Trình Bày Các Khái Niệm Và Các Công Cụ Chủ Yếu Của Các Chính Sách Đầu Tư Quốc Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chính Sách Tài Khóa
  • Giải Thuật Chia Để Trị (Divide And Conquer)
  • Khái Niệm Lịch Sử Boiduongchuyenmonls11 Doc
  • Giải Thuật Chia Để Trị (Divide And Conquer) Trong Cấu Trúc Dữ Liệu Và Giải Thuật
  • Khái Niệm, Chính Sách Định Giá, Chiến Lược Định Giá Trong Marketing Điện Tử
  • Trình bày các khái niệm và các công cụ chủ yếu của các chính sách ĐTQT.

    Chính sách ĐTQT là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, công cụ, và biên pháp do nhà nước thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ hợp tác và đầu tư QT trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt mục tiêu kt-xh của quốc gia đó.

    Phân loại: theo loại hình đầu tư: cs đầu tư trực tiếp nước ngoài, cs đầu tư gián tiếp nước ngoài; theo chiều di chuyển của vốn đầu tư: cs thu hút đầu tư, cs đầu tư ra nước ngoài.

    * Các công cụ, biện pháp chủ yếu:

    + Các công cụ tài chính:

    Công cụ thuế và các loại phí:

    • thuế nội địa
    • thuế quan XNK, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
    • phí thuê quyền SD đất, sử dụng các dịch vụ hạ tầng,..

    Công cụ điều tiết vốn ĐT: quy định về hình thức vốn góp, tỷ lệ góp vốn, chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá hối đoái,…

    + Các công cụ phi tài chính:

    • QĐ về thủ tục thẩm định và cấp giấy phép đầu tư
    • QĐ về đối tượng tham gia và lĩnh vực đầu tư
    • QĐ về thời gian tối đa của DA đầu tư
    • QĐ về thủ tục và trách nhiệm của các bên tham gia giải phóng mặt bằng và thực hiện đền bù
    • QĐ về tuyển dụng lao động
    • QĐ về trách nhiệm xử lý môi trường
    • QĐ về đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, thương hiệu,…
      Chính sách đầu tư ra nước ngoài:

    + Các công cụ và biện pháp quản lý: công cụ thuế và quy định về góp vốn đầu tư; định hướng và quy định về khu vực và lĩnh vực đầu tư.

    + Các công cụ và biện pháp hỗ trợ: hỗ trợ về vốn, ưu đãi về thuế, bảo hiểm đầu tư, thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư như: ký kết các hiệp định hợp tác ĐT, hỗ trợ thông tin, hỗ trợ kỹ thuật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật
  • Kỹ Năng Tham Mưu Xây Dựng Chính Sách Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Chiến Lược Qua Thực Tiễn Xây Dựng Pháp Luật Của Chính Phủ
  • Bàn Về Khái Niệm “chính Sách Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Bảo Hiểm Là Gì? Các Thuật Ngữ Cơ Bản Nhất Trong Bảo Hiểm Bạn Nên Biết
  • Định Nghĩa Chính Sách Bảo Hiểm Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Chính Sách Bảo Hiểm
  • Hành Trình Định Nghĩa Lại Khái Niệm Nghỉ Dưỡng Xa Xỉ Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Yếu Tố Định Nghĩa Sự Xa Xỉ Của Maserati
  • Tư Duy Tài Chính Thế Hệ Mới Và Sự Chuyển Mình Của Thế Giới Mỹ Phẩm Xa Xỉ
  • Trải Nghiệm Xa Xỉ Từ Các Chuyên Gia
  • Đi Tìm Định Nghĩa Mới Cho Nghỉ Dưỡng Xa Xỉ
  • Trẻ Hoá Sự Xa Xỉ (Kỳ 1): Trước Rolls
  • Nghỉ dưỡng xa xỉ đã là một nhu cầu tất yếu của giới quyền quý từ lâu trên thế giới. Ngay từ thế kỷ XV, vua Louis đã yêu cầu kiến trúc sư nổi tiếng Louis-François Trouard thiết kế một khách sạn xa hoa ngay gần đại lộ đại lộ Champs-Élysées ngày nay tại Paris.

    Khách sạn Hotel De Crillon có gần 200 phòng với lối kiến trúc tân cổ điển với vẻ đẹp huyền thoại sau này chính là nơi nghỉ dưỡng của giới quý tộc và là nơi lui tới yêu thích của hoàng hậu Marie-Antoinette vốn nổi danh với những thú chơi xa xỉ.

    Nhiều thế kỷ trôi qua, vô số các khu nghỉ dưỡng đẳng cấp mọc lên khắp thế giới và trở thành những “cỗ máy hút tiền” từ giới siêu giàu. Nhắc đến Dubai là người ta nghĩ ngay tới khách sạn 7 sao Burj Al Arab với độ xa xỉ đạt đến mức thượng thừa.

    “Men say” mới tại Việt Nam

    Nhắc đến Malpes, không thể không nhớ tới khu nghỉ dưỡng Soneva Fushi Resort Malpes trên hòn đảo Soneva Fushi, điểm đến yêu thích của các ngôi sao lừng danh thế giới như Madonna, Rita Ora, vợ chồng nhà Beck…

    Các khu nghỉ dưỡng xa hoa được đặt ở những vị trí độc tôn, với các dịch vụ siêu cao cấp không đơn giản chỉ để chiều lòng giới siêu giàu, mà còn trở thành biểu tượng và khẳng định thứ hạng của đất nước hay vùng đất sở hữu nó trên bản đồ du lịch thế giới.

    Tại Việt Nam, nghỉ dưỡng xa xỉ được “sinh sau đẻ muộn”, sau rất nhiều năm im lìm trước làn sóng nghỉ dưỡng siêu sang trên thế giới. Và chỉ độ vài năm gần đây, khi Tập đoàn Sun Group tiên phong kiến tạo những khu nghỉ dưỡng hạng sang được cả thế giới vinh danh, Việt Nam mới thực sự được biết đến như một miền đất hứa của các trải nghiệm nghỉ dưỡng xa xỉ.

    Giữa một rừng những khu nghỉ dưỡng hạng siêu sang trên khắp thế giới, nghỉ dưỡng Việt Nam làm thế nào để cạnh tranh và rút hầu bao của giới siêu giàu?

    Nắm bắt những xu thế hàng đầu trên thế giới và phát triển trên những tiềm năng của mỗi vùng đất trên dải đất hình chữ S, Sun Group đã có câu trả lời của riêng mình: Nghỉ dưỡng không chỉ cần xa hoa, đẳng cấp, mà còn phải độc và lạ – thứ men say để chinh phục giới nhà giàu.

    Đó là một InterContinental Danang Sun Peninsula Resort – khu nghỉ dưỡng nép mình trên bán đảo Sơn Trà huyền thoại, 4 năm liên tiếp được World Travel Awards vinh danh là “Khu nghỉ dưỡng sang trọng bậc nhất thế giới”, được báo chí quốc tế và Việt Nam không tiếc lời khen cho đẳng cấp, độ sang trọng “có một không hai” và những dịch vụ thượng lưu.

    Nhưng khái niệm “xa xỉ” mà khu nghỉ dưỡng này đã tạo nên mới là điều đáng nói, khi không nằm ở các chi tiết dát vàng, mà bởi lối kiến trúc mang đậm bản sắc và nét quyến rũ của văn hoá Việt Nam trong từng chi tiết mà kiến trúc sư lừng danh thế giới Bill Bensley đã đi khắp đất nước Việt Nam, chắt lọc những tinh hoa văn hoá tinh túy nhất để tạo nên, nhưng lại toát lên một vẻ xa hoa đầy hấp lực.

    Khu nghỉ dưỡng còn mang đến cho các thượng khách những dịch vụ thuộc hàng “hiếm” như trải nghiệm ẩm thực độc đáo từ đầu bếp hạng 3 sao Michelin tại “Nhà hàng Fine Dining sang trọng nhất thế giới” La Maison 1888, tham gia các hoạt động thuần Việt như lớp học nghề thủ công truyền thống, hay lớp học bảo vệ động vật hoang dã từ nhà động vật học của riêng khu nghỉ dưỡng.

    InterContinental Danang Sun Peninsula Resort cũng mang tới trải nghiệm xa xỉ hiếm nơi nào có được: Nghỉ dưỡng xanh. Ở đây, vẻ đẹp của thiên nhiên được nâng niu, thế giới tự nhiên được bảo tồn, và môi trường sống được giữ gìn thuần khiết nhất. Đó cũng là lý do InterContinental Danang Sun Peninsula Resort là khu nghỉ dưỡng đầu tiên trên thế giới được vinh danh “Khu nghỉ dưỡng thận thiện với môi trường nhất châu Á” trong hai năm liên tiếp.

    Một khu nghỉ dưỡng hạng sang khác của Tập đoàn Sun Group cũng khiến giới thượng lưu phải có cái nhìn khác về xa xỉ – đó là JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay. Đẳng cấp thế giới – đương nhiên rồi. Thiết kế độc nhất – cũng hẳn nhiên. Dịch vụ đẳng cấp – lẽ tất yếu.

    Đó là tất cả những điều kiện cần và đủ để một khu nghỉ dưỡng được định nghĩa là xa xỉ trên thế giới. Nhưng điều gì khiến JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay nổi bật hơn hẳn và nằm ở vị trí thứ 6 trong top 100 khu nghỉ dưỡng tốt nhất thế giới do Travel + Leisure bình chọn, và được World Travel Awards vinh danh là “Khu nghỉ dưỡng và Spa sang trọng bậc nhất châu Á”?

    Đó chính là câu chuyện “lạ” và “độc” của JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay. Được lấy cảm hứng từ một ngôi trường đại học viễn tưởng cuối thế kỷ 19, khu nghỉ dưỡng đưa các thượng khách của mình vào một hành trình khám phá các trải nghiệm xa xỉ bằng lối kiến trúc giả cổ được pha trộn sắc màu học thuật.

    Ý tưởng về một trường đại học “không giống ai” khiến nơi đây trở thành một xứ sở diệu kỳ và du khách như lạc lối vào mê cung của sự xa hoa và vẻ đẹp của tri thức. Xa xỉ, với JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay, đó là khi giới thượng lưu được sống trong thế giới tưởng tượng của riêng mình.

    Nằm tại phía Bắc Việt Nam giữa thị trấn Sa Pa bốn mùa sương phủ, Hotel De La Coupole – MGallery lại tái hiện một kinh đô thời trang nơi từng chi tiết kiến trúc đều mang âm hưởng haute couture.

    Trong khi đó, Premier Village Phu Quoc Resort tại Nam đảo Ngọc lại đẹp tựa “chốn địa đàng giữa nhân gian”, với trải nghiệm độc nhất vô nhị khi được ngắm bình minh và hoàng hôn ở cùng một điểm trên dải đất xanh thẳm của Mũi Ông Đội.

    Rõ ràng, các sản phẩm nghỉ dưỡng của Tập đoàn Sun Group đã góp phần định nghĩa lại khái niệm nghỉ dưỡng xa xỉ tại Việt Nam, vượt ra ngoài giá trị xa hoa của vật chất. Đó là sự xa xỉ được nảy mầm ngay từ trong ý tưởng, trong sáng tạo và nguồn cảm hứng, trong những giá trị quý báu mà các khu nghỉ dưỡng mang tới cho du khách và cho những vùng đất. Điều đó đã thực sự tạo nên giá trị độc đáo cho nghỉ dưỡng xa xỉ tại Việt Nam và giúp du lịch Việt thăng hạng trên trường quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Sự Xa Xỉ Đích Thực? 8 Đặc Tính Không Thể Thiếu Trên Xa Xỉ Phẩm
  • Khái Niệm Wifi Là Gì? Nguyên Lý Wifi Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Tìm Hiểu Về Wifi Cách Hoạt Động Của Wifi
  • Wg: Hội Thảo Về Các Khái Niệm Lý Thuyết Đồ Thị Trong Khoa Học Máy Tính
  • Workshop Là Gì? Vai Trò Của Các Đối Tượng Tham Dự Workshop
  • Khái Niệm, Đối Tượng Điều Chỉnh Và Chủ Thể Của Luật Du Lịch Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Tưởng Khởi Nghiệp Kinh Doanh Khu Du Lịch Sinh Thái
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Nét Hấp Dẫn Của Ẩm Thực Đường Phố
  • Đề Tài: Phát Triển Sản Phầm Du Lịch Đặc Thù Tại Tp Hải Phòng, 9Đ
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Đặc Thù Vùng Đồng Bằng Sông Hồng
  • 56118

    1. Luật du lịch quốc tế là gì?

    2. Đối tượng điều chỉnh của luật du lịch quốc tế

    – Mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong lĩnh vực hợp tác đầu tư, xúc tiến phát triển về du lịch;

    – Mối quan hệ giữa các tổ chức du lịch quốc tế (bao gồm các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ), tổ chức kinh doanh du lịch du lịch quốc tế, khách du lịch quốc tế với quốc gia nước sở tại trong hoạt động du lịch;

    – Mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân ở các quốc gia khác nhau trong mối quan hệ hợp tác về du lịch. Về phạm vi điều chỉnh, luật du lịch quốc tế được xem xét trong cả lĩnh vực công pháp và tư pháp quốc tế.

    3. Chủ thể của luật du lịch quốc tế

    – Quan niệm về quốc gia

    Theo Điều 1 của công ước Motevideo năm 1933 về quyền và nghĩa vụ quốc gia: (1), Dân cư thường xuyên; (2), Lãnh thổ được xác đinh; (3), Chính phủ; (4), Năng lực tham gia vào các quan hệ với các thực thể quốc tế khác.

    – Chủ quyền quốc gia

    + Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ chủa mình;

    + Và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.

    – Quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong luật quốc tế

    + Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi;

    + Quyền được tự vệ cá nhân hay tự vệ tập thể;

    + Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập;

    + Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ;

    + Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế;

    + Quyền được tự do quan hệ với các chủ thể khác của luật quốc tế;

    + Quyền được trở thành thanh viên của các tổ chức quốc tế phổ biến.

    + Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia;

    + Tôn trọng bất khả xâm phạm lãnh thổ của các quốc gia khác;

    + Không áp dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực;

    + Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

    + Hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia nhằm duy trì nền hòa bình và an ninh quốc tế;

    + Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế;

    + Tôn trọng những cam kết và tập quán quốc tế;

    + Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình

    – Vai trò của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Sự hợp tác quốc tế của quốc gia tạo ra sự liên kết và là động lực thúc đẩy ngành du lịch quốc tế phát triển;

    + Môi trường pháp lý mỗi quốc gia là tiền đề của hoạt động du lịch quốc tế.

    – Hoạt động pháp lý của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Xây dưng, tham gia các Điều ước quốc tế về du lịch;

    + Xây dựng các chuẩn mức pháp lý của quốc gia về yếu tố nước ngoài trong ngành du lịch quốc gia mình;

    + Giải quyết, tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế về du lịch.

    – Hoạt động khác của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Tham gia và tạo điều kiện cho các chủ thể khác tham gia vào các tổ chức du lịch quốc tế;

    + Thực hiện các hoạt động xúc tiến, đầu tư về du lịch;

    + Đảm bảo sự an toàn và an ninh cho hoạt động du lịch quốc tế diễn ra tại lãnh thổ quốc gia mình.

    b) Các loại tổ chức quốc tế về du lịch

    Có 02 loại tổ chức quốc tế về du lịch đó là: tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ (NGOs).

