của giai cấp thống trị; nhưng cùng với sự tiến bộ về dân trí, họ dễ hiểu ra rằng, lợi ích của mọi người lao động là thống nhất: suy ta ra người, vì thương thân nên cũng thương người, vì trọng dân tộc mình nên cũng biết trọng dân tộc khác. Chủ nghĩa dân tộc của họ không đối kháng với các dân tộc khác. Giai cấp vô sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa không vư­ớng chút nào vào tư tưởng tư­ hữu, lại càng có điều kiện vật chất để đi tới tư tưởng chủ nghĩa quốc tế thực sự(2) – hoàn toàn đối lập với mọi dạng chủ nghĩa quốc gia từng có trong lịch sử. V.I.Lênin trước đây đã nhận xét: ” Mỗi nền văn hoá dân tộc đều có những thành phần, thậm chí không phát triển, của một nền văn hoá dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ­ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong mỗi dân tộc, cũng còn có một nền văn hoá tư sản (…) không phải chỉ ở trong tình trạng là những “thành phần” mà là dưới hình thức nền văn hoá thống trị“(3).

    Nh­ư vậy, trong xã hội có giai cấp, chủ nghĩa dân tộc cũng có tính giai cấp. Có chủ nghĩa dân tộc tiến bộ, cách mạng, cũng có chủ nghĩa dân tộc lỗi thời, phản động. Chủ nghĩa dân tộc của các giai cấp lớp trên thay đổi tính chính trị của nó tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, khi giai cấp đó còn vai trò tiến bộ hay đã lỗi thời. Chỉ có chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động là trước sau nh­ư một, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính.

    Ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành bôn ba hải ngoại và hoạt động cách mạng với bút danh Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước năm 1941, Người đã trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đầu năm 1946, Người công khai bày tỏ tâm tư­ của mình: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(4). Năm 1969, 50 ngày trước lúc đi xa, Người đã nhìn lại cả cuộc đời mình khi trả lời một phóng viên: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”(5). Động lực làm nên chí khí và sự nghiệp Hồ Chí Minh chính là điều mà Người đã mạnh dạn gọi là chủ nghĩa dân tộc. Đó là tư tưởng nền tảng, nhất quán trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, nhưng đó là chủ nghĩa dân tộc đã được làm giàu thêm bằng những tinh hoa trong tư tưởng chính trị của loài người: chủ nghĩa dân chủ chủ nghĩa xã hội.

    Hồ Chí Minh đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình và cũng vì tất cả các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động; nó không tách rời mà trái lại, luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Học Thuyết Của Marx: Quan Niệm Duy Vật Lịch Sử
  • Triết Học Là Gì ? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Của Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học ? Từ Đó Xác Định Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Tại Sao Cần Mở Rộng Khái Niệm “độc Lập Dân Tộc”?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Về Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Bài 1: Độc Lập Dân Tộc, Tình Cảm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Chúng Ta Phải Nghiên Cứu Xây Dựng Một Khái Niệm Hoàn Chỉnh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Khái Niệm Về Tinh Thần Dân Tộc
  • Hai Bà Trưng – hai người đầu tiên nổi dậy trong giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc có lẽ cũng là hai người đầu tiên khiến dân tộc buộc phải suy nghĩ một cách sâu sắc về vấn đề độc lập lãnh thổ.

    Chúng ta sẽ không nhắc đến giai đoạn trước đó như Kinh Dương Vương (gắn liền với nhà nước Xích Quỷ), Hùng Vương (nhà nước Văn Lang) hay An Dương Vương (nhà nước Âu Lạc) vì cả 3 nhà nước này đều mang màu sắc huyền thoại, với những gia vị huyền thoại đậm đặc khác nhau.

    Chúng ta cũng không nhắc tới một số cuộc nổi dậy lẻ tẻ thời trước Hai Bà Trưng vì nó không thật sự để lại những dấu ấn đậm nét trong dòng lịch sử.

    Chúng ta nhắc đến Hai Bà Trưng và quãng thời gian hơn 2 năm làm chủ lãnh thổ của Hai Bà vì với cuộc nổi dậy chính thức, quy mô đầu tiên này, dân tộc Việt có quyền tin rằng, mình đủ khả năng giành độc lập lãnh thổ. Chỉ một niềm tin ấy thôi – xác lập một niềm tin ấy thôi, ông cha chúng ta đã phải đi một quãng đường rất xa.

    Nhưng rồi sự độc lập lãnh thổ mà hai vị vua bà giành được chỉ là một sự độc lập chóng vánh. Những sự độc lập chóng vánh như thế tiếp tục diễn ra sau này, gắn liền với những cái tên như Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ…

    Nếu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng xây viên gạch đầu tiên vào ngôi nhà niềm tin thì nền độc lập chóng vánh của chính Hai Bà Trưng và hàng loạt người anh hùng sau đó hoàn toàn có thể tạo ra một nếp nghĩ: Độc lập chóng vánh thì có thể nhưng độc lập lâu dài thì không thể(?). Ở thời điểm đó, nếu quả nhiên tiền nhân mang suy nghĩ đó thì cũng có thể hiểu được.

    Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc.

    Tuy nhiên, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 chứng minh: suy nghĩ đó (nếu có) là một suy nghĩ sai lầm. Sau trận Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương là một giai đoạn độc lập kéo dài ổn định. Câu hỏi lớn với hậu thế: điều kiện tiên quyết nào biến độc lập chóng vánh thành độc lập lâu dài?

    Có lẽ chính Ngô Quyền cũng không trả lời được câu hỏi này. Bởi Ngô Quyền chỉ vừa nằm xuống là đất nước lại tao loạn và giai đoạn tao loạn nội bộ (mà lịch sử vẫn gọi là “loạn 12 sứ quân), nguy cơ nền độc lập non trẻ bị xóa sổ là nguy cơ có thật.

    Rất may thời điểm ấy kẻ thù mạnh nhất của chúng ta là nhà Tống (Trung Quốc) cũng đang phải đối diện với rất nhiều vấn đề của chính họ nên chưa thể động binh. Nhưng những giai đoạn sau này, ở thời nhà Đinh, nhà Lý, nhà Trần, khi kẻ thù của chúng ta mạnh thật sự và muốn “nuốt” nền độc lập non trẻ của chúng ta thì chúng cũng không thể nào “nuốt” nổi. Vì sao vậy?

    Người thích hợp nhất để trả lời câu hỏi này không phải là Lý Thường Kiệt, cho dù Lý Thường Kiệt là vị tướng Việt Nam duy nhất cất quân sang đánh ngược phương Bắc; cũng không phải là Trần Hưng Đạo, cho dù Trần Hưng Đạo đã oanh liệt lãnh đạo quân dân đánh bại cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông.

    Người thích hợp nhất trả lời câu hỏi này là Đinh Bộ Lĩnh. Bởi Đinh Bộ Lĩnh sau khi lên ngôi đã tạo nên một nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên.

    Chính mô hình nhà nước trung ương tập quyền (chứ không phải mô hình hào trưởng phân tán như giai đoạn trước) đã giúp Việt Nam phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, trong cuộc đương đầu với một dân tộc mạnh hơn mình. Khi nào nhà nước tập quyền suy yếu, nền độc lập lại đứng trên bờ vực mong manh, mà 20 năm Minh thuộc là bài học điển hình.

    Như thế, chìa khóa tạo nên những giai đoạn độc lập ổn định chính là mô hình nhà nước tập quyền. Từ việc tin và dám tin vào khả năng xây dựng một lãnh thổ độc lập, đến việc tạo dựng những giai đoạn độc lập chóng vánh và đỉnh cao là chính thức kiến thiết những giai đoạn độc lập ổn định kéo dài, cha ông chúng ta đã đi qua cả ngàn năm lịch sử và nhuộm đỏ dòng sông lịch sử bằng máu của chính mình.

    Độc lập dân tộc – độc lập lãnh thổ do vậy trở thành một cái nhìn xuyên suốt và tất yếu. Độc lập dân tộc – độc lập lãnh thổ, nó là một HẰNG SỐ MÁU!

