【#1】Chương I: Bài Tập Định Luật Culong, Thuyết E

Chương I: Bài tập định luật Culong, thuyết e

Chương I: Bài tập cường độ điện trường Bài tập định luật Culong, các dạng Bài tập định luật Culong, phương pháp giải Bài tập định luật Culong chương trình vật lý phổ thông lớp 11 cơ bản, nâng cao

Dạng Bài tập định luật Culong cơ bản

áp dụng công thức định luật Culong

Trong đó

  • q1; q2: lần lượt là độ lớn của hai điện tích điểm (C)
  • F: lực Culong (N)
  • r: khoảng cách giữa hai điện tích
  • ε: hằng số điện môi phụ thuộc vào môi trường chứa điện tích.
  • k=9.109 (N.m2/C2)

Lưu ý:

  • các điện tích cùng dấu đẩy nhau, các điện tích trái dấu thì hút nhau
  • môi trường chân không, không khí có ε=1

Dạng bài tập tính lực tổng hợp của nhiều điện tích lên một điện tích

Với hệ hai lực độ lớn của lực tổng hợp

sử dụng thêm các kiến thức tổng hợp và phân tích lực để giải

Bài tập 1. Quả cầu A có điện tích -3,2.10-7 C đặt cách quả cầu B có điện tích 2,4.10-7 C một khoảng 12cm.

a) Tính lực tương tác giữa hai quả cầu và số electron thừa (thiếu) trong mỗi quả cầu

b) Tính lực tương tác giữa hai quả cầu sau khi tiếp xúc với nhau sau đó tách ra.

Bài tập 4. Hai điện tích điểm có độ lớn bằng nhau được đặt trong không khí cách nhau 12 cm. Lực tương tác giữa hai điện tích đó bằng 10 N. Đặt hai điện tích đó trong dầu và đưa chúng cách nhau 8 cm thì lực tương tác giữa chúng vẫn bằng 10 N. Tính độ lớn các điện tích và hằng số điện môi của dầu.

Bài tập 5. Cho hai quả cầu kim loại nhỏ, giống nhau, đặt trong không khí tích điện và cách nhau 20 cm thì chúng hút nhau một lực bằng 1,2 N. Cho chúng tiếp xúc với nhau rồi tách chúng ra đến khoảng cách như cũ thì chúng đẩy nhau với lực đẩy bằng lực hút. Tính điện tích lúc đầu của mỗi quả cầu.

Bài tập 6. Đặt 3 điện tích q1=8.10-9 C, q2=q3=-8.10-9 C tại ba đỉnh của một tam giác đều cạnh 6 cm trong không khí. Xác định lực tác dụng lên điện tích qo=6.10-9 C đặt ở tâm O của tam giác.

Bài tập 7. Hai điện tích điểm dương q1=q2=là 8.10-7 C được đặt trong không khí cách nhau 10 cm.

a/Hãy xác định lực tương tác giữa hai điện tích đó.

b/Đặt hai điện tích đó vào trong môi trường có hằng số điện môi là ε=2. Để lực tương tác giữa chúng là không đổi (bằng lực tương tác khi đặt trong không khí) thì khoảng cách giữa chúng lúc này là bao nhiêu?

Đs. 0,576 N; 7 cm.

Bài tập 8. Hai điện tích điểm giống nhau đặt trong chân không cách nhau một đoạn 4 cm, lực đẩy tĩnh điện giữa chúng là 10-5 N.

a/Tìm độ lớn mỗi điện tích.

b/Tìm khoảng cách giữa chúng để lực đẩy tĩnh điện giữa chúng là 2,5.10-6 N.

Đs. 1,3.10-9 C; 8 cm.

Bài tập 9. Mỗi prôtôn có khối lượng m=1,67.10-27 kg, điện tích q=1,6.10-19 C. Hỏi lực đẩy giữa hai prôtôn lớn hơn lực hấp dẫn giữa chúng bao nhiêu lần?

Đs. 1,35.1036 lần.

Bài tập 10. Hai vật nhỏ giống nhau, mỗi vật thừa 1 electron. Tìm khối lượng mỗi vật để lực tĩnh điện bằng lực hấp dẫn.

Đs. 1,86.10-9 kg.

q1=q2 =1e=-1,6.10-19C

Bài tập 11. Hai vật nhỏ đặt trong không khí cách nhau một đoạn 1m, đẩy nhau một lực F=1,8 N. Điện tích tổng cộng của hai vật là 3.10-5 C. Tìm điện tích của mỗi vật.

Đs. q1=2.10-5 C, q2=10-5 C (hoặc ngược lại)

Bài tập 12. Hai quả cầu kim loại nhỏ mang các điện tích q1 và q2 đặt trong không khí cách nhau 2 cm, đẩy nhau bởi một lực F=2,7.10-4 N. Cho hai quả cầu tiếp xúc nhau rồi lại đưa về vị trí cũ, chúng đẩy nhau bởi một lực F’=3,6.10-4 N. Tính giá trị q1, q2?

Đs. 6.10-9C, 2.10-9C hoặc -6.10-9C, -2.10-9C.

Bài tập 13. Hai quả cầu nhỏ, giống nhau, bằng kim loại. Quả cầu A mang điện tích 4,50 µC; quả cầu B mang điện tích -2,40 µC. Cho chúng tiếp xúc nhau rồi đưa chúng ra cách nhau 1,56 cm. Tính lực tương tác tĩnh điện giữa chúng.

Đs. 40,8 N.