    – Vai trò của tổ chức du lịch quốc tế

    + Là cầu nối liên kết các ngành du lịch trên thế giới;

    + Thúc đẩy phát triển tiềm năng du lịch ở vùng, khu vực trên thế giới;

    + Bảo hộ các thành viên trong hoạt động du lịch.

    – Một số tổ chức du lịch quốc tế điển hình

    + Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization)

    + Ủy hội du lịch Châu Âu (European Travel Commission – ETC)

    + Hiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương ( PATA: Pacific Asia Travel Association)

    + Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC: World travel anh tourism Council);

    + Trung tâm Quốc tế APEC về Du lịch bền vững (AICST: Apec international Centre for Sustainable Tourism)

    + Hiệp hội du lịch ASEAN …

    * Tổ chức du lịch thế giới (WTO) + Tiền thân của Tổ chức Du lịch Thế giới là Đại hội quốc tế Hiệp hội các Cơ quan Vận chuyển Du lịch, được thành lập vào năm 1925 ở Hague.+ Sau Chiến tranh Thế giới II, tổ chức này đổi tên là Liên hiệp Quốc tế Tổ chức các Cơ quan Lữ hành (IUOTO) và được chuyển tới Geneva.+ Trên cơ sở nghị quyết của Hội nghị trù bị về thành lập Tổchức Du lịch thế giới (WTO), họp ngày 27/9/1970. Tổ chức WTO đã được chính thức thành lập ngày 2/1/1975.+ Hàng năm, ngày 27/9 được coi là ngày Du lịch thế giới.Đại Hội đồng LHQ khoá 58 đã thông qua nghị quyết số 58/232 công nhận WTO là tổ chức chuyên môn trong hệ thống LHQ.– Phát triển: Đến năm 2005, danh sách thành viên của WTO đã bao gồm 145 quốc gia, 7 vùng lãnh thổ và khoảng 350 thành viên chi nhánh, đại diện cho khu vực tư nhân, các tổ chức giáo dục, hiệp hội du lịch và các cơ quan du lịch địa phương– Thành viên: + Thành viên chính thức (các quốc gia có chủ quyền) đến Đại hội lần thứ 14 WTO có 138 nước thành viên.+ Thành viên liên kết là những vùng lãnh thổ, hiện nay có 6 thành viên là Aruba, Macao, Madeire, Hồng kông, Frémish và quần đảo Antilles.+ Thành viên chi nhánh: là những công ty du lịch, hãng du lịch,… hiện nay có 350 thành viên.+ Ngân sách: Do các nước thành viên chính thức đóng góp, được chia thành 15 bậc và đóng theo sự phát triển của khách lữ hành quốc tế vào nước đó.+ Tôn chỉ Mục đích: WTO hoạt động nhằm đẩy mạnh và phát triển du lịch nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia vì hòa bình, thịnh vượng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng nhân quyền và tự do cơ bản, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo.Đại hội đồng WTO :– Họp thường kỳ hai năm họp một lần, có nhiệm vụ thông qua chủ trương, chính sách du lịch, định hướng phát triển du lịch phục vụ sự phát triển kinh tế thé giới; bầu các chức vụ quan trọng của WTO như Tổng thư ký, các nước trong Hội đồng chấp hành WTO , kết nạp thành viên mới và đình chỉ nước thành viên khi nợ ngân sách quá 2 năm liền.Chia thành 3 loại :Hội đồng chấp hành (HĐCH):+ HĐCH gồm 27 nước thành viên được bầu theo khu vực địa lý. nhiệm kỳ là 2 năm và được tái cử.+ HĐCH do 1 Chủ tịch và 3 Phó Chủ tịch lãnh đạo.+ HĐCH là cơ quan điều hành giúp WTO triển khai các chủ trương chính sách đã được ĐHĐ thông qua giữa hai kỳ ĐHĐ.+ HĐCH họp 2 kỳ 1 năm và có các cuộc họp bất thường theo đề nghị của Tổng Thư ký hay của 2/3 số thành viên HĐCH.+ Đứng đầu là Tổng Thư ký và 2 phó Tổng thư ký, nhiệm kỳ 4 năm.+ 6 tiểu ban khu vực: Châu Phi; Châu Mỹ; Đông Á – Thái Bình dương; Nam Á; Châu Âu; Trung Đông.

    – Ngoài Đại hội đồng thường kỳ, WTO cũng có thể triệu tập cuộc họp bất thường theo yêu cầu của Hội đồng chấp hành hoặc do 2/3 số thành viên chính thức yêu cầu.

    Cơ cấu tổ chức:

    – Các tổ chức du lịch quốc tế khác

    + Ủy hội du lịch Châu Âu (European Travel Commission – ETC)

    Ủy hội du lịch Châu Âu tập hợp các tổ chức du lịch quốc gia châu Âu nhằm gia tăng mức độ du lịch từ những phần đất khác trên thế giới đến Châu Âu như là kết quả của những hoạt động tiếp thị.

    + Hiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương ( PATA):

    PATA là một tổ chức du lịch bao gồm các hội viên thuộc khu vực tư, đặc biệt là các công ty du lịch lớn, cũng như các tổ chức du lịch quốc gia.

    PATA tổ chức nghiên cứu thị trường tập thể, dành sự hổ trợ kỷ thuật cho sự phát triển du lịch, chủ yếu thông qua những sự nghiệp dành cho các quốc gia riêng lẽ hoặc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

    + Hiệp hội du lịch Asean Các tổ chức du lịch quốc tế khác

    + Hiệp hội du lịch Asean: Bao gồm các nước thành viên Asean, thể hiện mối quan hệ cấp bộ trưởng về lĩnh vực du lịch trong khu vực, có vai trò gắn kết và phát triển vùng du lịch chung và tiềm năng phát triển du lịch của từng quốc gia

    c) Tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế

    – Khái niệm tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    Tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế là tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế.

    – Đặc điểm của tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    + Là pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật một quốc gia nhất định;

    + Hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận;

    – Vai trò của tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    + Thoả mãn nhu cầu du lịch của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.

    + Thúc đẩy kinh tế phát triển;

    + Khai thác và giới thiệu tài nguyên du lịch hấp dẫn của quốc gia đến các nước khác

    + Tạo ra nguồn thu nhập quốc gia;

    + Tạo việc làm cho người lao động;

    – Khái niệm khách du lịch quốc tế:

    Khách du lịch quốc tế là người đi du lịch bên ngoài lãnh thổ quốc gia mà mình thường trú.

    – Vai trò của lhách du lịch quốc tế:

    + Là đối tượng trung tâm của các hoạt động du lịch quốc tế của từng quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới;

    + Là động lực phát triển kinh tế ;

    + Mang lại nguồn thu nhập, việc làm cho quốc gia nước sở tại;

    1. QUAN HỆ Việt Nam VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ASEAN

    Quan hệ hợp tác quốc tế du lịch giữa Việt Nam và các nước

    – ASEAN là tổ chức liên chính phủ

    – Số lượng thành viên: 10 quốc gia

    – Ngày gia nhập của Việt Nam: 27/71995;

    – Là tổ chức thể hiện sự hợp tác toàn diện của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có lĩnh vực du lịch

    1.1 Lịch sử hợp tác về du lịch của ASEAN

    + Tuyên bố Manila ngày 15 tháng 12 năm 1987;

    + Thỏa thuận cấp Bộ trưởng về Hợp tác Du lịch ASEAN, ký ngày 10 tháng 01 năm 1998, tại Cebu, Philippines;

    + Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ, ký tại Bangkok, ngày 15 tháng 12 năm 1995 Hiệp định du lịch ASEAN được ký tại Phnôm Pênh, Campuchia, ngày 04 tháng 11 năm 2002;

    + Nghị định thư Hội nhập ngành du lịch ASEAN tại Viên Chăn, Lào ngày 29/11/2004

    1.2 Nội dung hợp tác cơ bản

    – Tạo điều kiện thuận lợi trong du lịch ASEAN và quốc tế;

    – Về dịch vụ vận tải du lịch;

    – Tiếp cận thị trường;

    – Du lịch có chất lượng;

    – An toàn và an ninh du lịch;

    – Phối hợp xúc tiến và tiếp thị;

    – Phát triển nguồn nhân lực.

    – Tạo điều kiện thuận lợi trong du lịch ASEAN và quốc tế;

    + Đưa ra các ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư, nhất là khu vực tư nhân vào ASEAN;

    + Xây dựng và triển khai các dự án du lịch sinh thái nhằm khuyến khích đầu tư vào du lịch

    – Về dịch vụ vận tải du lịch;

    + Miễn thị thực cho du lịch nội khối ASEAN của các công dân ASEAN (từ năm 2005);

    – Tiếp cận thị trường;

    + Đẩy nhanh tự do hoá thương mại dịch vụ trước năm 2021;

    + Xúc tiến các chương trình hợp tác và đầu tư chung, bao gồm thị trường các nước thứ ba;

    + Loại bỏ các hạn chế về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia nhằm đạt được tự do hoá thương mại trong ngành du lịch.

    – Du lịch có chất lượng;

    Bước đầu xây dựng các tiêu chuẩn về cấp độ của các khách sạn, tập trung vào hệ thống cấp chứng nhận quản lý môi trường của khách sạn.

    – An toàn và an ninh du lịch;

    + Ổn định chính trị;

    + Thực hiện tốt các biện pháp chống khủng bố;

    + Đảm bảo an toàn cho khách du lịch trước các tội phạm .

    – Phối hợp xúc tiến và tiếp thị;

    + Tăng cường các nỗ lực xúc tiến chung trong và ngoài khối ASEAN thường xuyên thu hút du lịch và đầu từ du lịch từ thị trường ngoài ASEAN;

    + Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào các chương trình xúc tiến và marketing chung đối với các hoạt động du lịch ASEAN ;

    + Tiếp thị bằng logo chung, tổ chức một khu du lịch chung trong hội chợ triển lãm du lịch …..;

    – Phát triển nguồn nhân lực.

    + Chương trình đào tạo chung;

    + Xây dựng các tiêu chuẩn phù hợp tối thiểu trong ASEAN đối với các cơ quan du lịch chuyên nghiệp

    + Xây dựng một Mạng lưới Phát triển và Quản lý Nguồn lực Du lịch;

    2. VIỆT NAM – APEC

    + Chương trình trao đổi, các hoạt động đào tạo chéo và chứng nhận chéo;

    – Diễn đàn hợp tác Châu Á Thái Bình Dương hiện nay có 21 thành viên. Diễn đàn này hợp tác trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực du lịch.

    – Về hoạt động hợp tác trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia thành viên Apec đã có những văn kiện hợp tác quan trọng, trong đó nổi bậc nhất là Hiến chương du lịch Apec và Tuyên bố Hội An

    2.1 Hiến chương Du lịch APEC

    Tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ nhất tại Hàn Quốc năm 2000, Hiến chương Du lịch APEC đã được thông qua với 4 mục tiêu chính:

    + Loại bỏ những trở ngại đối với kinh doanh và đầu tư du lịch;

    + Thúc đẩy dòng khách du lịch và nhu cầu tiêu dùng sản phẩm;

    + Quản lý bền vững tài nguyên du lịch và hạn chế tác động tiêu cực;

    + Tăng cường nhận thức và hiểu biết du lịch, coi đó là phương tiện phát triển kinh tế, xã hội.

    2.2 TUYẾN BỐ HỘI AN

    Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4, tổ chức tại Hội An, Quảng Nam, Việt Nam từ ngày 15 – 17/10/2006 trong khuôn khổ Năm APEC Việt Nam 2006:

    + Khuyến khích tổ chức Hội chợ Du lịch APEC

    + Tăng cường thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch;

    3. QUAN HỆ VIỆT NAM – TỔ CHỨC DU LỊCH THẾ GIỚI (WTO):

    + Khuyến khích áp dụng các biện pháp tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho khách du lịch, nghiên cứu khả năng kết nối tour và mở đường bay trực tiếp giữa các di sản văn hóa ;

    + Tổ chức các hoạt động giao lưu thanh niên và giao lưu giữa các thành phố kết nghĩa.

    – Gia nhập:

    Ngày 26 tháng 9 năm 1979, CHXHCN Việt Nam gửi đơn xin gia nhập WTO .

    – Quan hệ hợp tác:

    4. QUAN HỆ VIỆT NAM – TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ DU LỊCH

    Với sự trợ về tài chính của UNDP, Việt Nam và chuyên gia cao cấp của WTO đã hoàn thành dự án phát triển du lịch Việt nam từ nay dến 2010

    CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ DU LỊCH

    – Dịch vụ du lịch theo định nghĩa trong WTO, gồm:

    + Dịch vụ khách sạn và nhà hàng (CPC 641 – 643);

    + Dịch vụ lữ hành và điều hành tour du lịch (CPC 7471);

    + Dịch vụ hướng dẫn viên du lịch (CPC 7472);

    + Dịch vụ khác.

    – Cơ sở đưa ra cam kết:

    Căn cứ vào pháp luật của Việt Nam; thực tiễn của ngành du lịch; cam kết quốc tế trước đó của Việt Nam; cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

    Nội dung cam kết

    – Diện cam kết: Việt Nam chỉ cam kết dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch. Không cam kết dịch vụ hướng dẫn viên du lịch.

    – Đối với dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch:

    + Chỉ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam, không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh.

    + Hướng dẫn viên du lịch trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là người Việt Nam;

    + Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam.

    Một số lưu ý:

    + Không cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (phù hợp với Điều 51 Luật Du lịch);

    + Không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh (Luật Du lịch Việt Nam – 2005 chưa có);

    + Chưa cam kết cho phép thành lập chi nhánh (Điều 42 Luật Du lịch);

    + Không hạn chế đối tác Việt Nam trong liên doanh (Điều 51 Luật Du lịch).

    CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA VIỆT NAM VỀ DU LỊCH SAU KHI GIA NHẬP WTO 2007-2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Mức Độ Hài Lòng Của Du Khách Đối Với Du Lịch Phú Quốc, Hot
  • Một Số Định Nghĩa Về Các Loại Hình Lưu Trú
  • Các Loại Hình Du Lịch Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Mạo Hiểm Tại Lâm Đồng
  • Khách Du Lịch Là Gì Và Cách Phân Loại Khách Du Lịch
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Quản Trị Tài Chính Công Ty Đa Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần ? Quy Định Của Pháp Luật
  • Giáo Trình Quản Trị Doanh Nghiệp Thương Mại (Đại Học Kinh Tế Quốc Dân)
  • Bài Giảng Quản Trị Thương Mại
  • Quản Trị Doanh Nghiệp Thương Mại (Commercial Enterprise Management) Là Gì? Nội Dung
  • Hiểu Khái Niệm Cơ Bản Về Quản Lý Doanh Thu Khách Sạn
  • 1. Khái niệm công ty đa quốc gia

    Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational Corporation) là công ty tham gia vào quá trình sản xuất và bán sản phẩm hoặc dịch vụ ở nhiều nước. Ban đầu nó gồm một công ty mẹ đặt tại chính quốc và có ít nhất năm hoặc sáu công ty con ở nước ngoài, đặc biệt có mức độ hợp tác hỗ trợ lẫn nhau cao và mang tính chiến lược giữa các công ty con của nó.

    Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Các công ty này có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hoá.

    Một số công ty đa quốc gia có tới 100 công ty con ở nước ngoài trên khắp thế giới. Liên hiệp quốc dự đoán rằng có ít nhất 35.000 công ty con trên thế giới có thể xem là công ty đa quốc gia.

    Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào 3 nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:

    • Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).
    • Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas).
    • Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft).

    2. Đặc điểm của công ty đa quốc gia

    2.1. Phạm vi hoạt động trải rộng trên nhiều quốc gia

    Dù theo đuổi chiến lược thâm nhập nước ngoài hay mở rộng toàn cầu, đặc trưng của một công ty đa quốc gia là quy mô và phạm vi phân bổ tài sản của nó. Sự tồn tại thực sự của các công ty đa quốc gia là dựa vào khả năng dễ di chuyển của một số nhân tố sản xuất nhất định giữa các nước.

    Thay vì phải giới hạn việc tìm kiếm các địa điểm xây dựng nhà máy trong nước, một công ty đa quốc gia đặt vấn đề: ở đâu trên thế giới là nơi mà chúng ta nên đặt nhà máy?

    Tương tự như vậy, bộ phận quản lý marketing tìm kiếm thị trường quốc tế chứ không phải trong nước để thâm nhập và bộ phận quản lý tài chính không giới hạn việc tìm kiếm vốn hoặc cơ hội đầu tư đối với bất kỳ một thị trường tài chính quốc gia nào.

    Một con búp bê Barbie có thể được làm ở 10 nước – thiết kế tại California, với những bộ phận và quần áo từ Nhật, Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Indonexia, Hàn Quốc, Ý, Đài Loan, được lắp ráp tại Mexico và được bán trên 144 nước.

    Những nhân tố cần thiết đối với việc hợp nhất hoạt động toàn cầu là linh hoạt và tốc độ. Đặc biệt, tốc độ đã trở thành một vũ khí cạnh tranh lợi hại trong cuộc chiến giành giật thị phần quốc tế. Khả năng phát triển, sản xuất và phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ nhanh chóng cho phép các doanh nghiệp chiếm được khách hàng, những người cần sự đáp ứng linh hoạt, nhanh chóng và đổi mới thường xuyên.

    2.2. Các công ty đa quốc gia khác nhau có những động lực phát triển khác nhau

    Bởi vì các lợi thế về chi phí có thể thực hiện từ việc sản xuất ở nước ngoài hoặc các cơ hội thu nhập có thể có từ nhu cầu của thị trường nước ngoài, tiềm năng phát triển trở nên lớn hơn đối với các công ty quan tâm đến hoạt động kinh doanh quốc tế.

    Những đầu tư quốc tế phát triển mạnh mẽ qua thời gian, chúng được thúc đẩy bởi sự tổng hợp của các nhân tố: Sự dỡ bỏ hoặc giảm bớt những rào cản đối với đầu tư nước ngoài; các chi phí vận tải và thông tin giảm mạnh; các thị trường vốn quốc tế và nội địa hoạt động tự do hơn, trong đó các công ty có thể huy động những khoản vốn khổng lồ, những rủi ro tiền tệ và các rủi ro khác có thể bảo hiểm được.

    Tuy nhiên không phải tất cả các công ty đa quốc gia đều có chung một câu trả lời cho câu hỏi tại sao chúng lại tấn công ra thị trường quốc tế. Trên thực tế chúng tìm kiếm những cơ hội rất khác nhau.

    Những người tìm kiếm vật liệu thô là những công ty đa quốc gia và những tổ chức kinh doanh quốc tế đầu tiên. Đó là những công ty Anh, Hà Lan và Đông Ấn Độ, Pháp, công ty Bay Trading Hudson và Union Miniere HautKatanga – lúc đầu chúng phát triển dưới sự che chở bảo vệ của các đế chế thực dân Anh, Hà Lan, Pháp và Bỉ.

    Mục tiêu của chúng là khai thác các vật liệu thô có thể tìm thấy ở nước ngoài. Những bản sao của những công ty này trong thời đại hiện đại là những công ty khai mỏ, dầu lửa đa quốc gia. Họ là những người đầu tiên tiến hành đầu tư mạnh mẽ ra nước ngoài, bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 20.

    Vì vậy, những công ty dầu lửa lớn như British Petroleum và Standar Oil, đã đi đến những nơi mà những con khủng long đã chết (những công ty được bảo trợ của những đế chế thực dân), là những công ty đa quốc gia thực sự đầu tiên. Những công ty khai thác kim loại như International Nickel. Anaconda Copper, và Kennecott Copper cũng là những công ty sớm đầu tư ra nước ngoài.

    Người tìm kiếm thị trường là công ty đa quốc gia hiện đại, nó ra nước ngoài để sản xuất và bán hàng ở thị trường nước ngoài. Ví dụ như IBM, Volks-wagen và Unilever. Tương tự như vậy, các công ty sản xuất những mặt hàng nổi tiếng như Nestlé, Levi Strauss, MacDonald’s, P&G, Coca-Cola đã và đang kinh doanh nước ngoài, nơi mà chúng có được doanh số và thu nhập lớn.

    Mặc dù đã có những ví dụ về các công ty đa quốc gia tìm kiếm thị trường nước ngoài (ví dụ, Colt Firearms, Singer, Coca-Cola, Philips, và Imperial Chemicals), nhưng phần lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài là thông qua mua lại những tài sản hữu hình như nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc ở nước ngoài.

    Loại hình đầu tư này cơ bản là dòng chảy một chiều – từ Mỹ tới Tây Âu – cho mãi tới những năm gần đầu thập niên 60 của thế kỷ 19. Sau đó, đầu tư ngược chiều bắt đầu, chủ yếu là các công ty Tây Âu mua lại các công ty của Mỹ. Gần đây, các công ty Nhật đã đầu tư vào Mỹ và Tây Âu, chủ yếu để đối phó với những rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu sang những thị trường này.

    Người tối thiểu hóa chi phí là loại hình doanh nghiệp tương đối mới tham gia kinh doanh quốc tế. Những doanh nghiệp này tìm kiếm và đầu tư vào những quốc gia có chi phí sản xuất thấp (Ví dụ như Hồng Kông, Đài Loan và Ireland) nhằm duy trì khả năng cạnh tranh về chi phí cả ở trong và ngoài nước.

    Phần lớn các công ty này thuộc ngành công nghiệp điện tử. Ví dụ như các công ty Texas Instruments, Atari và Zenith.

    2.3. Tận dụng cơ chế chuyển giao nội bộ để thu lợi nhuận nhiều hơn

    Từ giác độ quản lý tài chính, một trong những đặc điểm của công ty đa quốc gia khác biệt với tập hợp các công ty quốc gia thường hợp tác khách quan với nhau, đó là khả năng của nó trong việc chuyển tiền và lợi nhuận giữa các chi nhánh hoặc giữa công ty mẹ và chi nhánh thông qua các cơ chế chuyển giao nội bộ.

    Có được điều đó là do các công ty đa quốc gia hoạt động trong hệ thống tài chính quốc tế chứ không phải hệ thống tài chính của một nước cụ thể. Những cơ chế này bao gồm chuyển giao giá cả về hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi trong nội bộ, các khoản tín dụng liên công ty, thanh toán lợi tức cổ phần, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại các khoản thanh toán liên công ty, phí và các khoản tiền phải trả cho bản quyền.

    Các công ty đa quốc gia có sự tự do đáng kể trong việc lựa chọn các kênh tài chính thông qua đó các quỹ và lợi nhuận được phân bổ hoặc di chuyển. Ví dụ các bản quyền và nhãn hiệu thương mại có thể được bán thẳng hoặc chuyển giao để thu các khoản tiền về bản quyền. Tương tự như vậy, công ty đa quốc gia có thể chuyển lợi nhuận và tiền từ đơn vị này sang đơn vị khác thông qua việc điều chỉnh giá cả chuyển giao đối với các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ liên công ty.

    Dưới giác độ các dòng đầu tư, vốn có thể được chuyển ra ngoài nước dưới hình thức tín dụng với nhiều lựa chọn khác nhau về lãi suất, đồng tiền sử dụng, và kế hoạch thanh toán. Các công ty đa quốc gia có thể sử dụng những kênh khác nhau này, từng kênh hoặc kết hợp với nhau, để chuyển giao quỹ trên bình diện quốc tế, phụ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng quốc gia mà nó đặt chi nhánh.

    Hơn thế, trong các giới hạn của luật lệ khác nhau của các nước và dưới giác độ quan hệ giữa một chi nhánh nước ngoài với chính phủ chủ nhà của nó thì những dòng tiền này có thể có lợi thế hơn so với những dòng có được trong quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp độc lập.

    3. Quản trị tài chính công ty đa quốc gia

    3.1. Vai trò của quản trị tài chính công ty đa quốc gia

    Quyết định đầu tư được coi là việc phân phối các quỹ theo thời gian, theo cách thức nhằm tối đa hóa của cải của các cổ đông. Tuy nhiên, nhiều vấn đề và nhiều hoạt động quản trị tài chính đa quốc gia không thể phân loại một cách rõ ràng như vậy.

    Các dòng vốn bên trong của doanh nghiệp như thanh toán vốn vay thường phải được đảm bảo bởi chính MNC để tiếp cận và sử dụng các khoản quỹ đã vay, ít nhất là về mặt lý thuyết. Những dòng tiền khác như thanh toán lợi tức cổ phần có thể được thực hiện để giảm rủi ro ngoại hối hoặc giảm thuế.

    Các nhà điều hành tài chính trong các công ty đa quốc gia đối mặt với nhiều khó khăn đến từ yếu tố “đa quốc gia” của nó. Những khó khăn này bao gồm rủi ro ngoại hối, rủi ro lạm phát, những khác biệt giữa các nước; các thị trường tiền tệ quốc tế, cùng với khả năng tiếp cận hạn chế; sự kiểm soát tiền tệ, và rủi ro chính trị như sự tước đoạt từ từ và bất ngờ.

    Khi xem xét các đặc trưng riêng biệt của quản trị tài chính đa quốc gia, có thể hiểu rằng công ty thường nhấn mạnh đến các rủi ro kinh tế và chính trị phải đối mặt khi ra nước ngoài. Tuy nhiên, công ty phải chấp nhận những rủi ro đó nếu muốn giành lợi thế bằng cách trở thành công ty đa quốc gia.

    Khả năng di chuyển nhân lực, tiền và nguyên liệu trên cơ sở toàn cầu giúp cho sự hợp tác của công ty đa quốc gia có hiệu quả lớn hơn là tổng giản đơn các bộ phận hợp thành của nó.

    Vì hoạt động ở các nước khác nhau, MNC có thể thâm nhập các thị trường tài chính khác nhau để làm giảm tổng chi phí vốn chung, di chuyển lợi nhuận để giảm thuế phải nộp, và tận dụng lợi thế của đa dạng hóa quốc tế về thị trường và địa điểm sản xuất để giảm rủi ro của thu nhập. Các công ty đa quốc gia tuân thủ ngạn ngữ “không bỏ tất cả trứng vào một giỏ” trong lập luận của họ.

    3.2. Nội dung quản trị tài chính công ty đa quốc gia

    Sự mở rộng toàn cầu của các công ty đa quốc gia đã trở nên phổ biến hơn sau hành động của nhiều Chính phủ nhằm dỡ bỏ các hàng rào khác nhau. Các MNC nhìn chung đầu tư vào các cơ hội kinh doanh ở nước ngoài bằng cách tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nó thể hiện ở việc đầu tư vào các tài sản thực (chẳng hạn như đất đai, nhà xưởng hoặc thậm chí các nhà máy đang hoạt động) ở nước ngoài.

    Các MNC tiến hành FDI thông qua liên doanh với các công ty nước ngoài, mua lại các công ty nước ngoài, và hình thành các chi nhánh mới ở nước ngoài. Bất kỳ dạng nào của FDI cũng có thể sinh ra thu nhập cao khi được quản lý tốt. Tuy nhiên, FDI đòi hỏi một mức đầu tư đáng kể và do đó có thể đặt một lượng vốn lớn vào rủi ro.

    Hơn nữa khi việc đầu tư không hoạt động như mong đợi, các MNC không dễ dàng bán các dự án ở nước ngoài mà nó đã tạo ra. Do những đặc trưng về thu nhập và rủi ro này của FDI, các MNC có xu hướng phân tích cẩn thận các lợi ích và chi phí tiềm tàng trước khi thực hiện bất kỳ một dự án FDI nào.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhìn chung được các MNC xem xét bởi vì nó có thể làm tăng lợi nhuận và nâng cao của cải cho các cổ đông. Có một vài cách trong đó FDI có thể làm tăng thu nhập hoặc giảm chi phí. Phương pháp tối ưu đối với một công ty để thâm nhập vào thị trường nước ngoài phụ thuộc một phần vào các đặc trưng của thị trường.

    Chẳng hạn, đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty Mỹ thông thường ở Châu Âu chứ không phải ở Châu Á là nơi người dân đã quen với việc mua sản phẩm từ Châu Á. Do vậy các hợp đồng chuyển giao hoặc liên doanh có thể phù hợp hơn khi các công ty muốn mở rộng sang Châu Á.

    Bảng 1 tóm tắt các lợi ích có thể của FDI và giải thích các cách MNC nên sử dụng FDI để giành được những lợi ích này. Hầu hết các MNC theo đuổi FDI dựa trên những dự tính của họ về việc đầu tư vào một hoặc nhiều các lợi ích tiềm tàng

    Đối với các công ty đa quốc gia, khi mà thị trường và người tiêu dùng là toàn cầu thì các nhà đầu tư của nước này có thể mua cổ phiếu và trái phiếu của nước khác và ngược lại. Lợi ích của đầu tư quốc tế là rất nhiều, nhưng có thể thấy ngay là một sự đầu tư trọng điểm được rải đều trên phạm vi quốc tế thì nó sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn là khi chỉ tập trung vào thị trường nội địa.

    Hệ thống kinh doanh chứng khoán được mở rộng trên phạm vi quốc tế tạo ra khả năng đạt được sự đánh đổi rủi ro, hay nói cách khác là lợi tức cao hơn so với việc chỉ đầu tư vào các chứng khoán một nước.

    Một nhà đầu tư khôn ngoan nhận thức được rằng việc đa dạng hóa vào các ngành sẽ làm giảm mức độ rủi ro tại một mức lợi tức kỳ vọng nhất định. Mặc dầu vậy, những lợi ích của việc đa dạng hóa này là giới hạn vì tất cả các công ty trong một quốc gia đều ít hay nhiều bị ảnh hưởng của những dao động kinh tế mang tính chu kỳ.

    Thông qua đa dạng hóa quốc tế – tức là bằng cách đa dạng hóa ra các quốc gia mà chu kỳ dao động kinh tế không trùng nhau hoàn toàn – các nhà đầu tư có thể giảm nhiều hơn nữa sự biến động của các khoản lợi tức. Nói một cách khác, một rủi ro là mang tính hệ thống trong bối cảnh nền một quốc gia có thể là rủi ro không mang tính hệ thống trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu.