    Nhưng ngẫm kỹ ra, ở trên đời, có cái gì là hằng số thật không? Có những thứ ở giai đoạn này là hằng số nhưng đến giai đoạn khác lại là biến số. Và phải thấy, trong rất nhiều trường hợp, biến số không phủ nhận sạch trơn mọi giá trị của hằng số mà chỉ mở rộng thêm các giá trị mới, dung nạp thêm những dữ liệu mới để hy vọng đạt tới một hằng số mới, phù hợp nhất với những hệ quy chiếu mới.

    Với một cách nghĩ như thế, có lẽ đã đến lúc phải mở rộng thêm nội hàm khái niệm “độc lập dân tộc”. Đúng là “độc lập dân tộc” trước hết và đầu tiên phải là “độc lập lãnh thổ” nhưng nếu chỉ có mỗi hằng số “độc lập lãnh thổ” thì e rằng “độc lập dân tộc” chưa phải là một khái niệm tối ưu. Hãy thử nhìn lại xem, điều gì đang xảy ra ở dân tộc chúng ta hôm nay?

    Những mối đe dọa về độc lập lãnh thổ còn không? Còn, cho dù tính chất của nó đã khác xa thời phong kiến ngày xưa. Nhưng bên cạnh nỗi đe dọa này, còn có một nỗi đe dọa đáng sợ không kém, đó là sự độc lập mang tính quá khích, tả khuynh ở rất nhiều bộ phận người.

    Sự độc lập quá khích như thế đã tạo ra hàng loạt những tranh cãi, cả trên không gian ảo lẫn ngoài đời thực. Sự độc lập tả khuynh như thế có thể tạo ra những rạn nứt từ bên trong đội ngũ trí thức quốc gia.

    Bây giờ cứ mở Facebook ra coi, bạn sẽ không bất ngờ khi thấy nhóm trí thức này “tấn công”, “hạ bệ” nhóm trí thức kia. Bạn cũng sẽ không bất ngờ nếu thấy nhóm trí thức này khăng khăng cách nghĩ của mình là đúng và bất cứ nhóm trí thức nào khác dám nghĩ khác mình đều là nghĩ sai.

    Trong rất nhiều trường hợp, sau khi đã xác quyết là “nhóm kia” nghĩ sai thì “nhóm này” không ngừng kêu gọi, hô hào những người có chung quan điểm với mình lao vào… thi hành án.

    Rất nhiều lần tôi nghĩ, đấy chỉ là một chiến trường trên Facebook, nơi mà người ta không phải mặt đối mặt với nhau, nên sẵn sàng “chiến” nhau bằng tất cả những ngôn từ kinh khủng nhất.

    Nhưng rồi tôi lại nghĩ, chính nhờ không nhìn thấy mặt nhau nên họ đã “hành xử thật” với nhau và chính nhờ thế, người quan sát lại nhìn thấy những góc rất thật mà dẫu có tiếp xúc với họ hằng ngày, mình cũng không có cơ may nhận thấy.

    Và khi đã nhận thấy cái góc rất thật ấy, một nỗi sợ tức thì xuất hiện: sợ rằng, “sức mạnh ảo” đến một giải đoạn nào đó sẽ dẫn đến “sức mạnh thật” – “tranh đấu thật” – “hậu quả thật”.

    Nhìn lại lịch sử từ cuối thời phong kiến đến nay, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận rằng người Việt đã trải qua nhiều cơ tầng chia rẽ. Sau thời “Trịnh – Nguyễn phân tranh” là thời “Tây Sơn – Nguyễn Ánh” trả thù nhau. Sau thời “Tây Sơn – Nguyễn Ánh” trả thù nhau là thời người Pháp chia đất nước này thành 3 miền.

    Và sau thời người Pháp chia đất nước thành 3 miền lại đến thời chúng ta bị chia đôi, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Phải đến năm 1975, sau rất nhiều nỗ lực, đất nước mới thống nhất, giang sơn mới được thu về.

    Nhưng dù muốn hay không cũng phải thấy, những sự chia rẽ về lãnh thổ, về chế độ, về quan điểm kéo dài hàng trăm năm đã tạo nên những chia rẽ âm ỉ trong tâm hồn người Việt. Và công việc khó khăn nhất của những nhà lãnh đạo dân tộc luôn là: phải làm gì để thực sự hàn gắn lại mọi chia rẽ?

    Thực tế là suốt nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách hàn gắn những chia rẽ này, với bằng chứng là người Việt ở hải ngoại đã trở về đầu tư, làm ăn trong nước ngày một nhiều hơn, từ đó đóng góp nhiều hơn vào giá trị nói chung của nền kinh tế.

    Chắc chắn là chỉ có hàn gắn mọi chia rẽ mới tạo nên sức mạnh đích thực. Và chỉ có sức mạnh đích thực mới có thể phát huy tối đa nội lực của một dân tộc vốn rất nhỏ về địa lý và cũng không thật lớn về các giá trị văn minh.

    Nhưng hàn gắn sự chia rẽ không chỉ là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt là trong thời kỳ bùng nổ quan điểm trên mạng xã hội hiện nay, nó còn là công việc quan trọng của đội ngũ trí thức. Vậy thì đội ngũ trí thức đã ý thức và thực hiện công việc này hiệu quả chưa?

    Lâu nay, người Việt vẫn tự hào với mệnh đề: Cứ khi nào có chiến tranh là mọi người đoàn kết lại! Cần phải nói cho rõ, chiến tranh ở mệnh đề này là chiến tranh “cứng” – chiến tranh quân sự – xâm phạm lãnh thổ.

    Nhưng trong thời điểm này chiến tranh “cứng” không đáng sợ bằng chiến tranh “mềm”, chiến tranh quân sự không đáng sợ bằng chiến tranh chính sách. Thành thử, nếu chỉ đợi chiến tranh cứng – chiến tranh quân sự mới đoàn kết thì rất có thể chúng ta sẽ tự mình đánh mất rất nhiều thứ giá trị của mình.

    Năm 40 sau Công nguyên, với việc đứng dậy phất cờ khởi nghĩa, Hai Bà Trưng cho dân tộc niềm tin vào việc có thể xác lập một sự độc lập lãnh thổ trước một kẻ thù mạnh hơn mình, còn bây giờ một đội ngũ trí thức nào đó có thể cho dân tộc niềm tin là chúng ta đủ sức hàn gắn mọi chia rẽ, đoàn kết với nhau, không chỉ trong những hoàn cảnh chiến tranh?

    Năm 968, với việc chính thức lên ngôi, xây dựng nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên, Đinh Bộ Lĩnh chỉ ra một công thức quan trọng trong việc bảo vệ và xác lập một nền độc lập kéo dài, còn bây giờ, đội ngũ trí thức nào đủ trí tuệ và sự dấn thân để chỉ ra một công thức hữu hiệu hàn gắn mọi chia rẽ, ít nhất là những chia rẽ trong chính đội ngũ trí thức với nhau?

    Độc lập dân tộc trước hết và trên hết, phải gắn liền với độc lập, chủ quyền lãnh thổ. Nhưng trong từng giai đoạn, khái niệm này phải được mở rộng, hoàn chỉnh và trong giai đoạn hiện nay, độc lập dân tộc nhất thiết phải gắn liền với việc hàn gắn chia rẽ, quy tụ lòng người.

    Không ngừng đau đáu, trăn trở với vấn đề này mà chỉ dồn năng lượng vào chuyện tranh cãi, hạ bệ nhau trên mạng ảo, giới trí thức hôm nay sẽ không hoàn thành những nhiệm vụ mà lịch sử giao phó và những thành quả mà tiền nhân để lại cho mình.

    Phan Mỹ Chí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Về Dân Cư, Dân Số Và Dân Số Học
  • Sự Đóng Góp Của Nguyễn Trãi Về Khái Niệm Dân Tộc
  • Bài 13. Phong Trào Dân Tộc Dân Chủ Ở Việt Nam Từ Năm 1925 Đến Năm 1930
  • Bài 13: Phong Trào Dân Tộc Dân Chủ Ở Việt Nam Từ Năm 1925
  • Bài 12 : Phong Trào Dân Tộc Dân Chủ Ở Việt Nam Từ Năm 1919 Đến Năm 1925
  • Bài 1: Độc Lập Dân Tộc, Tình Cảm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Chúng Ta Phải Nghiên Cứu Xây Dựng Một Khái Niệm Hoàn Chỉnh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Khái Niệm Về Tinh Thần Dân Tộc
  • Dan Toc Va Chinh Sach Dan Toc Dantocvachinhsachdantoc Ppt
  • Đường Lối Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hoá Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc?
  • LTS: Là một doanh nhân thành đạt trong lĩnh vực tư vấn đầu tư và chuyển giao công nghệ, ông Nguyễn Trần Bạt còn là một nhà quan sát, nhà nghiên cứu chính trị, nghiên cứu văn hóa nổi tiếng. Những tác phẩm của ông ra đời trong suốt hơn mười năm qua, trở thành một hiện tượng xuất bản độc đáo và lý thú, thu hút mối quan tâm của đông đảo bạn đọc các giới.

    Điểm hấp dẫn của những cuốn sách ấy là tác giả luôn đưa ra cách tiếp cận, góc nhìn hay những luận điểm…khiến bạn đọc hoàn toàn bất ngờ, có thể gây tranh cãi nhưng không thể không suy ngẫm về chúng! Sách của Nguyễn Trần Bạt hiện được lưu trứ tại nhiều thư viện lớn trên thế giới.

    Nhân dịp số chuyên đề Viết và Đọc đầu tiên có tên Mùa Thu – của Nhà xuất bản Hội nhà văn ra mắt, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuộc trao đổi giữa VietTimes với ông Nguyễn Trần Bạt về vấn đề chưa bao giờ phai nhạt trong kí ức lịch sử và văn hóa của người Việt: Độc lập dân tộc.

    Cuộc trao đổi cũng sẽ mở rộng ra cả các lĩnh vực khác như văn hóa, lịch sử, những biến động trên thế giới gắn với vấn đề dân tộc và trên nần tảng các lợi ích dân tộc.

    Bài 1: Độc lập dân tộc, tình cảm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc

    Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Tư liệu/TTXVN

    Có thể nói ý thức về độc lập, khát vọng độc lập có ở mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, theo ông yếu tố chủ chốt nào thúc đẩy hình thành nên những ý thức như vậy?

    Tôi luôn luôn có ý nghĩ rằng độc lập dân tộc là một giá trị phổ quát thuộc về nhân loại. Có lẽ nó bắt đầu hình thành từ độc lập cá nhân, độc lập gia đình…, tất cả những cái riêng ấy cấu tạo ra, hun đúc nên tâm lý độc lập nói chung để dần dần, cùng với thời gian, cùng với sự phát triển hình thành nên ý thức về độc lập dân tộc.

    Độc lập dân tộc là một trong những phương thức cơ bản nhất để tạo ra sự độc lập của cộng đồng người sống trong không gian văn hóa của dân tộc ấy.

    Các nhà chính trị thường có ưu thế hơn, có thể lớn tiếng hơn, cho nên thường xem độc lập dân tộc như là một phổ quát chính trị. Còn tôi thì cho rằng trước hết độc lập dân tộc là một phổ quát văn hóa. Bất kể là ai, bất kể thành phần nào hay cộng đồng thiểu số nào khi sống chung trong một không gian văn hóa đều có những tình cảm giống nhau, đó là tình cảm dân tộc, tình cảm quốc gia. Mọi sự xung đột trên thế giới đều bắt đầu từ khái niệm này. Cho nên khẳng định đầu tiên là độc lập dân tộc là một phổ quát văn hóa, không nên xem nó chỉ là phổ quát chính trị. Nó có các thuộc tính chính trị nhưng không phải chỉ là yếu tố chính trị, không phải chỉ là phổ quát chính trị.

    Các anh biết rằng văn hóa là một khái niệm rất phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc, vì thế phổ quát văn hóa được gọi là độc lập dân tộc cũng mang nhiều màu sắc khác nhau ở những giai tầng khác nhau, những cộng đồng khác nhau, ở những nhóm lợi ích khác nhau. Nghiên cứu đầy đủ các quy trình thực hiện phổ quát văn hóa này là một trong những nhiệm vụ nhận thức rất quan trọng của xã hội.

    Ở thời kỳ cách mạng ban đầu của chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp nhiều lớp nhân sĩ, trí thức. Có nghệ sĩ kiểu Nguyễn Đình Thi, có trí thức kiểu Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Hồ Đắc Di…; có những người công nhân lao động như Hoàng Quốc Việt, Tôn Đức Thắng…

    Do tính phổ quát của khái niệm độc lập dân tộc mà nó có khả năng tập hợp xung quanh mình nhiều đối tượng khác nhau, tạo ra sự phong phú về chính trị. Sự phong phú về chính trị của chúng ta vào những năm 1940 là một trong những đặc điểm quan trọng để tạo thành sức mạnh dân tộc.

    Nhân dân luôn phản ứng giận dữ nếu thấy những nguy cơ động chạm đến độc lập dân tộc. Trong tất cả những phản ứng giận dữ ấy của xã hội không phải chỉ có người dân vô tư mà còn có cả các lực lượng chính trị.

    Những lực lượng chính trị đối lập luôn luôn giãy lên trước những việc có thể gây nghi hoặc về độc lập dân tộc. Cho nên có lẽ chúng ta phải phân tích cho rõ trong sự phản ứng xã hội về độc lập dân tộc có cả hai thứ: thứ nhất là phản ứng văn hóa của xã hội rộng lớn hơn, thứ hai là phản ứng chính trị – một phạm trù đặc biệt nhạy cảm đối với các lực lượng đối lập.

    Khi phân tích khái niệm độc lập dân tộc cùng với Hội Nhà văn – một cộng đồng trí thức quan trọng của một dân tộc, thì tôi muốn phân tích rất kỹ về tính khác biệt giữa phản ứng văn hóa và phản ứng chính trị đối với nó, như thế mới có ích cho việc nâng cao nhận thức của xã hội về khái niệm này.

    Nếu nhìn độc lập dân tộc ở góc độ văn hóa thì ông có thấy đặc điểm gì chung giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới không? Ví dụ, giữa Việt Nam với Mỹ (một quốc gia từng xâm chiếm Việt Nam, một quốc gia có quá trình lập quốc khá đặc biệt) liệu có điểm gì giống nhau trong những đòi hỏi về độc lập không?

    Tôi nghĩ điểm chung là nó đều phản ánh các đặc điểm văn hóa của cộng đồng người sinh sống trên đất nước đó. Người Mỹ và người Việt hình thành quốc gia bằng hai lịch sử văn hóa khác nhau. Sự khác biệt về văn hóa làm cho chúng ta tồn tại song song với người Mỹ, chúng ta có thể không cảm thông với tất cả các đặc điểm của người Mỹ, nhưng vẫn cảm thông được, hiểu được một vài đặc điểm mang chất lượng phổ quát của khái niệm độc lập dân tộc của họ.

    Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc ở quảng trường Ba Đình vào ngày 2/9/1945 được mở đầu với những quyền cơ bản của con người nêu trong Hiến pháp 1776 của Mỹ. Vì là một phổ quát văn hóa nên thái độ của các dân tộc đối với độc lập dân tộc khá giống nhau.

    Các anh thấy ở Châu Âu nhiều thế kỷ trước, những tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm văn học hay nhất đều gắn liền với độc lập dân tộc. “Tự do và ái tình vì các ngươi ta sống”… Sandor Petofil vĩ đại có lẽ là người phát ngôn đẹp nhất cho khái niệm độc lập dân tộc. Ở thời điểm ấy người ta chưa nói đến tự do như một quyền cá nhân, tự do mà Sandor Petofil nói là tự do thoát khỏi thân phận làm thuộc địa của các đế quốc, là giải phóng dân tộc Hungary ra khỏi sự thống trị của các đế quốc.