    Ví dụ, cuộc khủng hoảng giá dầu lửa làm tổn thương nền kinh tế Mỹ nhưng lại giúp đỡ nền kinh tế của các nước xuất khẩu dầu lửa và ngược lại. Như vậy sự biến động của những cổ phiếu này lại bù trừ một phần sự biến động của những cổ phiếu khác trong cùng một tổ hợp.

    Phản ứng lại trước những con số như thế này, dòng vốn tư nhân chảy vào các thị trường mới nổi đã tăng từ hơn 10 tỷ USD một năm lên khoảng 70-90 tỷ USD một năm vào khoảng những năm 19953. Nhưng khả năng lợi tức cao trên những thị trường mới nổi này đi kèm với các rủi ro nhất định. Để bắt đầu, đây là các thị trường nhỏ, tổng số vốn tập trung tại các thị trường này chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng vốn của thị trường chứng khoán thế giới.

    Vì vậy các thị trường này phải chịu những biến động thường xuyên và thiếu khả năng thanh khoản vốn là những đặc tính thường có của thị trường nhỏ.

    C ác thị trường này cũng phải đối mặt với những rủi ro mang tính đặc thù như: các chính phủ của những quốc gia có thị trường mới nổi tương đối không ổn định, rủi ro của việc quốc hữu hóa các doanh nghiệp, thiếu sự bảo vệ bản quyền, và mối đe dọa của sự biến động giá đột ngột.

    Đó là tính ổn định của luồng tiền mặt của MNC, rủi ro tín dụng của MNC, thu nhập của MNC; các hạn chế về cổ phiếu ở nước chủ nhà, lãi suất ở nước chủ nhà, sức mạnh của đồng tiền nước chủ nhà, luật thuế của nước chủ nhà. Các MNC có thể ưa thích sử dụng nhiều nợ khi chi nhánh nước ngoài của họ có lãi suất địa phương thấp, đồng tiền địa phương có xu hướng yếu đi, mức rủi ro quốc gia cao và thuế cao.

    Bởi vì các đặc trưng rất khác nhau giữa các nước, một số chi nhánh của một MNC có thể có lợi từ một mức độ đòn bẩy tài chính cao, trong khi các chi nhánh khác có thể không. Một MNC có thể phân tán kết cấu vốn theo từng nước nhưng vẫn đạt được kết cấu tư bản mục tiêu của nó trên một nền tảng vững chắc.

    Ví dụ sau đây, trong những điều kiện nhất định ở nước ngoài, các công ty đa quốc gia phải có những quyết định phù hợp với động cơ phân tán kết cấu tư bản mục tiêu ở địa phương trong khi vẫn thỏa mãn kết cấu tư bản mục tiêu toàn cầu.

    Trước hết hãy xem xét ở nước A không cho phép các MNC có trụ sở ở nơi khác được niêm yết cổ phiếu của họ ở Sở giao dịch địa phương. Trong điều kiện này, một MNC sẽ quyết định vay vốn thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc vay ngân hàng thay vì phát hành cổ phiếu ở nước này.

    Ví dụ thứ 3, hãy xét một MNC mong muốn đầu tư vào nước C đang trải qua những rối ren về chính trị. Việc sử dụng các món vay ngân hàng địa phương sẽ là phù hợp nhất bởi vì ngân hàng địa phương có thể bảo vệ các hoạt động của MNC ở nước này khỏi những tác động bởi bất kỳ điều kiện chính trị nào.

    Nếu các ngân hàng địa phương là những nhà cho vay, họ sẽ có lợi trong việc đảm bảo rằng hoạt động của MNC là có lãi thích hợp để hoàn trả khoản vay của nó. Các ví dụ này phản ánh kết cấu tư bản của MNC ở mỗi nước có thể phân tán như thế nào từ kết cấu tư bản mục tiêu toàn cầu được thiết lập bởi MNC.

    Bởi vì trái phiếu được ghi bằng ngoại tệ đôi khi có lãi suất thấp hơn nên các công ty Mỹ thường xem xét việc phát hành trái phiếu ở những nước được ghi bằng những đồng tiền của nước đó. Chẳng hạn, Hewlett Packard, IBM, Pepsi Co và Walt Disney gần đây phát hành trái phiếu ghi bằng đồng Yên Nhật để lợi dụng lãi suất đồng Yên thấp.

    Công ty vay tiền phải thanh toán coupon bằng đồng tiền ghi trên trái phiếu. Nếu đồng tiền này tăng giá so với đồng tiền bản địa của công ty, số tiền cần để thanh toán coupon sẽ tăng lên. Vì lý do này, một công ty không phải bao giờ cũng ghi nợ bằng một đồng tiền biểu hiện lãi suất thấp.

    3.2.3. Quyết định tài chính ngắn hạn

    Các nhà quản trị tiền tệ quốc tế cố gắng đạt được các mục tiêu quản trị quỹ tiền mặt quốc nội trên cơ sở toàn cầu: (1) đảm bảo quỹ tiền mặt của công ty nằm trong tầm kiểm soát một cách nhanh chóng và hiệu quả; và (2) đạt được khả năng hòa vốn và sử dụng các nguồn quỹ này một cách tối ưu nhất.

    Để thực hiện mục tiêu đầu tiên đòi hỏi phải thiết lập các hệ thống dự báo, báo cáo chính xác và kịp thời, cải tiến hoạt động thu chi tiền mặt, và giảm chi phí luân chuyển quỹ giữa các chi nhánh. Mục tiêu thứ hai đạt được bằng cách tối thiểu hóa số dư tiền mặt cần thiết, chuẩn bị tiền sẵn sàng đúng lúc và đúng nơi khi cần, đồng thời tăng doanh thu đã điều chỉnh rủi ro đối với các quỹ có thể đầu tư.

    Quản lý tiền mặt trong các công ty đa quốc gia có thể được chia thành hai chức năng: tối đa hóa sự vận động luồng tiền mặt và đầu tư tiền mặt dư thừa.

    Luồng tiền mặt vào có thể được tối ưu hóa bằng các cách:

    Đẩy nhanh hơn luồng tiền vào

    Đây là mục tiêu đầu tiên trong quản trị tiền mặt của các công ty đa quốc gia, bởi vì luồng tiền mặt vào nhận được càng nhanh thì chúng càng nhanh có thể được đầu tư hoặc sử dụng cho các mục đích khác. Một công ty có thể thiết lập những hộp thư bưu điện được đánh số theo đó các khách hàng được chỉ dẫn để gửi các khoản thanh toán khi giao dịch với công ty.

    Kỹ thuật này giúp giảm thời gian gửi qua bưu điện. Việc tiến hành kiểm tra khoản tiền vào ở mỗi hộp thường được sự trợ giúp của một ngân hàng trên cơ sở hàng ngày.

    Tối thiểu hóa chi phí chuyển đổi tiền tệ

    Một kỹ thuật khác để tối đa hóa sự vận động của luồng tiền mặt là hệ thống “netting” có thể được áp dụng với những nỗ lực kết hợp của các công ty con hoặc bởi nhóm quản trị tiền mặt tập trung. Kỹ thuật này tối đa hóa luồng tiền mặt bằng cách giảm chi phí hành chính và chi phí nghiệp vụ nảy sinh từ việc chuyển đổi các đồng tiền.

    Một hệ thống netting đa phương bao gồm nhiều nghiệp vụ phức tạp đan xen nhau giữa công ty mẹ và một số công ty con. Đối với hầu hết các MNC, một hệ thống như thế sẽ là cần thiết để giảm một cách có hiệu quả các chi phí hành chính và chi phí chuyển đổi đồng tiền.

    Hệ thống này thường được tập trung hóa do đó tất cả các thông tin cần thiết đều được kết hợp. Từ các thông tin về luồng tiền mặt đưa vào, tình trạng luồng tiền mặt đối với mỗi đơn vị và sự ăn khớp nhau vào cuối mỗi kỳ có thể biết được. Nhóm tập trung hóa có thể duy trì hàng tồn kho của các đồng tiền khác nhau do vậy việc chuyển đổi tiền tệ vào cuối kỳ thanh toán có thể được hoàn thành không đòi hỏi các chi phí nghiệp vụ đáng kể.

    Tối thiểu hóa thuế đối với luồng tiền mặt

    Để tối đa hơn nữa luồng tiền mặt, MNC phải xem xét đến vấn đề thuế đánh vào luồng tiền mặt của nó. Nếu chẳng hạn, Chính phủ nước chủ nhà của một chi nhánh nhất định áp đặt một mức thuế thu nhập cao đối với thu nhập của chi nhánh chuyển về công ty mẹ, công ty mẹ của MNC có thể hướng dẫn chi nhánh kìm chế tạm thời việc chuyển thu nhập và thay vào đó là tái đầu tư vào nước chủ nhà.

    Một cách tiếp cận khác là MNC có thể hướng dẫn chi nhánh thiết lập một bộ phận nghiên cứu và phát triển mà nó sẽ mang lại lợi ích cho các chi nhánh ở nơi khác. Mục đích chính đằng sau chiến lược này là để tìm kiếm cách sử dụng có hiệu quả nguồn ngân quỹ ở nước ngoài nếu quỹ không thể chuyển được cho công ty mẹ mà không chịu thuế cao.

    Sự cần thiết phải cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện tín dụng đặc biệt quan trọng đối với những nước có tỷ lệ lạm phát cao. Động cơ khuyến khích khách hàng trì hoãn việc trả tiền nhằm quyết toán số nợ của họ với giá trị tiền thấp hơn trong tương lai là rất lớn.

    Hơn nữa, các tiêu chuẩn tín dụng ở nước ngoài thường rộng rãi hơn ở trong nước. Để duy trì tính cạnh tranh, các công ty đa quốc gia thường nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng của họ. Hệ thống bù trừ ở nhiều công ty có xu hướng nhằm mục đích tăng cường được các thương vụ hơn là mức tăng đầu tư vào các khoản phải thu.

    Nỗ lực nhằm quản trị tốt hơn các khoản phải thu ở nước ngoài sẽ không có hiệu quả nếu không có nỗ lực phối hợp từ bộ phận tài chính và bộ phận marketing. Ở nhiều nước, bộ phận marketing chú trọng đến việc bán hàng, còn bộ phận tài chính quan tâm đến việc đẩy nhanh tốc độ các dòng lưu chuyển tiền tệ. Một cách để giải quyết mâu thuẫn này là đào tạo lực lượng bán hàng nhận thức được tín dụng và việc thu tiền ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty như thế nào.

    Hai quyết định tín dụng then chốt đối với một công ty khi xuất khẩu hàng hóa là mức tín dụng được gia hạn và đồng tiền nào được ghi vào hóa đơn bán hàng theo điều khoản tín dụng. Các điều kiện tín dụng càng dễ dàng thì càng có thể thực hiện được nhiều thương vụ nhưng sự hào phóng này không phải lúc nào cũng là tốt nhất.

    Cùng với thu nhập cao hơn là rủi ro vỡ nợ, chi phí lãi suất tăng đối với các khoản đầu tư tăng lên vào các khoản phải thu và mức giảm giá trị tính theo đô la của các khoản phải thu theo đồng tiền của người mua. Những chi phí phụ trội này có thể được bù đắp một phần nếu các điều kiện tín dụng dễ dàng cho phép công ty có khả năng tăng giá bán.

    Hàng tồn kho dưới dạng nguyên liệu thô, bán thành phẩm hay thành phẩm được dự trữ để tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất bằng việc đảm bảo nguồn cung cấp sẵn có khi cần và cho phép tỷ lệ sản xuất cao hơn đảm bảo rằng hàng hóa có sẵn để giao hàng vào lúc bán.

    Các công ty đa quốc gia với nhiều hoạt động ở nước ngoài đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về quản trị hàng tồn kho,. Ví dụ, các công ty đa quốc gia nhận thấy khó khăn hơn trong việc kiểm soát hàng tồn kho và thực hiện các mục tiêu về tốc độ chu chuyển hàng tồn kho trong các hoạt động ở nước ngoài so với trong nước.

    Có nhiều nguyên nhân: thời gian vận chuyển dài và có thể thay đổi nếu chuyên chở bằng đường biển, quá trình xử lý thủ tục hải quan kéo dài, các cuộc đình công ở cảng, các loại kiểm soát nhập khẩu, thuế quan cao hơn, tình hình gián đoạn nguồn cung cấp và biến động của giá trị tiền tệ.

    Quản lý hàng tồn kho thường quan tâm nhiều đến địa điểm sản xuất và kiểm soát tồn kho. Nhiều công ty đã chuyển sản xuất trong nước ra nước ngoài để tận dụng lợi thế về lao động rẻ và cơ hội được miễn giảm thuế, các khoản vay lãi suất thấp và các ưu đãi khác của Chính phủ nước sở tại.

    Tuy nhiên một số hãng sản xuất đã nhận thấy rằng chi phí sản xuất thấp không phải là tất cả. Sự chậm trễ trong chuyên chở đường biển quốc tế, gián đoạn nguồn cung cấp tiềm tàng, các hãng sản xuất ở nước ngoài đặc biệt thường duy trì khối lượng lớn hơn về sản xuất dở dang và dự trữ thành phẩm so với các doanh nghiệp trong nước. Kết quả là chi phí dự trữ cao hơn.

    Ở nhiều nước đang phát triển, các hợp đồng kỳ hạn về ngoại hối bị hạn chế hoặc không tồn tại. Hơn nữa nhiều giới hạn thường ngăn cản việc chuyển tiền tự do, khiến cho việc chuyển đổi các quỹ dư thành ngoại tệ mạnh trở nên khó khăn, hoặc là không thể thực hiện được. Một trong những cách thức để tự bảo hiểm là mua hàng trước, đặc biệt đối với các mặt hàng nhập khẩu.

    Nếu chẳng hạn, có một khoản thu nhập cao tại một chi nhánh nào đó và một phần của quỹ đã được đầu tư một cách đơn giản vào các chứng khoán thị trường tiền tệ, công ty mẹ có thể yêu cầu các quỹ này từ các chi nhánh. Điều này là có thể trong những thời kỳ khi chi phí cho việc nhận các nguồn ngân quỹ từ nước của công ty mẹ là tương đối cao.

    Trong trường hợp này vốn giao cho công ty mẹ từ các công ty con sẽ không được trả lại. Phương pháp hỗ trợ công ty mẹ này đôi khi có thể khả thi hơn các phương pháp đã đề cập ở trên nếu nó tránh được những hạn chế hoặc áp đặt bởi chính phủ các nước. Nhưng phương pháp này tự nó có những hạn chế hoặc bị giới hạn bởi Chính phủ chủ nhà.

    3.3.3. Quản trị rủi ro tài chính

    Các công ty chỉ hoạt động ở thị trường trong nước thường không phải chú ý nhiều đến các rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro ngoại hối. Nhưng đây lại là vấn đề hết sức quan trọng đối với quản trị tài chính trong các công ty đa quốc gia do đặc thù về sự đa dạng trong các giao dịch cũng như trong việc sử dụng nhiều đồng tiền khác nhau.

    Quản trị rủi ro tài chính bao gồm rất nhiều lĩnh vực: rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị – kinh tế đến từ các quốc gia mà công ty đặt chi nhánh.