    Tại sao chúng ta và người Mỹ từng đánh nhau thục mạng nhưng rồi vẫn hợp tác được với nhau? Bởi vì nói cho cùng, trong việc hình thành nền văn hóa con người có các giá trị chung giống nhau.

    Tình cảm dân tộc Dường như với người Việt khát vọng độc lập là rất lớn so với những thứ còn lại, đồng thời cũng dễ khiến họ tổn thương nhất. Theo ông điều gì tạo ra đặc điểm ấy, mặt tích cực và hạn chế của nó về mặt phát triển?

    Chúng ta còn nghèo, chúng ta bé và còn yếu, chúng ta hay bị bắt nạt, đó là một thực tế. Sự bị bắt nạt một cách liên tục bởi nhiều đối tượng trong nhiều thế kỷ làm cho người Việt rất nhạy cảm về độc lập dân tộc.

    Đối với một dân tộc nghèo, yếu, ở đâu cũng thế, nếu chèn ép quá là họ sẽ khùng lên. Sự khùng lên ấy là tâm lý ban đầu của tất cả các cuộc kháng chiến mà chúng ta đã tiến hành trong suốt nhiều thế kỷ.

    Nói chung con người hay cậy thế, các dân tộc lớn trên thế giới này cũng vậy, họ không buông tha bất kỳ cơ hội nào để gây khó dễ đối với các dân tộc bé, thậm chí các dân tộc không bé nhưng yếu đôi khi cũng bị gây khó dễ. Sự xúc phạm của những kẻ có ưu thế trong cuộc sống đối với các lực lượng thấp kém và chậm phát triển tạo ra một cảm giác dễ bùng nổ ở lực lượng ấy.

    Ở cấp độ quốc gia, sự bùng nổ ấy được gọi là các tình cảm dân tộc. Ở đây tôi mới nói đến tình cảm chứ chưa nói đến quyền, người Việt nhạy cảm từ giai đoạn tình cảm chứ không chỉ ở giai đoạn quyền. Nếu đế quốc xâm lược thì đánh, nhưng đế quốc không xâm lược mà coi thường mình thì chúng ta la ó, giận dữ. Đấy cũng là một năng lực của người Việt để đáp trả những kẻ vô lễ đối với dân tộc của chúng ta.

    Tuy nhiên khi đã hội nhập thì chúng ta phải rèn luyện từ khả năng la ó, giận dữ một cách thô sơ trở thành phê phán có văn hóa.

    Hội nhà văn Việt Nam với cách làm như thế này là bắt đầu rèn luyện năng lực đáp trả tất cả sự coi thường, đánh giá thấp dân tộc chúng ta. Tôi hoan nghênh ý đồ này, vì nếu không thỉnh thoảng nhắc lại những khái niệm thiêng liêng như thế này, chủ nghĩa yêu nước có thể bị lu mờ trong tâm trí người Việt.

    Ông nói về sự nổi khùng của xã hội khi có thế lực nào đó động chạm đến độc lập dân tộc, mỗi người chúng tôi có lẽ cũng tự cảm nhận trong tâm tính mình có cái khùng như thế. Nhưng sự nổi khùng như vậy là tốt hay xấu và có nên cổ vũ?

    Tôi nghĩ tốt hay xấu đều là những khái niệm có tính biện chứng. Trong quyển sách “Sức mạnh của cái đúng ” tôi có nói rằng người trí thức phải cống hiến ở ba tầng: thứ nhất là phát hiện các lẽ phải thông thường để sống; thứ hai là phát hiện các chân lý để theo; thứ ba là phát hiện ra phép biện chứng giữa các chân lý tức là triết học để sáng tạo.

    Tôi nghĩ chúng ta làm việc này tức là đang xâu chuỗi tất cả các giá trị rời rạc thành một phép biện chứng để nhận thức, và quá trình nhận thức chính là quá trình sáng tạo. Ví dụ, khi tiếp khách là lúc cần lịch sự nên la ó, giận dữ là tiêu cực, là gây bất lợi. Nhưng cũng có lúc chúng ta cần phải nổi giận để tạo động lực, ý chí giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, trong trường hợp đó nổi giận là tích cực.

    Có một câu nói rất hay trong cuốn “Chiến tranh và hòa bình” của Leo Tolstoi: “Vinh quang thay nhân dân Nga, kẻ biết vứt đi cùng một lúc những bước ba, bước bảy của nghệ thuật đấu kiếm cổ điển để huơ lên trên đầu kẻ thù cái vồ của chiến tranh nhân dân”. Tôi nghĩ duy trì, rèn luyện để nhân dân chúng ta còn giữ được khả năng huơ lên trên đầu kẻ thù cái vồ của chiến tranh nhân dân là việc cần thiết.

    Chủ nghĩa dân tộc Không ít người có xu hướng đánh đồng hai khái niệm độc lập dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, hoặc họ coi cái nọ là điều kiện là tiền đề của cái kia. Vậy theo ông đòi hỏi độc lập và xu hướng dân tộc chủ nghĩa có điểm gì chung và điểm gì khác biệt, liệu chúng có tỉ lệ thuận với nhau không?

    Độc lập dân tộc là một phổ quát văn hóa, còn chủ nghĩa dân tộc (hay “dân tộc chủ nghĩa”) là một phổ quát chính trị, đấy là hai quy tắc trong hai không gian khác nhau. Chủ nghĩa dân tộc là một yếu tố mà nếu không được kiểm soát tốt nó sẽ làm hỏng chính trị.

    Ở nhiều quốc gia hiện nay đều xuất hiện các đảng đi theo khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa. Coi chừng, khi họ trở thành lực lượng cầm quyền thì thế giới sẽ lại có Đức quốc xã. Ở châu Âu người ta khá dè chừng những người dân tộc chủ nghĩa. Ở Áo người ta đã bầu Thủ tướng theo dân tộc chủ nghĩa rồi mà ông ấy không nhậm chức được. Hầu như các nước thuộc cộng đồng châu Âu đều tẩy chay các thủ tướng là người của đảng cực hữu.

    Khái niệm dân tộc chủ nghĩa là khái niệm khá tiêu cực, đầu tiên đối với các dân tộc bé bé như chúng ta thì nó là yếu tố ngăn cản sự khôn ngoan, làm cho chúng ta không biết chọn đối tượng.

    Trước đây chúng ta rất khó chọn cách để hợp tác với người Mỹ. Tôi là người tiếp xúc nhiều lần với các nhà chính trị Mỹ chịu trách nhiệm về hậu chiến tranh Việt Nam, trong đó có đại sứ Wood Cork, đại sứ Leonard Unger…, hai quan chức Mỹ làm việc với Việt Nam về vấn đề bồi thường chiến tranh, tôi thấy họ rất day dứt về phương diện này.

    Dân tộc chủ nghĩa luôn luôn làm cho chúng ta không khôn ngoan được. Dân tộc chủ nghĩa bơm tâm lý con người phình to lên, làm cho con người hành động một cách ngốc nghếch. Sự ngốc nghếch của các dân tộc thường thể hiện thông qua dân tộc chủ nghĩa. Cho nên tôi không thích nó.

    Nhưng dân tộc chủ nghĩa là một phổ quát có thật, nên các dân tộc, nhất là giới trí thức của nó phải ý thức đối phó với nó và biết tìm cách hướng dẫn trí khôn cho dân tộc mình. Người trí thức nào mà nhắm mắt hùa theo những khía cạnh dân tộc chủ nghĩa là sai.

    Nhiệm vụ của người trí thức là làm cho dân tộc mình bình tĩnh, tìm cách nhìn công bằng và sáng suốt đối với tất cả các lợi ích dân tộc mà họ phát hiện ra. Trong một bài nào đó tôi đã nói “cha nghĩ đến đâu thì con sẽ đi đến đấy”, giới trí thức không nghĩ được xa thì dân tộc của họ không thể đi xa được.

    Vấn đề dân tộc chủ nghĩa trên thế giới đúng là luôn và sẽ còn phức tạp. Có thể thấy ở ví dụ Liên bang Nam Tư, đã có rất nhiều đau thương mất mát xảy ra. Đến giờ Croatia, Serbia…đã độc lập nhưng Kosovo thì mãi trở thành vết thương… Như vậy cái giá phải trả cho chủ nghĩa dân tộc cũng ghê gớm, thưa ông?

    Độc lập của đối tượng này luôn luôn có thể trở thành sự tan rã của đối tượng kia! Nam Tư tan rã để có Kosovo, Croatia, Serbia, Montenegro… Nên nhớ đấy là vùng đất rất ghê gớm, Alexander đại đế xuất thân từ đấy.

    Chúng ta đã có các bằng chứng cho thấy dân tộc chủ nghĩa và độc lập dân tộc không phải lúc nào cũng chỉ có các giá trị tiến bộ, sự thống nhất dân tộc không phải lúc nào cũng tiến bộ. Sự thống nhất nằm ngoài ý đồ, ngoài ham muốn của cộng đồng xã hội thì phải coi chừng, bởi nó sẽ tạo ra nguy cơ tan rã, tạo ra những chi phí lâu dài để trói buộc sự thống nhất và độc lập.

    Độc lập dân tộc cũng như dân tộc chủ nghĩa là những phổ quát có giá trị biện chứng, chúng ta bắt buộc phải nhìn nó một cách khoa học.

    Nhưng có vẻ như chủ nghĩa dân tộc không chìm đi mà tính nguy hiểm của nó thậm chí còn ngày một gia tăng?

    Chủ nghĩa dân tộc không bao giờ chìm, tính nguy hiểm của nó luôn luôn tồn tại. Các nhà dân tộc chủ nghĩa luôn luôn sử dụng chủ nghĩa dân tộc như là một lý thuyết chính trị để kích động đời sống xã hội. Chủ nghĩa dân tộc luôn luôn nguy hiểm.

    Vậy với tư cách một nhà nghiên cứu chính trị, ông có cảnh báo gì không?

    Khi nào giới trí thức của một quốc gia là thành phần chủ yếu của phong trào chính trị dân tộc chủ nghĩa thì quốc gia ấy bắt đầu hỏng, bởi vì lực lượng cần phải sáng suốt đã không sáng suốt nữa. Chúng ta phải hết sức cảnh giác với hiện tượng đó.

    Trên đời hầu như không có thứ gì là chỉ có một mặt, có lẽ chủ nghĩa dân tộc cũng có mặt tốt nào đó chứ?

    Nó cũng có mặt tốt và tôi vừa giải thích rồi. Nó là chỗ mà khi anh gãi vào sẽ kích động được lòng yêu nước.

    Lòng yêu nước trong những giai đoạn cụ thể của đời sống lịch sử sẽ có những giá trị mang tính sống còn. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã tạo ra cuộc kháng chiến thần thánh, đã tạo ra sự đoàn kết một cách hợp lý trong những giai đoạn chính trị nhất định của dân tộc chúng ta.

    Nhưng nếu kéo dài quá (chủ nghĩa dân tộc – NV) thì sẽ phạm phải nhiều sai lầm. Chúng ta cũng đã từng có những sai lầm không nhỏ do sự kéo dài ấy.

    ( Còn nữa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Về Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Tại Sao Cần Mở Rộng Khái Niệm “độc Lập Dân Tộc”?
  • Các Khái Niệm Về Dân Cư, Dân Số Và Dân Số Học
  • Sự Đóng Góp Của Nguyễn Trãi Về Khái Niệm Dân Tộc
  • Bài 13. Phong Trào Dân Tộc Dân Chủ Ở Việt Nam Từ Năm 1925 Đến Năm 1930
  • Trình Bày Khái Niệm “dân Tộc” Và Hai Xu Hướng Phát Triển Của Dân Tộc Trong Chủ Nghĩa Tư Bản?

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa ?
  • Giá Trị Của Triết Học Phật Giáo Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Chương 2: Không Gian Và Thời Gian
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • – Khái niệm

    Khái niệm dân tộc thường được dung với hai nghĩa:

    + Theo nghĩa rộng, khái niệm dân tộc dùng để chỉ những cộng đồng người có bốn đặc trưng: cồng đồng về ngôn ngữ; cộng đồng về lãnh thổ; cộng đồng về kinh tế; cộng đồng về văn hóa, về tâm lý, tính cách.

    Theo nghĩa này, những cộng đồng người được gọi là “dân tộc” là kết quả của sự phát triển hết sức lâu dài của các cộng đồng người trong lịch sử nhân loại: từ cộng đồng thị tộc, bộ lạc đến cộng đồng bộ tộc và phát triển lên hình thức tổ chức cộng đồng được gọi là dân tộc. Đồng thời, sự hình thành dân tộc theo nghĩa này thường gắn với hình thức tổ chức nhà nước vì thế cũng còn thường được gọi là “quốc gia – dân tộc”. Ví dụ nói: “các quốc gia dân tộc châu Âu”…). Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm dân tộc thường được sử dụng theo nghĩa này.

    Sự hình thành cộng đồng dân tộc có thể diễn ra sớm hay muộn khác nhau tùy theo các điều kiện lịch sử. Ví dụ, ở các nước Tây Âu, sự ra đời của các cộng đồng dân tộc khá muộn so với một số nước ở châu Á.

    + Theo nghĩa hẹp, khái niệm dân tộc dùng để chỉ các tộc người: tức là dùng để chỉ các cộng đồng người có chung một số đặc điểm nào đó về kinh tế, tập quán sinh hoạt văn hoá,… Ví dụ khi nói: dân tộc Kinh, Thái, Tày, Nùng,… với tư cách là các cộng đồng dân tộc anh em tự nguyện gắn kết nhau lại thành cộng đồng dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh dựng nước và cứu nước.

    – Hai xu hướng phát triển của dân tộc trong chủ nghĩa tư bản

    Khi nghiên cứu về dân tộc và phong trào dân tộc trong chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin đã phân tích và chỉ ra hai xu hướng phát triển có tính khách quan của nó:

    + Xu hướng thứ nhất:

    Do sự chín muồi của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập. Thực tế này đã diễn ra ở những quốc gia, khu vực nơi có nhiều cộng đồng dân cư với nguồn gốc tộc người khác nhau trong chủ nghĩa tư bản. Xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc để tiến tới thành lập các quốc gia dân tộc độc lập và có tác động nổi bật trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Trong xu hướng đó, nhiều cộng đồng dân cư đã ý thức được rằng chỉ trong cộng đồng dân tộc độc lập, họ mới có quyền quyết định con đường phát triển của dân tộc mình.

    + Xu hướng thứ hai:

    Các dân tộc ở từng quốc gia, kể cả các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của giao lưu kinh tế, văn hóa trong chủ nghĩa tư bản đã tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế mở rộng giữa các dân tộc, xóa bỏ sự biệt lập, khép kín, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.