    Rủi ro ngoại hối là loại rủi ro đặc trưng và có ảnh hưởng rất lớn đến các công ty đa quốc gia. Khái niệm chung về rủi ro ngoại hối đề cập tới mức độ mà một công ty bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của tỷ giá trao đổi. Trong rủi ro ngoại hối người ta phân biệt ba loại rủi ro cơ bản là rủi ro kế toán, rủi ro giao dịch và rủi ro kinh doanh.

    Rủi ro kinh doanh phản ánh mức độ mà dao động của tiền tệ có thể làm thay đổi các dòng tiền trong tương lai của một công ty, đó là các khoản chi phí và thu nhập trong tương lai của nó. Bất cứ một công ty nào có các khoản chi phí hoặc thu nhập chịu tác động của những thay đổi giá trị tiền tệ đều có rủi ro kinh doanh, ngay cả khi nó là một doanh nghiệp đơn thuần hoạt động trong nước và tất cả các dòng tiền của nó đều là dòng tiền quốc nội.

    Một giải pháp khác là công ty có thể cố gắng viết hóa đơn tất cả các giao dịch bằng đồng nội tệ hoặc bằng một loại ngoại tệ mạnh như Đôla Mỹ để có thể tránh rủi ro giao dịch một cách triệt để. Tuy nhiên, việc loại trừ rủi ro giao dịch không có nghĩa là loại trừ được tất cả rủi ro tỷ giá. Doanh nghiệp đó vẫn có thể phải đối mặt với rủi ro tỷ giá đối với các chi phí và các khoản doanh thu trong tương lai – các dòng tiền kinh doanh của nó.

    Rủi ro kinh doanh là những rủi ro do sự biến động về ngoại hối có thể làm thay đổi doanh thu và chi phí trong tương lai của doanh nghiệp – đó chính là luồng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, đo lường rủi ro kinh doanh cần phải tính trong dài hạn, xem xét doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh mà khả năng cạnh tranh về chi phí và giá của doanh nghiệp có thể chịu tác động của sự thay đổi tỷ giá.

    Do vậy, doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro kinh doanh khi doanh nghiệp này đầu tư vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho một thị trường có sự cạnh tranh từ phía các công ty nước ngoài, hoặc khi hàng hóa và yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất có nguồn gốc nước ngoài.

    Sự đầu tư này có thể là: phát triển sản phẩm mới, xây dựng mạng lưới phân phối, ký hợp đồng cung cấp với đối tác nước ngoài hoặc đầu tư vào máy móc sản xuất. Rủi ro giao dịch xuất hiện sau đó trong trường hợp công ty ký kết các hợp đồng mua bán được thanh toán bằng ngoại tệ.

    Khi đánh giá những rủi ro kinh tế, cho dù một bản báo cáo về rủi ro giao dịch có chi tiết đến đâu, chúng ta vẫn mắc một sai lầm căn bản sau. Đó là chúng ta đã giả thiết rằng chi phí và các khoản thu bằng đồng nội tệ không đổi khi tỷ giá có thay đổi.

    Giả thiết trên khiến cho người tiêu dùng và doanh nghiệp không nghĩ tới việc đưa ra một sự điều chỉnh thích hợp khi mà có sự thay đổi về tỷ giá. Do đó sẽ là sai lầm khi tính toán những khoản lãi hoặc lỗ có thể xảy ra do tỷ giá thay đổi bằng một cách đơn giản là nhân các khoản thu chi theo kế hoạch trước khi phá giá (hoặc tăng giá) với tỷ lệ phá giá hay tăng giá dự kiến.

    Một yếu tố nữa quyết định đến năng lực giải quyết rủi ro tỷ giá là khả năng của doanh nghiệp trong việc điều chỉnh sản xuất và việc tìm kiếm các yếu tố đầu vào từ những nước khác nhau. Doanh nghiệp nào càng linh hoạt trong việc thay thế những yếu tố đầu vào hoặc điều chỉnh sản xuất giữa thị trường trong và ngoài nước thì doanh nghiệp đó càng ít phải đối mặt với rủi ro tỷ giá.

    Nói cách khác, công ty có mạng lưới sản xuất toàn cầu có thể đối mặt với sự biến động của tỷ giá bằng cách tăng sản lượng ở những nước mà đồng bản tệ đang trong tình trạng mất giá và giảm sản lượng ở những nước mà đồng bản tệ đang trong tình trạng tăng giá.

    Khi những biến động về tỷ giá hối đoái dẫn đến những thay đổi tương ứng của giá cả thì khả năng cạnh tranh của công ty cũng thay đổi theo. Kết quả là ban quản lý của công ty phải điều chỉnh không phải chỉ những quyết định về mặt tài chính mà phải điều chỉnh cả quá trình sản xuất hoặc hoạt động marketing tổng hợp sao cho phù hợp với thay đổi của giá cả.

    Song những điều chỉnh về sản xuất và marketing đều có một điểm chung là cần phải có thời gian để đạt được mục tiêu hiệu quả về chi phí. Vai trò của quản trị tài chính trong quá trình này là sắp xếp lại các khoản nợ của công ty sao cho trong khoảng thời gian các điều chỉnh sản xuất được triển khai, việc cắt giảm các khoản thu nhập từ tài sản phải phù hợp với khoản tương ứng về chi phí trả các khoản nợ này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Quản Trị Công Ty
  • Strategic Management / Quản Trị Chiến Lược
  • Bài Giảng Quản Trị Chiến Lược
  • Giáo Trình Quản Trị Chuỗi Cung Ứng
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Quản Lý Chuỗi Cung Ứng
  • Bài 2: Khái Niệm Lãnh Thổ, Biên Giới Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Bao Ve Chu Quyen Lanh Tho Quoc Gia
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Biên Giới……. Giao An Tuan Copy Ppt
  • Bài 1: Chủ Quyền Biên Giới Quốc Gia 111 Doc
  • Bài 3. Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia. K11
  • Định Nghĩa “quốc Gia” Trong Luật Pháp Quốc Tế
  • Lãnh thổ Việt Nam: Lịch sử và hiện tại

    30 năm gắn bó với công tác biên giới lãnh thổ quốc gia, trong đó có 10 năm làm Trưởng ban Biên giới Chính phủ, …

    Nepal muốn đối thoại song phương về tranh chấp biên giới với Trung Quốc

    Theo Nepal times, tờ Annapurna Post tiết lộ rằng một số làng ở Nepal thực sự nằm trong lãnh thổ Trung Quốc. Nepal cho rằng …

    Ngoại trưởng Ấn Độ cáo buộc Trung Quốc trong vụ đụng độ biên giới

    Ngoại trưởng Ấn Độ cho biết Trung Quốc đã “lên kế hoạch từ trước” vụ đụng độ biên giới hai quốc gia và phải chịu …

    Lãnh thổ quốc gia

    Lãnh thổ quốc gia là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia. Trong phạm vi lãnh thổ đó, Nhà nước của Quốc gia sở hữu, có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền tối cao đó chính là chủ quyền quốc gia mà nội hàm của nó là: mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia phải do quốc gia đó quyết định, các quốc gia khác, cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp. Mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó phải tuân thủ pháp luật của quốc gia, nếu điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết không có quy định khác.

    Lãnh thổ quốc gia là một trong 3 yếu tố cơ bản hợp thành không thể thiếu của Quốc gia; đó là: Lãnh thổ, Dân cư, Nhà nước, thiếu yếu tố lãnh thổ thì không thể có Quốc gia theo đúng nghĩa của nó.

    Lãnh thổ quốc gia là nền tảng vật chất,là môi trường cho mỗi Quốc gia tồn tại và phát triển trong mối quan hệ tất yếu trên nhiều phương diện với các quốc gia láng giềng, khu vực và quốc tế.

    Biên giới quốc gia

    Biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng trời và lòng đất nằm trong lãnh thổ của một quốc gia; là nơi phân định phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền của một quốc gia này với một quốc gia khác hoặc với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đó. Cần phân biệt 2 thuật ngữ: Đường biên giới và Biên giới:

    Đường biên giới quốc gia là một đường cụ thể được vạch rõ ràng trên mặt đất, mặt nước, và được đánh dấu trên thực địa bằng hệ thông mốc và/hoặc các dấu hiệu khác,được vẽ trên các bản đồ và được ghi trong các Hiệp ước, Hiệp định, Nghi định thư biên giới.

    Biên giới quốc gia thực chất là sự liên kết nhiều bề mặt để tạo nên một hình khối, trong đó chứa đựng vùng đất, vùng nước, vùng trời, lòng đất thuộc lãnh thổ quốc gia. Các bề măt này có phương thẳng đứng đi từ tâm trái đất, qua đường biên giới, rồi lên không trung, bao gồm: mặt phẳng, mặt cong và một mặt cầu (giới hạn độ cao vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia).

    Mốc 1378 là cột mốc cuối cùng của biên giới Việt – Trung nằm ở cửa sông Bắc Luân trên hòn Dậu Gót, Móng Cái, Quảng Ninh. Xung quanh là nước, mốc được xây thành hình trụ khá cao để khi có thủy triều lên xuống vẫn nhìn thấy cột phân chia cửa sông giữa 2 nước. Ảnh: Nguyễn Tiến Hùng

    Cần lưu ý các mặt biên giới quốc gia chỉ là tưởng tượng được suy ra từ đường biên giới quốc gia. Xét về điều kiện tiên quyết để hình thành biên giới quốc gia thì đường biên giới quốc gia quyết định trực tiếp đến việc xác lập biên giới quốc gia.

    Quá trình hình thành và những nguyên tắc xác định biên giới quốc gia

    Biên giới quốc gia hình thành và phát triển luôn luôn gắn liền với sự hình thành các quốc gia trải qua quá trình lịch sử mở mang và định hình phạm vi lãnh thổ giữa các quốc gia đã diễn ra trong lịch sử phát triển của nhân loại kể từ thời cổ đại, qua trung đai, đến cận đại và hiện đại, theo những phương thức thụ đắc lãnh thổ phổ biến và được thừa nhận có hiệu lực cho từng thời kỳ lịch sử đó.

    Bước vào thời đại văn minh, cùng với sự xác lập tình trạng xã hội có giai cấp, nhà nước xuất hiện để quản lý lãnh thổ, dân cư sống trong phạm vi lãnh thổ của mình và cùng với sự ra đời đó, biên giới quốc gia cũng được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Lúc sơ khai, khi các quốc gia cổ đại đầu tiên ra đời, giữa các quốc gia còn có nhiều vùng đất, vùng nước vô chủ; đó là những địa hình, địa vật tự nhiên, như vùng rừng núi, sông ngòi, sa mạc, biển cả… các lãnh thổ vô chủ đó được coi là “vùng biên cương”, “miền biên thùy”, là hình thức sơ khai của biên giới quốc gia.

    Đến thời kỳ đầu của giai đoạn lịch sử cận đại (từ năm 1640 đến năm 1917), do một loạt các nhà nước đã ra đời trên phạm vi toàn thế giới và, do trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý nhà nước ngày càng phát triển, lãnh thổ vô chủ dần dần bị thu hẹp lại, phạm vi lãnh thổ của các quốc gia xích lại, tiếp giáp nhau hơn, dẫn tới đường biên giới xuất hiện. Lúc đầu chỉ là đường biên giới trên đất liền và về sau, do sự phát triển không ngừng của xã hội, sự tác động mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, lãnh thổ quốc gia đã mở rộng ra phía biển, lên không trung, xuống lòng đất…theo đó, biên giới quốc gia cũng được mở rộng và tồn tại dưới các hình thức như sau: Biên giới đất liền, Biên giới biển, Biên giới trong lòng đất, Biên giới trên không.

    Để giải quyết các tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia, Luật pháp và thực tiễn quốc tế đã áp dụng các nguyên tắc phổ biến, chủ yếu là:

    -Nguyên tắc kế thừa các hiệp ước quốc tế về biên giới lãnh thổ.

    – Nguyên tắc dùng các đường biên giới đã có.

    -Nguyên tắc xác định các đoạn biên giới mới.

    Phương thức giải quyết tranh chấp biên giới đất liền gữa các quốc gia

    Tranh chấp biên giới đất liền giữa các quốc gia là một loại tranh chấp quốc tế phổ biến thường được ưu tiên giải quyết giữa các quốc gia láng giềng sau khi quan hệ ngoại giao đã được thiết lập. Nguy cơ xung đột quân sự và chiến tranh có thể xẩy ra khi tranh chấp quốc tế này không được giải quyết tận gốc. Ngoài ra, giải quyết tranh chấp còn góp phần thúc đầy các quốc gia tuân thủ và thực hiện luật quốc tế triệt để hơn. Việc giải quyết này phải được thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với luật quốc tế, trên cơ sở điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đã được các bên tranh chấp thừa nhận áp dụng để giải quyết tranh chấp theo Khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế:

    “a. Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận; b. Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật; c. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận. d. Với những điều kiện nêu ở điều 59, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các quy phạm pháp luật.”

    Bên cạnh việc ghi nhận nguyên tắc giải quyết tranh chấp hòa bình, Hiến chương Liên Hợp quốc cũng đã xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế tại Điều 33: “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình.”

    Một đoạn hàng rào ở biên giới tại bang New Mexico, Mỹ. Ảnh: Reuters.

    Quy trình giaỉ quyết và xác lập biên giới đất liền giữa các nước láng giềng

    Để xác lập biên giới đất liền, theo thông lệ quốc tế, các quốc gia hữu quan phải cùng nhau triển khai công việc trọng đại này qua 4 giai đoạn:

    Giai đoạn thứ nhất: Đàm phán ký kết thỏa thuận nguyên tắc mà nội dung chủ yếu là thông nhất những căn cứ pháp lý, chính trị, thủ tục pháp lý, hình thức tổ chức, cơ chế đàm phán. Đây là tiền đề không thể thiếu khi các bên có thiện chí muốn giải quyết dứt điểm các tranh chấp biên giới lãnh thổ.

    Giai đoạn thứ hai: Hoạch định biên giới. Nội dung của giai đoạn này chủ yếu là đàm phán giải quyết các bất đồng, tranh chấp lãnh thổ do nhận thức khác nhau để thống nhất việc mô tả hướng đi của đường biên giới và thể hiện hướng đi đó trên một bộ bản đồ địa hình mà hai bên thống nhất lựa chọn. Tất cả nội dung công việc này được thể hiện rõ ràng, đầy đủ, chính xác trong Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia, gọi tắt là Hiệp ước biên giới. Nội dung của Hiệp ước này là nền tảng, là cơ sở pháp lý duy nhất, làm chỗ dựa để các bên triển khai giai đoạn phân giới cắm mốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Quốc Gia Và Vùng Lãnh Thổ Là Gì?
  • Bài Biên Giới Quốc Gia,, Hay Nhất Bgqgthigiang23 Ppt
  • Nguồn Lực (Resource) Là Gì? Vấn Đề Khan Hiếm
  • Đề Cương Ôn Tập Môn Quản Lý Nguồn Nhân Lực Xã Hội
  • Khai Thác Nguồn Lực Xã Hội Để Phát Triển Hài Hòa
  • Khái Niệm Và Các Loại Hình Chiến Lược Kinh Doanh Quốc Tế Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Doanh Quốc Tế Là Gì? Những Quan Trọng Không Thể Bỏ Qua
  • Lý Thuyết Về Kinh Doanh Ăn Uống Của Nhà Hàng Trong Khách Sạn
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Dịch Vụ Ăn Uống Tại Khách Sạn Hải Phòng, Hay
  • Khái Niệm Và Ví Dụ Về Tầm Nhìn Sứ Mệnh Mục Tiêu Của Doanh Nghiệp
  • C2C (Consumer To Consumer) Là Gì? Định Nghĩa Và Ví Dụ
  • Khi xác định chiến lược kinh doanh quốc tế của mình, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế luôn phân tích thị trường quốc tế trên khía cạnh cơ hội tăng trưởng, cắt giảm chi phí và rủi ro khi khác biệt hóa trong bối cảnh phải thỏa mãn nhu cầu trái ngược nhau giữa liên kết toàn cầu và đáp ứng địa phương.

    Thông thường, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế sử dụng bốn loại hình chiến lược cơ bản để hỗ trợ họ trong việc thâm nhập và cạnh tranh trên môi trường toàn cầu: chiến lược quốc tế, chiến lược đa quốc gia, chiến lược toàn cầu và chiến lược xuyên quốc gia. Mỗi chiến lược đều có điểm khác biệt căn bản tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp và việc tạo lập, điều hành các khâu và công đoạn trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp.

    + Luận văn chiến lược kinh doanh

    + Mục tiêu chiến lược là gì

    1. Khái niệm chiến lược kinh doanh quốc tế

    1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh quốc tế là gì

    Chiến lược quốc tế là công ty thực hiện một chiến lược kinh doanh trên tất cả các thị trường trong và ngoài nước của mình, bằng cách chuyển dịch các kỹ năng và sản phẩm có giá trị cho thị trường nước ngoài, nơi mà các đối thủ cạnh tranh bản xứ thiếu các kỹ năng hoặc sản phẩm này. Các sản phẩm của công ty được nghiên cứu và phát triển từ công ty mẹ rồi mới được sản xuất ở các xưởng, bộ phận ngoài nước.

    Cách thức tiếp thị sản phẩm ở các thị trường ngoài nước cũng giống với cách tiếp thị sản phẩm ở thị trường trong nước. Và chỉ đáp ứng một phần ít sự khác biệt hóa địa phương trong việc cung cấp sản phẩm hay chiến lược marketing. Các hoạt động sản xuất và tiếp thị của các công ty con được kiểm soát chặt chẽ bởi công ty mẹ.

    Chiến lược kinh doanh quốc tế là gì

    1.2 Chiến lược toàn cầu

    Chiến lược kinh tế toàn cầu là sự mở rộng thị trường ra ngoài biên giới quốc gia bằng cách tiêu chuẩn hóa các sản phẩm và dịch vụ. Mục đích là để mở rộng thị trường, sản xuất được nhiều hàng hóa, có nhiều khách hàng và kiếm được lợi nhuận cao hơn. Bên cạnh đó, việc thực hiện chiến lược toàn cầu giúp công ty khai thác và phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.

    1.3 Chiến lược đa thị trường nội địa

    Là chiến lược hướng đến việc tối đa hóa đáp ứng nhu cầu địa phương. Đặc điểm của công ty thực hiện chiến lược đa thị trường nội địa là họ tùy biến sản phẩm và chiến lược marketing để phù hợp với yêu cầu địa phương. Xảy ra đồng thời với xu hướng toàn cầu hóa, chiến lược đa thị trường nội địa có một xu hướng trái ngược lại khuyến khích các công ty thích ứng các hoạt động trãi rộng khắp trên thế giới với những đặc điểm và điều kiện cụ thể.

    1.4 Chiến lược xuyên quốc gia

    Là việc khám phá kinh tế chi phí dựa trên kinh nghiệm và kinh tế vùng, làm tất cả để tập trung vào đáp ứng yêu cầu địa phương, tận dụng được các lợi thế từ địa phương như: nguồn vốn, lao động, các chính sách hỗ trợ…

    Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp đại học Hà Nội, Hồ Chí Minh,… để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

    2. Các loại hình chiến lược kinh doanh quốc tế là gì

    4. Điều kiện áp dụng các chiến lược kinh doanh quốc tế là gì

    4.1 Chiến lược kinh doanh quốc tế:

    – Từ khái niệm và những ưu nhược điểm của chiến lược quốc tế chúng ta có thể khái quát những điều kiện cần thiết để công ty thực hiện chiến lược này bao gồm:

    – Một là, công ty có tiềm lực tài chính vững mạnh để có thể xây dựng lại toàn bộ hệ thông sản xuất và hệ thống phân phối ở các thị trường ngoài nước. Đồng thời cũng tạo điều kiện để công ty tồn tại và đối phó với các đối thủ cạnh tranh khi họ có những hành động làm ảnh hưởng tới công ty như: giảm giá, khuyến mại,..

    – Hai là, công ty có khả năng tạo ra sự khác biệt về kỹ năng, sản phẩm mà các đối thủ nội địa khó đáp ứng. Do công ty cung cấp các sản phẩm giống nhau trên tất cả thị trường của mình nên sản phẩm của công ty phải có những ưu thế hơn hẳn so với các đối thủ trong nước thì mới có thể cạnh tranh được.

    – Ba là, công ty hoạt động trong lĩnh vực có sức ép giảm giá thấp. Chiến lược quốc tế đòi hỏi nguồn kinh phí khá cao, chi phí sản xuất sản phẩm gần như được cố định bởi chi phí đầu tư cho các trang thiết bị sản xuất lúc ban đầu nên rất khó để giảm giá thành. Vì vậy nếu thị trường yêu cầu giảm giá mạnh thì công ty không thể đáp ứng và dễ dàng bị đào thải khỏi thị trường.

    – Bốn là, sức ép yêu cầu đáp ứng địa phương thấp. Sản phẩm và các hoạt động chiêu thị ở các thị trường là như nhau do vậy các sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu tương đồng của các khách hàng khác nhau ở những nơi khác nhau. Chiến lược không đáp ứng được hết các yêu cầu của từng địa phương.

    – Tóm lại, chiến lược quốc tế chỉ thích hợp với những công ty có khả năng tạo ra sự khác biệt với đối thủ về kỹ năng hay sản phẩm. Đồng thời công ty đó phải hoạt động trong lĩnh vực có sức ép giảm chi phí và yêu cầu đáp ứng nhu cầu địa phương thấp

    Ví dụ: Thành công của Mcdonald’s với chiến lược quốc tế

    4.2 Chiến lược toàn cầu:

    – Một là, để thực hiện chiến lược toàn cầu trước hết cần phải căn cứ vào những yếu tố nội bộ của doanh nghiệp như: đủ tiềm lực về tài chính, nguồn nhân lực có chuyên môn cao , trình độ quản lý chuyên nghiệp, có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế như am hiểu về văn hóa, pháp luật và chính trị của quốc gia sẽ kinh doanh .

    – Hai là, dựa vào đặc tính của sản phẩm. Với chiến lược toàn cầu, các sản phẩm của công ty tại mỗi thị trường là như nhau, nghĩa là với cùng một loại sản phẩm sẽ được công ty đưa đến toàn bộ các thị trường trong và ngoài nước mà sự thay đổi về hình dáng, mẫu mã, chất lượng,… là không đáng kể thậm chí là không có. Nói đúng hơn là nhu cầu về một loại sản phẩm của các khách hàng ở mỗi thị trường không có sự khác biệt nhiều. Tóm lại, chiến lược toàn cầu sẽ khả thi khi áp lực về đòi hỏi đáp ứng địa phương thấp.

    – Ba là, Sức ép giảm chi phí cao. Khi hoạt động sản xuất kinh doanh tốn khá nhiều chi phí thì hoạt động theo chiến lược toàn cầu sẽ giúp tiết kiệm chi phí rất nhiều. Sản phẩm được kinh doanh ở các thị trường là như nhau, do đó, doanh nghiệp san sẻ khối lượng sản phẩm giữa cácthị trường dễ dàng. Sản phẩm được sản xuất ở thị trường này vẫn được bán ở thị trường khác một cách thuận lợi. Các doanh nghiệp không cần phải đặt nhà máy sản xuất ở tất cả các thị trường.

    – Hơn thế nữa, với lợi thế về chi phí thấp chiến lược này sẽ giúp các công ty dễ dàng tấn công vào thị trường quốc tế, nhất là khi trên thế giới quan tâm đến vấn đề tiết kiệm chi phí.

    – Ngoài ra, chiến lược toàn cầu hóa sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn khi lĩnh vực kinh doanh của công ty nằm trong chính sách khuyến khích kinh doanh của các quốc gia mà công ty nhắm đến. Sản phẩm được đưa đến các nước này là sản phẩm vốn có của doanh nghiệp, chúng không những không gặp nhiều rào cản thương mại mà còn nhận được sự ưu ái của chính phủ các nước này. Đồng thời, cũng không chịu nhiều sự chống đối của các tổ chức và người dân của quốc gia đó.

    – Nói chung, để thực hiện chiến lược toàn cầu doanh nghiệp cần quan sát, nghiên cứu kỹ về tình hình của chính doanh nghiệp, sản phẩm kinh doanh, tình hình thế giới cũng như tình hình kinh doanh, điều kiện kinh doanh ở nước ngoài.

    : Ví dụ VNPT Global với chiến lược toàn cầu

    4.3 Chiến lược đa thị trường nội địa:

    – Sự khác biệt về văn hóa và xã hội đòi hỏi phải có những thay đổi trong chiến thuật. Các chính quyền của các nước trên thế giới cũng thường đòi hỏi rằng các hành động của các công ty là phải phù hợp với lợi ích của nước sở tại.

    – Khó khăn trong việc tiêu chuẩn hóa bởi vì những khác biệt giữa các quốc gia và bởi vì tiềm năng có do tiết kiệm quy mô là rất ít. Ngay việc dùng một cái tên chung cũng có nhiều bất tiện vì sự liên kết về ngôn ngữ mỗi nơi mỗi khác. Ví dụ xe tải của Ford hiện là Fiera lại có nghĩa là “bà già xấu xí” ở những nước nói tiếng Tây Ban Nha. Một nhãn hiệu mang tính địa phương có thể kích thích sự tự hào, có thể kết nối với những truyền thông hay đặc điểm của địa phương. Còn một tên nhãn mang tính toàn cầu có thể có ý nghĩa xấu ở một số địa phương hoặc có thể liên kết vào chính trị của một nước và do đó cũng thăng trầm theo những biến cố quốc tế.

    Ví dụ: Phân tích chiến lược kinh doanh quốc tế của cocacola

    4.4 Chiến lược xuyên quốc gia :

    – Chiến lược xuyên quốc gia tập trung các nỗ lực chuyển giao các kỹ năng và cung cấp theo nhiều chiều giữa các công ty con trên toàn cầu.

    – Chiến lược xuyên quốc gia có nghĩa là khi một công ty đối mặt với áp lực giảm chi phí cao và áp lực đáp ứng yêu cầu địa phương cao. Một công ty áp dụng chiến lược xuyên quốc gia phải cố gắng đạt mục tiêu chi phí thấp và lợi thế khác biệt. Như chúng ta thấy, chiến lược này không dễ: áp lực cho đáp ứng yêu cầu địa phương và giảm chi phí là những mâu thuẫn trong công ty. Đáp ứng yêu cầu địa phương sẽ nâng phí, đồng thời yêu cầu giảm phí sẽ khó để đạt được. Làm thế nào để công ty có thể áp dụng chiến lược xuyên quốc gia ?

    – Vài ý tưởng có được từ trường hợp của Caterpillar Inc. Cuối thập niên 70 nhu cầu cạnh tranh với các đối thủ có chi phí thấp như là Komatsu và Hitachi của Nhật buộc Caterpillar tìm đến kinh tế chi phí lớn hơn. Cùng lúc, sự khác nhau về thực tiễn xây dựng và qui định của chính phủ cho phép Caterpillar có thể duy trì sự đáp ứng với nhu cầu địa phương.

    2.1 Chiến lược quốc tế (International Strategy)

    Các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược kinh doanh quốc tế bằng cách xuất khẩu các sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài, khai thác hiệu quả các năng lực cốt lõi của mình tại các thị trường nước ngoài nơi mà các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó không có, hoặc có nhưng năng lực yếu. Đây cũng thường là chiến lược ban đầu mà các doanh nghiệp lựa chọn khi bước đầu thâm nhập vào thị trường quốc tế.

    Các doanh nghiệp này có xu hướng tập trung chức năng nghiên cứu và phát triển và sản xuất sản phẩm ở trong nước và thiết lập hệ thống phân phối và tiếp thị ở quốc gia mà doanh nghiệp kinh doanh hoặc dựa vào hệ thống sẵn có ở quốc gia đó để phân phối sản phẩm. Chiến lược quốc tế thường được áp dụng khi doanh nghiệp có những năng lực cốt lõi mà các đối thủ cạnh tranh ở nước sở tại không có, hoặc khó phát triển, đuổi kịp hoặc bắt chước được nên các doanh nghiệp này không chịu sức ép phải nội địa hóa sản phẩm và phải giảm giá thành sản phẩm. Thực hiện chiến lược quốc tế, trụ sở chính của hãng đóng vai trò trung tâm, từ trụ sở chính các chính sách được hoạch định một chiều tới tất cả các thị trường trên toàn cầu.

    Đối với một số hãng thời trang cao cấp, chiến lược quốc tế trở nên rất phù hợp, như hãng Louis Vouston. Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm của hãng này lại gặp phải một thách thức rất lớn là hàng giả, hàng nhái từ Trung Quốc. Đối với một số doanh nghiệp khác, ban đầu thì thực hiện chiến lược quốc tế, sau đó cũng phải thay đổi chiến lược để đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của từng thị trường khi môi trường cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn. Đặc biệt, khi sức ép buộc phải thay đổi sản phẩm và dịch vụ cho phù hợp với thị hiếu và sở thích của từng thị trường tăng lên, các doanh nghiệp thực hiện chiến lược này sẽ gặp thách thức và dễ bị thua thiệt so với các công ty linh hoạt trong việc điều chỉnh thích nghi phù hợp với điều kiện địa phương.

    Các loại hình chiến lược kinh doanh quốc tế là gì

    2.1 Chiến lược đa quốc gia (Multinational Strategy)

    Chiến lược đa quốc gia là chiến lược mà theo đó doanh nghiệp sẽ thực hiện một chiến lược riêng biệt cho mỗi quốc gia nơi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của mình. Đây là chiến lược các doanh nghiệp thực hiện địa phương hóa sản phẩm và phương thức tiếp thị sản phẩm sao cho phù hợp với thị hiếu và sở thích của từng thị trường quốc gia. Để thực hiện chiến lược này, các công ty thường thành lập các công ty con độc lập, hoặc các liên doanh ở các thị trường khác nhau. Thông thường, các công ty con hay liên doanh này sẽ thực hiện cả công đoạn nghiên cứu và phát triển sản phẩm, sản xuất và marketing sản phẩm tại thị trường địa phương. Chiến lược đa quốc gia thường thích hợp với các công ty trong các ngành mà thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng không giống nhau ở các nước khác nhau, như các sản phẩm thực phẩm, hóa mỹ phẩm hoặc hàng tiêu dùng.