    Tuỳ từng điều kiện lịch sử khác nhau mà có thể diễn ra sự trội hơn của xu hướng nào. Nói chung, trong điều kiện phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự vận động của hai xu hướng nói trên gặp rất nhiều trở ngại.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “vấn Đề Dân Tộc Và Chính Sách Dân Tộc”
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Học Thuyết Của Marx: Chủ Nghĩa Duy Vật Triết Học
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Là Gì? Nó Có Những Hình Thức
  • Biện Pháp Khai Thác Truyện Kể Trong Dạy Học Các Bài Triết Học
  • Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa ?
  • Giá Trị Của Triết Học Phật Giáo Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Chương 2: Không Gian Và Thời Gian
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Đề Cương Ôn Tập Gdcd Lớp 10
  • 1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

    Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

    Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

    So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

    Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

    Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

    (Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

    Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

    + Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

    + Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

    Một số định nghĩa khác về dân tộc:

    Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

    Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

    Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

    Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

    Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

    Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

    Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

    1

    Công tác dân tộc

    Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Nghị định 05/2011/NĐ-CP

    6

    Dân tộc thiểu số tại chỗ

    Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

    15/2008/QĐ-UBND

    (Hết hiệu lực)

    Tỉnh Đắk Lắk

    7

    bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

    9

    Mạng Ủy ban Dân tộc

    Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

    10

    Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

    là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

    11

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

    12

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

    Tỉnh Đắk Lắk

    13

    Vùng dân tộc thiểu số

    Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

    Nguồn: Thư viện pháp luật

    3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

    Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

    – Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

    – Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

    – Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

    – Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

    4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

    Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

    – Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

    – Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

    – Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

    – Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

    Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

    – Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

    – Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    – Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    – Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Khái Niệm “dân Tộc” Và Hai Xu Hướng Phát Triển Của Dân Tộc Trong Chủ Nghĩa Tư Bản?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “vấn Đề Dân Tộc Và Chính Sách Dân Tộc”
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Học Thuyết Của Marx: Chủ Nghĩa Duy Vật Triết Học
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Là Gì? Nó Có Những Hình Thức
  • Định Nghĩa Chủ Nghĩa Dân Tộc Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Chủ Nghĩa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Phát Huy Dân Chủ Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Đề Tài: Phát Huy Dân Chủ Trong Sinh Hoạt Chi Bộ Công Ty Cấp Nước
  • Một Số Giải Pháp Phát Huy Dân Chủ Ở Cơ Sở
  • Mdcl: Phong Trào Thay Đổi Dân Chủ Ở Liberia
  • Hỏi Và Đáp Về Phong Trào Dân Chủ Việt Nam (Bài 1)
  • Chủ nghĩa dân tộc là một khái niệm được phát triển bởi nhân học để đề cập đến xu hướng khiến một người hoặc một nhóm xã hội giải thích hiện thực từ các thông số văn hóa của chính họ . Thực tiễn này được liên kết với niềm tin rằng chính dân tộc và thực tiễn văn hóa của nó là vượt trội so với hành vi của các nhóm khác.

    Một quan điểm dân tộc học đánh giá và đủ điều kiện về phong tục, tín ngưỡng và ngôn ngữ của các nền văn hóa khác theo một thế giới quan được coi là mong muốn (luôn luôn là của riêng ai). Sự khác biệt giữa một nhóm và một nhóm khác tạo thành bản sắc văn hóa .

    Chủ nghĩa dân tộc là xu hướng chung cho bất kỳ nhóm người nào. Thông thường, các yếu tố của văn hóa riêng có đủ điều kiện hoặc nhận xét theo nghĩa tích cực, mô tả theo cách tiêu cực về niềm tin và phong tục của người khác. Các thực hành của bản thân được coi là bình thường và thậm chí hợp lý, trái ngược với các hành vi kỳ lạ và không thể hiểu được của người khác.

    Các nhà nhân chủng học và các nhà khoa học xã hội khác nên cố gắng không rơi vào chủ nghĩa dân tộc khi phân tích các nền văn hóa xa lạ với họ . Nhà nghiên cứu phải liên tục chiến đấu chống lại sự cám dỗ để coi cấu trúc văn hóa của chính mình là bình thường hoặc vượt trội để thực hiện một công việc khách quan. Chủ nghĩa dân tộc cũng ngăn cản việc học (tôi không thể học từ thứ mà tôi cho là thấp kém hoặc kém giá trị hơn những gì tôi đã có).

    Tôn trọng bản sắc của một người không có nghĩa là có một tầm nhìn dân tộc về thế giới: ngược lại, đánh giá sự khác biệt văn hóa là một cách để nâng cao lịch sử của chính chúng ta.

    Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa tương đối văn hóa

    Từ nguồn gốc của nó, nhân chủng học đã đấu tranh để chống lại chủ nghĩa dân tộc chủ nghĩa suy ngẫm một số nền văn hóa khác và tạo ra sự phân biệt đối xử và chênh lệch lớn xung quanh nhu cầu của các dân tộc; nơi những người có được lợi ích lớn hơn là các nhóm bá quyền.

    Chủ nghĩa dân tộc là một phổ quát văn hóa; ở khắp mọi nơi có những người tin rằng cách hiểu về cuộc sống và phong tục của họ là đúng với sự bất lợi của những nhóm không chia sẻ chúng. Trong thực tế, họ cho rằng những hành vi khác nhau là kỳ lạ hoặc hoang dã .

    Ngoài ra còn có một khái niệm khác được gọi là thuyết tương đối văn hóa, nằm ở phía đối diện của chủ nghĩa dân tộc. Dòng suy nghĩ này khẳng định rằng không có nền văn hóa nào nên được đánh giá từ mô hình của người khác.

    Giống như tất cả các lý luận cực đoan, thuyết tương đối văn hóa cũng có thể là tiêu cực bởi vì nó có thể khoan dung với những hành vi cố gắng chống lại cuộc sống hoặc tự do của các cá nhân là một phần của một dân tộc. Điều đó có nghĩa là, từ quan điểm này, chúng ta nên chấp nhận những ý tưởng ưu việt của Đức Quốc xã, giống như chúng ta chấp nhận những ý tưởng đến từ Hy Lạp cổ điển.

    Có thể nói rằng trong một vị trí dân tộc học, cách tiếp cận nền văn hóa khác sẽ xuất phát từ lập trường độc đoán, coi mọi thứ di chuyển ra khỏi xã hội là nguyên thủy, non nớt và thậm chí đáng khinh. Điều đáng nói là những suy nghĩ này phủ nhận quá trình nhân hóa và lịch sử đa dạng của loài người .

    Về phần mình, thuyết tương đối văn hóa nói rằng các đặc điểm đặc trưng của một địa điểm phải được phân tích chỉ trong hệ thống mà chúng thuộc về và cũng đáng được tôn trọng như bất kỳ nơi nào khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Trào Chống Chủ Nghĩa Dân Túy Trên Thế Giới Và Kinh Nghiệm Đối Với Việt Nam
  • Nhận Diện Chủ Nghĩa Dân Túy Trong Bối Cảnh Thế Giới Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy: Những Nội Hàm Đương Đại
  • Hiểm Họa Từ Chủ Nghĩa Dân Túy Trong Bối Cảnh Thế Giới Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Là Gì?
  • Cực Đoan Là Gì? Khái Niệm Chủ Nghĩa Dân Tộc Cực Đoan

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 5: Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc Tôn Giáo
  • Bài 5. Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc, Tôn Giáo
  • Gdcd 12 Bài 5: Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc, Tôn Giáo
  • Lý Thuyết Bài 5: Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc, Tôn Giáo Giáo Dục Công Dân 12
  • Gmsp: Tốt Nghiệp Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Dự Án
  • Cực đoan là gì? Cực đoan là cụm từ nhằm chỉ những đối tượng có suy nghĩ duy ý, họ thường xem những việc mà mình làm đều đúng và không thể nhìn nhận sự việc một cách bao quát. Ngoài ra thì cực đoan cũng được dùng để nói lên sự thái quá của một người bởi những hành động của họ như: Không chịu chấp nhận sự thật, luôn cho rằng mình đang làm mọi thứ đúng hoàn toàn…

    Chủ nghĩa dân tộc cực đoan là gì?

    Từ những nhóm tuyên truyền này sẽ là bàn đạp dẫn đến những tác động về chính trị và xã hội, văn hóa, kinh tế, quân sự… Cứ như vậy thì nhóm khởi nguồn mọi chuyện sẽ biến thành độc trị, độc tài, độc tôn… Như vậy chủ nghĩa này sẽ lan rộng ra mỗi khi nó đặt chân đến vùng miền mới.

    Những dấu hiệu của chủ nghĩa dân tộc cực đoan?

    Chủ nghĩa cực đoan thông thường sẽ xuất hiện những dấu hiệu điển hình như:

      Chủ nghĩa này sẽ lợi dụng sự bất mãn của con người như: bất công về xã hội, bất ổn về quốc tế
    • Bịa đặt về những vị lãnh đạo, thời thế và sứ mệnh của đất nước
    • Đưa ra những ý định đổi đời cho những người nghèo khó
    • Lừa đảo nhân dân về một thế giới đẹp như trong mơ
    • Đưa ra những chính sách cực khó khăn để nhằm triệt tiêu những người chống đối
    • Tạo ra những quyền lợi đặc ân cho các tầng lớp trung thành

    Mục đích của chủ nghĩa dân tộc cực đoan

    Chủ nghĩa dân tộc cực đoan mang trong mình mục đích tráo đổi và thay đổi về khái niệm độc lập, tự do, nhân quyền, giá trị con người của những công dân. Đồng thời không công nhận được những thành quả của người dân đã làm nên so với những quy mô của xã hội… Tạo ra những tiêu chuẩn riêng của mình để đưa người dân vào một khuôn khổ. Tất cả đều quy về một mục đích đó là làm cho mọi người dân phải làm theo và phục tùng mọi yêu của của lãnh đạo tổ chức đưa ra.

    Vì sao con người phải cảnh giác với chủ nghĩa dân tộc cực đoan

    Con người cần phải cảnh giác với chủ nghĩa dân tộc cực đoan là bởi chính con người thường mơ mộng về mọi chuyện viễn tưởng. Từ đó sẽ rất dễ dàng bị tổ chức chủ nghĩa cực đoan làm ảnh hưởng. Nếu con người không cảnh giác thì sẽ bị tổ chức chủ nghĩa cực đoan đẫn dắt. Họ sẽ không biết được rằng trước mắt họ là bờ vực của tội lỗi mà vẫn cứ tiến tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Dân Tộc Và Những Sắc Thái Của Nó Trong Thế Giới Ngày Nay
  • Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết!
  • Khái Niệm Quyền Lợi Quốc Gia Trên Hết
  • Quan Điểm Về “lợi Ích Quốc Gia
  • Bảo Đảm Lợi Ích Quốc Gia
  • Khái Niệm Dân Tộc Và Nội Dung Cơ Bản Của Cương Lĩnh Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch
  • Chiến Lược Diễn Biến Hòa Bình Là Gì?
  • Bài Trả Lời Cho Ai Hỏi: Diễn Biến Hòa Bình Là Gì, Tại Sao Phải Chống? (*)
  • Lý Thuyết: Và Dữ Liệu
  • Tín Hiệu Là Gì?1.khái Niệm Về Thông Tin, Dữ Liệu, Tín Hiệu..
  • 1.Khái niệm dân tộc:

    Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

    Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phỏ biến nhất.

    Một là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó- Quốc gia dân tộc.

    Hai là: dân tộc chỉ mọt cộng đồngngười có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia- Quốc gia có nhiều dân tộc.

    2.Nội dung cơ bản: “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mac-Lênin.

    Nội dung cơ bản: “Cương lĩnh dân tộc” có 3 vấn đề sau.

    Thứ nhất: các dân tộc được quyền tự quyết định

    1. Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnhcủa dân tộc mình: quyền tự quyết định chế độ chính trị xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình, quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành mổ quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc, quyền tự nguyện liên hiệp lại các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia-dân tộc.

    1. Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: Các dân tộc lớn hay nhỏ (kể cả bộ tộc và chủng tộc) không phân biệt trình độ cao thấp đèu có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức bóc lột dân tộc khác.

    2. Trên phạm vi giữa các quốc gia dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẵng giữa các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ ngiã phân biệt chủng tộc, gắn với cuộc đáu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bảnphát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tê.Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc.

    Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc đoàn kết lại.

    3. Trong các quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ như nhau, khắc phục chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc do lịch sư để lại.

    1. Nó quy định mục tiêu hướng tới; quy định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc, đồng thời nó là yếu tố sức mạnh bảo đảm cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

    2. Đây là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin: nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Nó đảm bảo cho dân tộc có đủ sực mạnh để giành thắng lợi.

    3. Đây là cơ sở vững chắc để đoàn kết nhân dân lao động trong các dân tộc để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy , nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể.

    Tóm lại:”Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác-Lênin (của Đảng cộng sản) là một bộ phận trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, là cơ sở lý luận của đường lối, chính sách dân tộc của Đảng cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Dịch Vụ Khách Hàng
  • Dịch Vụ Là Gì? Đặc Điểm Và Bản Chất Của Dịch Vụ
  • Khái Niệm Về Dịch Vụ
  • Danh Từ Và Phân Loại Danh Từ
  • Du Lịch Và Du Lịch Côn Đảo Là Gì ?
  • Khái Niệm Về Tinh Thần Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Dan Toc Va Chinh Sach Dan Toc Dantocvachinhsachdantoc Ppt
  • Đường Lối Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hoá Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc?
  • Dân Tộc Học Hay Nhân Học ?
  • Dân Tộc Là Gì? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản “cương Lĩnh Dân Tộc” Của Chũ Nghĩa Mac
  • Maoa: Hiệp Hội Chủ Sở Hữu Căn Hộ Dân Tộc Thiểu Số
  • Riêng nước Việt Nam ta về phương diện địa lý có một hoàn cảnh đặc biệt: ở giữa núi cao biển rộng và bị kềm hãm giữa hai khối Trung Hoa và Ấn Độ. Phía Bắc giáp với Trung Hoa, một nước có nhiều dân và một nền văn minh rực rỡ từ lâu đời. Dân tộc Trung Hoa lại có khả năng đồng hóa các dân dộc lân bang. Phía nam gặp nền văn minh Ấn Độ. Dân tộc Chiêm Thành (chịu ảnh hưởng đậm đà của văn hóa Ấn), là một dân tộc hùng mạnh mà trong quá khứ đã nhiều phen làm ta điêu đứng. Phía Đông giáp biển Thái Bình Dương rộng rãi mênh mông. Phía Tây là dãy Trường Sơn dài, rộng, cao và hiểm trở. Lưu vực sông Hồng hà lại quá chật hẹp. Trong hoàn cảnh địa lý khắc khe như thế muốn được tự tồn tất phải có đấu tranh gian khổ cho nên lịch sử của dân tộc Việt Nam là một lịch sử đấu tranh. Đấu tranh vói thiên nhiên để tránh cảnh lụt lội triền miên của dòng sông Hồng quái ác, chống trả với sự đồng hóa của dân tộc Trung Hoa ở phương Bắc và phải vất vả nhiều với cuộc Nam tiến để được sinh tồn. Sau hơn hai ngàn năm lập quốc, hiện tại về phía Bắc ta dã ngăn chặn được kẻ hiếu chiến Trung Hoa, về phía Nam đã mở rộng bờ cõi đén tận vịnh Thái lan. Lập được những thành tích vẻ vang đó tức nhiên nhờ vào sức mạnh tinh thần dân tộc ta. Nhưng tinh thần đó như thế nào?

    Hơn một ngàn năm Bắc thuộc và hơn tám mươi năm Pháp thuộc, tuy ngoại nhân tìm đủ mọi cách để đồng hóa dân ta, nhưng nhờ tinh thần ĐỘC LẬP và QUẬT KHỞI dân ta vẫn giữ nguyên bản sắc cố hữu và lần lượt đuổi được kẻ xâm lăng.

    Tinh thần độc lập tự chủ khiến cho dân ta biết tự cao về nòi giống, biết yêu thương đồng bào và tổ quốc, biết đoàn kết và tương trợ, biết biến đổi các tinh hoa tư tưởng ngoại lai để cho hợp với dân tộc tính. Thật thế tinh thần đọc lập đã được thể hiện trong câu nói khẳng khái của Trần Bình Trọng ‘ thà làm quỷ nước nam, không thèm làm vương đất bắc “. Trong bài thơ phá Tống ào hùng của Lý thường Kiệt:

    “Nam quốc sơn hà Nam đé cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

    Ngoài sự tôn trọng non sông dân tộc, dân ta cón có tinh thần đoàn kết tương trợ. Trong gia đình thì chị ngã em nâng, ngoài xã hội thì lá lành đùm lá rách. Trong lúc thường thì chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác, khi biến động thì nằm gai nếm mật chung nỗi ân ưu và muôn tấm lòng cùng đồng thanh Sát Thát. Hai câu thơ sau đây đã nói lên được tinh thần độc lập và đoàn kết của dân tộc ta:

    “Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy, Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương”

    Cũng vì có tinh thần độc lập nên dân ta biết hòa đồng các sắc thái ngoại lai. Trong khi đưa tau tiếp nhận gió muôn phương vẫn cố giữ những sắc hương riêng biệt. Trong tinh thần đó ta đã cố gắng biếng đổi những tinh hoa văn hóa của nước người cho thích hợp với tâm tình dân Việt Nam. Thí dụ người Trung Hoa dạy ta chữ Hán thì ta mượn chữ Hán để tạo thành chữ Nôm, người Pháp cho ta biết thể cách của thơ Pháp thì ta mượn thể cách ấy để sáng tạo thành thơ mới. Suy rộng ra từ cách trang phục, ẩm thực, kiến trúc… đến triết học, tư tưởng, tôn giáo… đều có sự biến đổi để cho hợp với dân tộc tính của ta.