    Những công ty thực hiện chiến lược đa quốc gia thường phân cấp nhiều cho các công ty con ở mỗi nước, trụ sở chính của công ty cho phép các công ty con được quyền đưa ra những quyết định quản trị sao cho đạt được mục tiêu của công ty. Các công ty theo mô hình này coi trọng các nhân sự quản trị có kinh nghiệm, gần gũi với thị trường cả về mặt triết lý, văn hóa và vật chất. Chiến lược đa quốc gia phù hợp với các doanh nghiệp gặp phải sức ép cao từ việc phải thích nghi và điều chỉnh theo các yêu cầu của địa phương và không gặp phải sức ép từ việc phải cung cấp sản phẩm tại thị trường nước ngoài với chi phí thấp.

    Với những công ty con thực hiện chiến lược đa quốc gia cho phép doanh nghiệp tối thiểu hóa được những rủi ro chính trị, rủi ro về tỷ giá hối đoái do không có nhu cầu cao phải chuyển tiền về trụ sở chính, tạo lập được uy tín của doanh nghiệp tại nước đầu tư, có năng lực đổi mới và sáng tạo cao do khai thác được công nghệ, năng lực phát triển ở từng địa phương, có khả năng có tốc độ tăng trưởng cao do tính chủ động và tinh thần doanh nhân được chú trọng.

    Công ty Proter & Gamble là công ty tiêu biểu cho việc thực hiện chiến lược đa quốc gia. Những đổi mới trong việc giảm độ dày của tã trẻ em mà không ảnh hưởng tới mức độ thấm nước được phát triển tại công ty con của hãng tại Nhật Bản đã không chỉ mang lại lại ích cho công ty con tại Nhật Bản mà còn mang lại lợi ích cho cả tập đoàn. Tuy nhiên, những lợi ích có được từ việc thực hiện chiến lược này cũng kèm theo đó là những hạn chế. Thực hiện chiến lược này không cho phép các doanh nghiệp khai thác được lợi ích kinh tế nhờ quy mô trong việc phát triển, sản xuất và marketing sản phẩm mà thường tạo ra sự cồng kềnh trong các công đoạn quản trị, thiết kế, sản xuất và marketing. Mỗi công ty con lại xây dựng một hệ thống quy trình riêng để đáp ứng nhu cầu đặc thù của từng thị trường.

    Chính vì vậy, chiến lược đa quốc gia thường làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp và buộc các doanh nghiệp này phải bán hàng hóa và dịch vụ với giá cả cao để bù đắp được chi phí này. Hay nói cách khác, chiến lược này không phù hợp với các doanh nghiệp gặp phải sức ép lớn trong việc phải giảm chi phí, hoặc các doanh nghiệp trong các ngành mà công cụ cạnh tranh chủ yếu là bằng giá cả. Ngoài ra, việc giao quyền tự chủ quá nhiều cho các công ty con đôi khi cũng làm cho các định hướng, kế hoạch, kỳ vọng của trụ sở chính công ty rất khó được thực hiện.

    Trụ sở chính thay vì có vai trò trọng tâm như tại doanh nghiệp thực hiện chiến lược quốc tế chỉ có vai trò hỗ trợ và thuyết phục. Và đôi khi chi phí thuyết phục cũng rất cao. Ví dụ, như tại hãng Johnson & Johnson đã giới thiệu sản phẩm thuốc Tylenol, một sản phẩm giúp giảm đau và hạ sốt, trên thị trường Hoa Kỳ từ năm 1960 nhưng công ty con của hãng tại Nhật Bản chỉ bắt đầu bán sản phẩm này từ năm 2000.

    2.3 Chiến lược toàn cầu (Global Strategy)

    Chiến lược toàn cầu là chiến lược doanh nghiệp coi thị trường toàn cầu như một thị trường thống nhất nên doanh nghiệp sản xuất và cung cấp những sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, đồng nhất và giống nhau, như sản phẩm điện tử, thép, giấy, bút, các dịch vụ như dịch vụ vận chuyển bưu kiện… Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược này có những sản phẩm toàn cầu, sản xuất trên quy mô toàn cầu tại một số ít các địa điểm phân xưởng hiệu quả cao và thực hiên tiếp thị sản phẩm thông qua một số ít kênh phân phối tập trung.

    Các doanh nghiệp này giả định rằng không có sự khác biệt gì giữa các nước khi đề cập tới thị hiếu và sở thích của khách hàng, và nếu có sự khác biệt thì khách hàng vẫn bỏ qua do có điều kiện mua được sản phẩm có chất lượng tương đối tốt với một mức giá thấp. Trên thực tế, các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược này nhằm mục tiêu trở thành doanh nghiệp chi phí thấp của ngành đó trên toàn cầu. Để tiết kiệm chi phí, các doanh nghiệp xây dựng các cơ sở sản xuất quy mô toàn cầu ở các địa điểm có chi phí thấp để làm nền tảng cho các hoạt động vận hành hiệu quả như việc mở nhà máy gia công tại Việt Nam, nhà máy sản xuất các linh kiện ô tô tại Trung Quốc hay trung tâm dịch vụ trả lời điện thoại ở Ấn Độ.

    Trên thực tế, càng nhiều ngành công nghiệp và cả dịch vụ xuất hiện các điều kiện trên. Ví dụ, ngành công nghiệp không dây theo các tiêu chuẩn toàn cầu có thể tạo ra nhu cầu lớn cho các sản phẩm toàn cầu tiêu chuẩn ở tất cả các nước. Ngành thẻ tín dụng đã xác định được một loạt tiêu chuẩn và quy định về việc thanh toán điện tử sẽ hỗ trợ khách hàng sử dụng và các cửa hàng chấp nhận hình thức thanh toán này trên thế giới. Trong cả hai trường hợp, công ty Nokia hay Texas Instruments trong ngành viễn thông không dây hay công ty American Expss trong ngành thẻ tín dụng đều theo đuổi chiến lược toàn cầu. Thông qua việc theo đuổi chiến lược toàn cầu, doanh nghiệp cũng có thể thực hiện một giao dịch cho phép khai thác được mạng lưới phân phối toàn cầu, kiểm soát tài chính được chuẩn hóa, và các thông điệp toàn cầu.

    Nhược điểm chủ yếu của chiến lược toàn cầu là làm cho doanh nghiệp không chú ý đến sự khác biệt quan trọng trong sở thích của người mua giữa các thị trường khác nhau. Một chiến lược toàn cầu không cho phép doanh nghiệp thay đổi sản phẩm, trừ khi những thay đổi đó không làm chi phí tăng lên đáng kể. Điều này có thể tạo ra cơ hội cho đối thủ cạnh tranh nhảy vào và đáp ứng nhu cầu đang bị bỏ trống của người tiêu dùng và tạo ra một thị trường mới. Chiến lược này không thích hợp với những nơi đòi hỏi tính thích nghi địa phương và nội địa hóa cao.

    2.4 Chiến lược xuyên quốc gia (transnational strategy)

    Chiến lược xuyên quốc gia được cho là chiến lược phản ánh trực tiếp quá trình toàn cầu hóa kinh doanh ngày càng sâu sắc trên thế giới. Theo quan điểm thực hiện chiến lược xuyên quốc gia, môi trường ngày nay là môi trường của thế hệ người tiêu dùng, các ngành công nghiệp và thị trường có mối liên hệ chặt chẽ và tương tác qua lại. Môi trường này đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải phát triển các phương thức cho phép xác định chuỗi giá trị của doanh nghiệp vừa khai thác được cả lợi ích về địa điểm và sự khác biệt giữa các quốc gia, vừa khai thác được năng lực cốt lõi của doanh nghiệp, lại vừa đảm bảo được tính thích nghi và nội địa hóa các sản phẩm theo yêu cầu của từng thị trường.

    Các doanh nghiệp áp dụng chiến lược xuyên quốc gia tại mỗi các nước khác nhau phải phát triển những năng lực và kỹ năng khác nhau, đồng thời phải tìm hiểu, học hỏi và nhận thức một cách có hệ thống về các môi trường khác nhau, sau đó liên kết và chia sẻ những tri thức có được này trên toàn bộ hệ thống toàn cầu của doanh nghiệp.

    Chính vì vậy, khai niệm xuyên quốc gia của chiến lược này tạo ra một khuôn khổ công nghệ, nguồn lực tài chính, các ý tưởng sáng tạo và con người có mối liên kết chặt chẽ cho phép doanh nghiệp phát triển đáng kể, vượt lên trên các ý tưởng của chiến lược quốc tế, chiến lược đa quốc gia và chiến lược toàn cầu. Điều kiện đầu tiên của chiến lược xuyên quốc gia là phải có được tính thích nghi, nội địa hóa các sản phẩm theo thị trường địa phương, kết hợp với mức độ hiệu quả cạnh tranh của quá trình liên kết toàn cầu – đây chính là sự liên kết các đặc điểm đặc thù của chiến lược đa quốc gia và chiến lược toàn cầu.

    Tuy nhiên, chiến lược xuyên quốc gia có đặc điểm đặc thù và giúp phân biệt với các chiến lược kinh doanh quốc tế khác. Đó là khi thực hiện chiến lược xuyên quốc gia, các doanh nghiệp đi vào bản chất của quá trình toàn cầu hóa để liên tục học hỏi, phát triển và tiến hóa. Các doanh nghiệp phát triển các kỹ năng mới, sáng tạo và hiệu quả từ bất kỳ một nơi vận hành nào trong hệ thống toàn cầu của mình, sau đó khai thác sử dụng những kỹ năng mới này làm phát triển thêm năng lực cốt lõi của doanh nghiệp, rồi chia sẻ, truyền bá những đổi mới đó trên khắp hệ thống toàn cầu của doanh nghiệp.

    Chính vì vậy, quy trình quản lý, vận hành và hoạt động, thực hiện các ý tưởng chiến lược không dừng lại là top-down, từ trên xuống, từ trụ sở chính xuống các công ty con; hay là bottom-up, từ dưới lên, từ các công ty con lên trụ sở chinh mà được kết hợp nhuần nhuyễn cả hai cách. Chính vì vậy, chiến lược xuyên quốc gia siêu việt hơn trong cách sáng tạo ra các ý tưởng đổi mới, tới ứng dụng các ý tưởng đó nhanh chóng vào hệ thống mà không quan trọng ý tưởng đó được sáng tạo ra ở đâu hay ở cấp nào. Điểm siêu việt này được gọi là “học hỏi toàn cầu – global learning„.

    Năng lực học hỏi toàn cầu này mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Ví dụ, doanh nghiệp có thể phát triển được các năng lực nội bộ cho phép thực hiện các cách khác nhau đa diện hơn khi môi trường thay đối, cân đối được giữa nguồn nội lực và mạng lưới bên ngoài của các công ty khác, và liên kết chặt chẽ các công ty con của hệ thống mà không áp đặt một cách quan liêu và thiếu cân nhắc.

    Sau đó, chính những năng lực này cho phép doanh nghiệp tiêu chuẩn hóa một số liên kết trong chuỗi giá trị của hệ thống để tối đa hóa tính hiệu quả cũng như xây dựng các liên kết để đáp ứng nhu cầu nội địa theo cách không cần phải hy sinh lợi ích của nhau. Mặc dù chiến lược xuyên quốc gia mang lai nhiều lợi ích và ưu thế cho doanh nghiệp nhưng để thực hiện chiến lược này rất khó do việc xây dựng quá trình điều phối các chuỗi giá trị trên toàn cầu để phát huy được ưu điểm của chiến lược là thách thức đối với bất kỳ doanh nghiệp nào và đứng trước các nguy cơ phá sản những ý tưởng đó.

    Các công ty như GE, Mashushita, Acers đều gặp phải những thách thức tương tự khi áp dụng chiến lược xuyên quốc gia. Thông thường chiến lược xuyên quốc gia sẽ phù hợp với các doanh nghiệp mà sức ép về việc nội địa hóa và sức ép cạnh tranh, phải hiệu quả về chi phí đều ở mức độ cao và doanh nghiệp có cơ hội xây dựng và khai thác được năng lực cốt lõi của mình trên phạm vi toàn hệ thống của doanh nghiệp. Trong thập kỷ 1990 của thế kỷ XX, điều kiện này đã trở thành điều kiện phát triển đối với một số doanh nghiệp. Và môi trường và điều kiện cạnh tranh ngày càng cao và khắc nghiệt trên thị trường toàn cầu sẽ càng khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp điều chỉnh chuỗi giá trị của mình để áp dụng chiến lược này.

    3. Ưu điểm và nhược điểm các chiến lược kinh doanh quốc tế là gì

    3.1 Ưu điểm của các chiến lược kinh doanh quốc tế là gi

    – Chiến lược kinh doanh quốc tế

    – Chiến lược toàn cầu:

    Khám phá tác động của đường cong kinh nghiệm và khai thác kinh tế vùng.

    – Chiến lược đa thị trường nội địa:

    Ưu điểm chủ yếu của chiến lược đa nội địa là đáp ứng được yêu cầu địa phương. Chiến lược này cho phép các công ty nghiên cứu kỹ sở thích của người tiêu dùng ở thị trường các quốc gia khác nhau, đáp ứng nhanh chóng và có hiệu quả các sở thích mới của người tiêu dùng. Kết quả mà các công ty mong đợi khi đưa ra những sản phẩm mới là người tiêu dùng sẽ nhận biết được giá trị cao hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, cho phép công ty theo chiến lược đa nội địa được định giá cao hơn và giành được thị phần lớn hơn. Chiến lược đa nội địa hợp lý khi có sức ép cao về phản ứng địa phương và sức ép thấp về giảm chi phí.

    – Chiến lược xuyên quốc gia:

    • Có khả năng khai thác kinh tế địa phương
    • Có khả năng khai thác đường cong kinh nghiệm
    • Thay đổi sản phẩm và marketing đáp ứng yêu cầu địa phương
    • Thu lợi ích từ học tập toàn cầu

    3.2 Nhược điểm của các chiến lược kinh doanh quốc tế là gì

    – Chiến lược kinh doanh quốc tế

    Do sử dụng cùng mô hình nên sản phẩm của công ty ở các thị trường giống nhau, cách thức tiếp thị cũng như nhau vì vậy sản phẩm của công ty đáp ứng được những yêu cầu chung nhất của người tiêu dùng trên tất cả thị trường chứ chưa thể đáp ứng được những yêu cầu riêng biệt của từng khu vực. Hay thực hiện chiến lược này công ty thiếu đáp ứng yêu cầu địa phương. Hơn nữa, thay vì đưa các sản phẩm được sản xuất trong nước ra thị trường nước ngoài.

    Công ty lại thành lập các nhà xưởng để sản xuất các sản phẩm đó ở ngoài nước nên không thể tận dụng được hiệu ứng kinh nghiệm và tiết kiệm chi phí. Nếu công ty thực hiện chiến lược quốc tế ở những thị trường có áp lực yêu cầu địa phương cao thì công ty sẽ dễ dàng đánh mất lợi thế cạnh tranh của mình. Do có các đối thủ cạnh tranh sản xuất sản phẩm tập trung vào những yêu cầu khác biệt ở từng địa phương và thực hiện các chiến lược marketing, phân phối, chiêu thị,.. theo những yêu cầu riêng biệt đó.