    Nhưng quan hệ nhất là tinh thần QUẬT KHỞI của dân ta. Đó là một khả năng kỳ diệu giúp chúng ta không bị diệt vong dù trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Một người ngoại quốc, Paul Mus đã nhận định về tinh thần quật khởi như sau: “Dân tộc Việt Nam đã thụ hưởng của dân tộc láng giềng phía Bắc cái sức mạnh thắng mọi kẻ địch ở phía Nam. Nhưng không biết họ đã thừa hưởng được của ai cái năng lực chống đối lại chính cái dân tộc mà họ đã bắt chước để lật đổ ách đô hộ về chính trị của một ngàn năm nô lệ? Ngay từ khi lập quốc tất cả then chốt của lịch sử Việt Nam đều ở cả các tinh thần chống đối. Các tinh thần chống đối đó là một phối hợp kỳ diệu giữa một sức đồng hóa lạ lùng với năng lực quật khởi quốc gia không chịu khuất phục mặc dầu bị thụa trận, bị phân tán, bị chinh phục.” Quả thật cái tinh thần quật khởi ấy là nền tảng của ý chí kiên cường để tranh đấu chống ngoại xâm. Trưng Vương trong hoàn cảnh bi đát của đất nước vẫn vùng lên “Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân”. Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở lối khai đường cho nền độc lập huy hoàng của quốc gia dân tộc. Hưng Đạo Vương đã cản được bước tiến của quân Mông Cổ, một đạo quân bách chiến bách thắng từ Á sang Âu. Lê Lợi hy sinh cả gia đình và tài sản mười năm gian khổ chống trả giặc Minh giải phóng giống nòi, giành quyền tự chủ. Vua Quang Trung một sớm một chiều đã phá tan hai mươi vạn quân Thanh giữa một trời Xuân minh mị. Tất cả những chiến thắng vẻ vang đó đã nối tiếp nhau tạo thành những trang sử vàng son của dân tộc và truyền thống anh dũng bất khuất của giống nòi. Thế rồi ngọn gió Tây Phương thổi tới, gót giày xâm lược của Pháp in dấu khắp quê hương. Trước sức mạnh của nền văn minh cơ giới đất nước lần lần lọt vào tay người Pháp. Nhưng từ đó trở đi không lúc nào là dân ta không nuôi chí chống quân thù

    “Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở, Bủa lưới săn nai cũng có ngày…

    (Phan Văn Trị)

    Những cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ khoa Huận, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám đã gây biết bao khó khăn cho Pháp. Từ chiến thắng hỏa hồng Nhật Tảo đến tiếng bom Sa Điện, từ bài thơ Đập đá Côn Lôn đến mười ba tiếng hô Việt Nam Vạn tuế… các anh hùng liệt sĩ Việt Nam đã làm cho ngoại nhân khiếp sợ trước tinh thần quật khởi của dân ta.

    Ngoài tinh thần quật khởi, dân ta còn có tinh thần chống đối. tinh thần chống đối nfay nhận xét kỹ chỉ là một khía cạnh của tinh thần quật khởi mà dân ta dùng để bảo tồn cái hay cái đẹp sẵn có. Chính nhờ tinh thần này mà dân ta không bị đồng hóa diệt vong. Có khi chống đối âm thầm sự bất chính của kẻ quyền thế trong triều đình như Truyện Trê Cóc, có khi chống đối công khai những thói hư tật xấu của người ngoài xã hội như:

    “Sơ khảo khoa nầy bác Cử Nhu Thật là vừa dốt lại vừa ngu Văn chương nafp phải là đơn thuốc Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu!”

    Và đặc biệt nhất là chống đối bằng những lời nói bông đùa nhưng mỉa mai kín đáo:

    “Không chồng mà chửa mới ngoan Có chồng mà chửa thế gian sự thường”

    Cuối cùng dân ta còn có một tinh thần thực tế. Không cần để ý đến những điều cao xa chỉ lo lắng đến những ngu cầu thực tiễn:

    “Nhất sĩ nhì nông Hết gạo chạy rông Nhất nông nhì sĩ.”

    Chỉ để ý đến cái chắc chắn hiện tại chớ không tha thiết đến những cái đẹp hão huyền vượt khỏi tầm tay:

    Thằng Bờm có cái quạt mo Phú ông xin đổi ba bò chín trâu Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu, Phú ông xin đổi ao sâu cá mè Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè Phú ông xin đổi con chim đồi mồi Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi Phú ông xin đổi nắm xôi. Bờm cười!

    Tóm lại, qua những điều nhận xét trên, ta thấy tinh thần dân tộc Việt Nam được kết tinh bằng một lý trí thực tiễn, một tình cảm chân thành và một ý chí bất khuất. Nhờ có tinh thần quật khởi và độc lập dân ta mới có ý niệm quốc gia, biết yêu quê hương và đồng bào chủng tộc. Kế đến nhờ có tinh thần chống đối thể hiện trong các tác phẩm trào lộng mà dân ta bảo vệ được cái hay cái đẹp săn có của mình. Cuối cùng nhờ tinh thần thực tế dân ta có được thái độ khon ngoan cần thiết trong khi xử kỷ tiếp vật.

    *

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Chúng Ta Phải Nghiên Cứu Xây Dựng Một Khái Niệm Hoàn Chỉnh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Bài 1: Độc Lập Dân Tộc, Tình Cảm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Tư Tưởng Về Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Tại Sao Cần Mở Rộng Khái Niệm “độc Lập Dân Tộc”?
  • Khái Niệm Đại Đoàn Kết Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Lực Lượng Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Phân Tích Những Quan Điểm Cơ Bản Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Tư Tưởng Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Li Khai Và Vấn Đề Li Khai Dân Tộc Ở Một Số Nước Đông Nam Á
  • Độc Lập Hay Ly Khai, Sứ Mệnh Hay Ảo Mộng?
  • Khái Niệm Led 7 Đoạn, Khái Niệm Đại Đoàn Kết Dân Tộc, Khái Niệm Đoạn Văn, Khái Niệm âm Mưu Và Thủ Đoạn Của Chiến Tranh Đặc Biệt, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm Là Gì, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm M&a, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm ăn, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 131, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Từ Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Mặc, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm 635, Khái Niệm 5s, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm 5m, Khái Niệm 811, Khái Niệm 5g, Khái Niệm 500 Anh Em, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm 4r, Khái Niệm 4p, Khái Niệm 821, Khái Niệm Oda, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 632, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm 7p, Khái Niệm P, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oop, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm 4k, Khái Niệm 4g, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 3d, Khái Niệm 331, Khái Niệm 6s, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm 2g, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm 3r, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm 911, Khái Niệm A, Khái Niệm 4c, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm 3t, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm U Xơ,

    Khái Niệm Led 7 Đoạn, Khái Niệm Đại Đoàn Kết Dân Tộc, Khái Niệm Đoạn Văn, Khái Niệm âm Mưu Và Thủ Đoạn Của Chiến Tranh Đặc Biệt, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm Là Gì, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm M&a, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm ăn, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 131, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Từ Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Mặc, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Dân Tộc Kinh Tiếng Anh Là Gì?
  • Không Có Dân Tộc Kinh (?)
  • Tính Dân Tộc Trong Văn Học
  • Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100