    – Chiến lược toàn cầu:

    Thiếu đáp ứng nhu cầu địa phương

    – Chiến lược đa thị trường nội địa

    Tuy nhiên, nhược điểm củachiến lược đa nội địa là không cho phép các công ty khai thác lợi ích kinh tế của qui mô trong việc phát triển, sản xuất hay marketing sản phẩm. Như vậy, thông thường một chiến lược đa nội địa làm tăng chi phí cho các công ty quốc tế và buộc các công ty này phải định giá bán cao hơn để thu hồi những chi phí đó.

    Do đó, chiến lược đa nội địa thường không thích hợp với các ngành mà công cụ cạnh tranh bằng giá cả quyết định thực hiện chiến lược này, định hướng chủ yếu của các công ty là đáp ứng các điều kiện môi trường của từng quốc gia thị trường, vì vậy công ty khó có thể xây dựng tốt và rõ ràng các khả năng và các năng lực tiềm tàng xuyên suốt nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh quốc tế hay toàn cầu và các công ty địa phương của các công ty chủ nhà.

    – Chiến lược xuyên quốc gia :

    khó khăn trong việc thực hiện về vấn đề tổ chức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Loại Hình Chiến Lược Kinh Doanh Toàn Cầu
  • Khái Niệm Và Sự Ra Đời Của Hoạt Động Kinh Doanh Quốc Tế
  • Đề Cương Kinh Doanh Quốc Tế
  • Nhà Hàng Là Gì? Phân Loại Mô Hình Kinh Doanh Nhà Hàng
  • Khái Niệm Nhà Hàng Là Gì? 7 Mô Hình Kinh Doanh Nhà Hàng Cần Biết
  • Bàn Về Khái Niệm “tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa” Của Người Cộng Sản Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Vệ Tổ Quốc Là Trách Nhiệm Thiêng Liêng Của Mỗi Công Dân
  • Giáo Án Công Nghệ 8 Tiết 8: Khái Niệm Bản Vẽ Kỹ Thuật
  • Giải Sách Bài Tập Công Nghệ 8
  • Bài Giảng Công Nghệ Lớp 8
  • Tiết 7 Bài 8 & 9: Khái Niệm Về Bản Vẽ Kỉ Thuật Hình Cắt Và Bản Vẽ Chi Tiết
  • Tại sao phải đặt lại vấn đề “Tổ quốc”

    http://blip.tv/play/hqITgf%2BGCAA

    “Tổ quốc” là một khái niệm rất quen thuộc trong ngôn ngữ Việt Nam. Đại tự điển tiếng Việt Nhưng sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Lenin, Đảng Cộng sản thiết lập chính thể Sô-viết tại Nga, và Lenin đã bổ sung ý niệm “người vô sản không có tổ quốc” của Marx bằng khái niệm “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Có nghĩa là từ khi có Cách mạng tháng Mười, người vô sản mới có được “Tổ quốc”, đó là Liên Xô.

    Tổ quốc là một sản phẩm cần thiết, và mô hình không tránh được, trong thời đại phát triển xã hội của giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân không thể lớn mạnh, không thể trưởng thành, không thể tập trung sức mạnh, trừ khi “họ xây dựng họ thành một “Tổ quốc”, mà không trở thành dân tộc

    Lenin giải thích khái niệm Tổ quốc như sau:

    Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo Lênin là tổ quốc của người vô sản ở khắp nơi trên thế giới, không gắn liền với đất đai của tổ tiên cha ông và không chấp nhận sự tồn tại của các giai cấp khác trong xã hội.

    Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dẫn đến sự ra đời của Tổ quốc XHCN – một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại được đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN, trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ xã hội đồng thời làm chủ Tổ quốc.

    Nhưng làm thế nào Đảng CSVN có thể liên kết với Trung Quốc với một hiến pháp ghi đích danh Trung Quốc là kẻ thù của dân tộc? Xin thưa, phải tự tạo ảo tưởng.

    Cái ảo tưởng đó được Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, giải thích như sau:

    Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới.

    “Đề cương văn hoá” năm 1943 là văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng CSVN do Trường Chinh soạn thảo và được coi là kim chỉ nam định hướng cho cuộc cách mạng xã hội tại Việt Nam dưới “ánh sáng” của tư tưởng Mác-Lênin. Luận về Tính chất của nền văn hóa mới Việt-nam, Trường Chinh viết như sau:

    Cụm từ chưa phải làphải được hiểulà tình trạng chưa thành hình của một cái gì sẽ thành trong tương lai. Văn hoá mới là khởi điểm và văn hoá Sô-viết là đích đến. Ở đây Trường Chinh xác định rằng nền văn hoá mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là sẽ trở thành văn hoá Sô-viết trong tương lai.

    Để đảm bảo quá trình này, theo Trường Chinh, ” Văn hóa mới V. N. là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung.”

    Khi bàn về câu chuyện ” Không quên cái cũ”, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc trong Cổ học tinh hoa viết như sau:

    Tổ quốc là gốc tích xứ sở mình, gắn liền với đất nước của ông bà tổ tiên mình. Chim Việt thì đậu cành nam. Nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam để nói lên tấm lòng suốt đời hướng về tổ quốc Việt Nam của ông. Cáo, ngựa, chim còn biết nhớ đến nguồn gốc huống chi là con người.

    Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột. Đi t đin tiếng Vit, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông Tin ấn hành năm 1998, trang 1663

    C. Mác và Ph. Ăng-ghen, toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 623

    TS Nguyễn Tiến Bình, ” Cách mạng Tháng Mười và một số vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sả n Số 19 (139) năm 2007

    Trường Chinh, ” Đề cương văn hoá ” 1943

    Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc: ” Không quên cái cũ”, Cổ học tinh hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 14. Công Dân Với Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Chiến Tranh Nhân Dân Việt Nam Bvtq Trong Tình Hình Mới
  • Chiến Tranh Nhân Dân Bảo Vệ Tổ Quốc Vn
  • Bài Thu Hoạch An Ninh Quốc Phòng
  • Tiểu Luận Chiến Tranh Nhân Dân Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam
  • Bàn Về Khái Niệm “tổ Quốc Xhcn” Của Người Cộng Sản Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Xây Dựng Cnxh Và Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xhcn
  • Quân Đội Tham Gia Bảo Vệ Tổ Quốc Trên Không Gian Mạng
  • Bảo Đảm An Toàn, An Ninh Quốc Gia Trên Không Gian Mạng
  • Xây Dựng Lực Lượng Tác Chiến Không Gian Mạng, Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Chiến Lược Quốc Phòng, Chiến Lược Quân Sự Việt Nam
  • Tại sao phải đặt lại vấn đề “Tổ quốc”.

    “Tổ quốc” là một khái niệm rất quen thuộc trong ngôn ngữ Việt Nam. Đại tự điển tiếng Việt.

    Quan điểm này được những người cộng sản Việt Nam coi là nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

    Trong truyền thống đó, ông Nguyễn Phú Trọng, GS TS Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận định về khái niệm “Tổ quốc” như sau:

    Khái niệm bảo vệ Tổ quốc cũng được xác định đầy đủ hơn: bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới… Nhưng sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Lenin, Đảng Cộng sản thiết lập chính thể Sô-viết tại Nga, và Lenin đã bổ sung ý niệm “người vô sản không có tổ quốc” của Marx bằng khái niệm “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Có nghĩa là từ khi có Cách mạng tháng Mười, người vô sản mới có được “Tổ quốc”, đó là Liên Xô.

    Lenin giải thích khái niệm Tổ quốc như sau:

    Tổ quốc là một sản phẩm cần thiết, và mô hình không tránh được, trong thời đại phát triển xã hội của giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân không thể lớn mạnh, không thể trưởng thành, không thể tập trung sức mạnh, trừ khi “họ xây dựng họ thành một “Tổ quốc”, mà không trở thành dân tộc

    Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo Lênin là tổ quốc của người vô sản ở khắp nơi trên thế giới, không gắn liền với đất đai của tổ tiên cha ông và không chấp nhận sự tồn tại của các giai cấp khác trong xã hội.

    Theo trung tướng PGS, TS Nguyễn Tiến Bình thì:

    Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dẫn đến sự ra đời của Tổ quốc XHCN – một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại được đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN, trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ xã hội đồng thời làm chủ Tổ quốc.

    Nhưng làm thế nào Đảng CSVN có thể liên kết với Trung Quốc với một hiến pháp ghi đích danh Trung Quốc là kẻ thù của dân tộc? Xin thưa, phải tự tạo ảo tưởng.

    Cái ảo tưởng đó được Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, giải thích như sau:

    Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới.

    Cụm từ chưa phải là phải được hiểu là tình trạng chưa thành hình của một cái gì sẽ thành trong tương lai. Văn hoá mới là khởi điểm và văn hoá Sô-viết là đích đến. Ở đây Trường Chinh xác định rằng nền văn hoá mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là sẽ trở thành văn hoá Sô-viết trong tương lai.

    Để đảm bảo quá trình này, theo Trường Chinh, “Văn hóa mới V. N. là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung.”

    Tổ quốc là gốc tích xứ sở mình, gắn liền với đất nước của ông bà tổ tiên mình. Chim Việt thì đậu cành nam. Nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam để nói lên tấm lòng suốt đời hướng về tổ quốc Việt Nam của ông. Cáo, ngựa, chim còn biết nhớ đến nguồn gốc huống chi là con người.

    Thế nhưng trong bản di chúc để lại cho hậu thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết như sau:

    Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột. Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông Tin ấn hành năm 1998, trang 1663

    Nguyễn Phú Trọng: “Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay”, Sài Gòn Giải phóng ngày 4 tháng 5 năm 2010

    Roman Rosdolsky, The Workers and the Fatherland, A Note on a Passage in the “Communist Manifesto”

    Trần Quang Cơ: Hồi ức và suy nghĩ, trang 61

    Trường Chinh, “Đề cương văn hoá” 1943

    Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc: “Không quên cái cũ”, Cổ học tinh hoa

    [12] Di chúc Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Điểm Của Đảng Về Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tình Hình Mới
  • Bản Vẽ Lắp Trong Vẽ Kỹ Thuật
  • Bài 9: Bản Vẽ Cơ Khí Bai 9 Ban Ve Co Khi Nguyen Hoang Trieu1 Ppt
  • Giáo Án Công Nghệ 8 Bài 8 : Khái Niệm Về Bản Vẽ Kỹ Thuật. Hình Cắt
  • Giải Vbt Công Nghệ 8 Bài 8. Khái Niệm Về Bản Vẽ Kỹ Thuật Hình Cắt
  • Định Nghĩa Cfa Chartered Financial Analyst / Chứng Chỉ Chuyên Gia Phân Tích Tài Chính Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Average Rate Of Tax / Suất Thuế Bình Quân (Suất Thuế Thực Tế) Là Gì?
  • Định Nghĩa Charge Account / Tài Khoản Tín Dụng Là Gì?
  • Định Nghĩa Labour Economics / Kinh Tế Học Lao Động Là Gì?
  • Định Nghĩa Wal-Mart / Tập Đoàn Bán Lẻ Wal-Mart Là Gì?
  • Định Nghĩa Equity / Vốn Sở Hữu Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    CFA là một chứng chỉ chuyên môn phân tích tài chính chuyên nghiệp trong các lĩnh vực: chứng khoán, đầu tư và quản lý rủi ro, ngân hàng và tài chính. CFA không phải là một bằng cấp học thuật (academic degree).

    CFA là một chương trình được tiêu chuẩn hóa khá tốt để đánh giá năng lực của nhà phân tích tài chính trên cơ sở củng cố và phát triển những kiến thức cơ bản của đầu tư. Các thí sinh sẽ phải trải qua 3 đợt thi CFA (gọi là Level), từ Level 1 đến Level 3, với thời gian là 6 tiếng cho mỗi đợt thi. Đợt thi đó sát hạch năng lực phân tích và đầu tư ở trình độ có thể thực hành.

    Theo yêu cầu bài thi thường thí sinh cần 200-250 giờ học và ôn tập. Hàng năm, các kỳ thi CFA được tổ chức ở hơn 70 quốc gia trên thế giới. Một người được gọi là có chứng chỉ CFA có nghĩa là đã vượt qua 3 kỳ thi nói trên và có một số năm kinh nghiệm làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính-đầu tư. Ngoài ra, còn cần tham gia Hiệp hội CFA (CFA Institute).

    Trước đây, người Việt Nam muốn có chứng chỉ CFA thường phải ra nước ngoài, phổ biến là Hồng Kông (khá thường xuyên) hoặc Bang Kok, Singapore, để thi CFA nhưng hiện nay các cuộc thi CFA đã được tổ chức ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

    Chương trình học tập của CFA bao gồm các môn chủ yếu: Ethical and Professional Standards Quantitative Methods Economics Financial Statement Analysis Corporate Finance Analysis of Equity Investments Analysis of Debt Investments Analysis of Derivatives Analysis of Alternative Investments Portfolio Management.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Pais Paisa / Paise Pai-Sơ Là Gì?
  • Định Nghĩa Recovery / Phục Hồi; Khôi Phục Là Gì?
  • Định Nghĩa Recouse / Quyền Truy Đồi Là Gì?
  • Định Nghĩa Recording (Of Lien) / Ghi Nhận (Về Quyên Giữ Thế Chấp) Là Gì?
  • Định Nghĩa Record Date / Ngày Ghi Chép Là Gì?
  • Định Nghĩa Structure Adjustment / Điều Chỉnh Cơ Cấu Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Structuring / Vạch Kế Hoạch Rửa Tiền Là Gì?
  • Định Nghĩa Sub Chapter M / Phụ Chương M Là Gì?
  • Định Nghĩa Subcharter S / Phụ Chương S Là Gì?
  • Định Nghĩa Subject Offer/ Giới Thiệu Hạng Mục Bán Là Gì?
  • Định Nghĩa Subject To Collection / Phụ Thuộc Vào Việc Thu Tiền Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Phương tiện tín dụng trung hạn được đề xuất bởi Ngân hàng Thế giới năm 1979, nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển đạt được sự ổn định kinh tế. Hình thức cho vay này nhằm mục đích giảm thâm hụt tài khoản vãng lai (current account) của quốc gia nợ, hơn là tài trợ các dự án mới. Theo các thỏa ước trong nhiều năm, các quốc gia nợ được trì hoãn chi trả vốn gốc vào các năm sau, khi dịch vụ nợ có thể được dễ dàng chi trả bởi nền kinh tế phát triển mạnh hơn. Cơ sở của tín dụng điều chỉnh cơ cấu là thỏa thuận của quốc gia vay trong việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, kích thích xuất khẩu, và khuyến khích sự đa dạng của nền kinh tế với mục đích tối hậu có được sự tăng trưởng kinh tế tích cực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Stripped Mortgage-Backed Securities / Các Chứng Khoán Được Đảm Bảo Bằng Cầm Cố Tách Riêng Là Gì?
  • Định Nghĩa Strip / Tách Rời Là Gì?
  • Định Nghĩa Cover / Trang Trải, Chi Trả Là Gì?
  • Định Nghĩa With Full Recourse / Truy Đòi Hoàn Toàn Là Gì?
  • Định Nghĩa Wire Transfer / Chuyển Tiền Vô Tuyến Là Gì?