Bài tập 14. Hai quả cầu nhỏ bằng kim loại giống hệt nhau, mang điện tích như nhau q đặt cách nhau một khoảng R, chúng đẩy nhau một lực có độ lớn 6,4 N. Sau khi cho chúng tiếp xúc nhau rồi tách ra một khoảng 2R thì chúng đẩy nhau một lực bao nhiêu?

Đs. 1,6 N.

Bài tập 15. Hai hòn bi bằng kim loại giống nhau có điện tích cùng dấu q và 4q ở cách nhau một khoảng r. Sau khi cho hai hòn bi tiếp xúc nhau, để cho lực tương tác giữa chúng không thay đổi, ta phải đặt chúng cách một khoảng r’. Tính tỉ số r’/r?

Đs. 1,25.

Trước khi tiếp xúc:

Sau khi tiếp xúc:

q1=q2=0,5(q+4q)=2,5q

Bài tập 16. Hai điện tích q1=8.10-8C, q2=-8.10-8C đặt tại A và B trong không khí (AB=6 cm). Xác định lực tác dụng lên q3=8.10-8C, nếu

a/CA=4 cm, CB=2 cm.

b/CA=4 cm, CB=10 cm.

c/CA=CB=5 cm.

Đs. 0,18 N; 30,24.10-3N; 27,65.10-3N.

=27,65.10-3N.

Bài tập 17. Ba điện tích điểm q1=-10-6 C, q2=5.10-7 C, q3=4.10-7 C lần lượt đặt tại A, B, C trong không khí, AB=5 cm. AC=4 cm. BC=1 cm. Tính lực tác dụng lên mỗi điện tích.

Đs. 4,05. 10-2 N, 16,2. 10-2 N, 20,25. 10-2 N.

Bài tập 22. Hai điện tích q1=2.10-8C, q2=-8.10-8C đặt tại A và B trong không khí, AB=8 cm. Một điện tích q3 đặt tại C. Xác định

a/ Vị trí của C để q3 nằm cân bằng?

b/ Dấu và độ lớn của q3 để q1 và q2 cũng nằm cân bằng?

Bài tập 23. Hai quả cầu nhỏ cùng khối lượng m=0,6 kg được treo trong không khí bằng hai sợi dây nhẹ cùng chiều dài l=50 cm vào cùng một điểm. Khi hai quả cầu nhiễm điện giống nhau có độ lớn q, chúng đẩy nhau và cách nhau một khoảng r = 6 cm. Tính điện tích q của mỗi quả cầu, lấy g=10 m/s².

Đs. q=3,8.10-7 C.

r=6cm=6.10-2m; l=0,5m

Bài tập 26. Cho ba điện tích điểm q1=6 μC; q2=12 μC và q3 lần lượt đặt tại ba điểm A, B, C thẳng hàng trong chân không AB=20cm, BC=40cm. Lực tổng hợp tác dụng lên điện tích q1 bằng F=14,2N. Xác định điện tích q3.

(ĐS. q3=-1,33.10-5C)

Bài tập 29. Cho biết điện thế do một điện tích điểm q gây ra tại điểm M cách q một khoảng r trong chân không là VM = kq/r với k = 9.109Nm2/C2. Khối lượng và điện tích của electron lần lượt là 9,1.10-31kg và -1,6.10-19C, điện tích của proton là +1,6.10-19C và 1eV = 1,6.10-19J

1/ Với nguyên tử hidro ở trạng thái cơ bản, electron chuyển động tròn đều quanh hạt nhân đứng yên, với bán kính quỹ đạo là ro = 5,29.10-11m. Tính

a/ Lực điện mà hạt nhân hút electron và tốc độ của electron

b/ Tộng động năng và thế năng của electron trong điện trường của hạt nhân (tính theo eV)

2/ Hai electron, ban đầu ở cách nhau một khoảng rất lớn và chạy đến gặp nhau với tốc độ tương đối có độ lớn vo = 500m/s. Tìm khoảng cách a nhỏ nhất mà các electron có thể đến gần nhau. Chỉ xét tương tác điện giữa các electron.

Bài tập 30. Hai điện tích q1 = q2= 8.10-8C đặt tại A, B trong không khí, AB = 6cm. Xác định độ lớn lực tác dụng lên q3 = 8.10-8C đặt tại C nếu

a/ CA = 4cm, CB = 2cm

b/ CA = 4cm và CB = 10cm

c/ CA = CB = 3cm

d/ CA = CB = 5cm

e/ CA = CB = 6cm

Bài tập 31. Người ta đặt 3 điện tích q1 = 8.10-9, q2 = q3 = -8.10-9C tại 3 đỉnh của tam giác đều ABC cạnh a = 6cm trong không khí. Xác định lực tác dụng lên qo = 6.10-9C tại tâm O của tam giác.

Bài tập 32. Ba điện tích điểm q1 = -10-7C, q2 = 5.10-8C, q3 = 4.10-8C lần lượt tại A, B, C trong không khí. Biết AB = 5cm, BC = 1cm, AC = 4cm. Tính lực tác dụng lên mỗi điện tích.

Bài tập 33. Ba điện tích q1 = 4.10-8C; q2 = -4.10-8C, q3 = 5.10-8C đặt trong không khí tại 3 đỉnh của tam giác đều ABC cạnh a = 16cm. Xác định véc tơ lực tác dụng lên q3.

Bài tập 34. Ba điện tích q1 = q2 = q3 = 1,6.10-19C đặt trong không khí tại 3 đỉnh của tam giác đều ABC cạnh a = 16cm. Xác định véc tơ lực tác dụng lên q3.

Bài tập 35. Ba điện tích q1 = 27.10-8C; q2 = 64.10-8C, q3 = -10-7C đặt trong không khí lần lượt tại ba định đỉnh của tam giác đều ABC vuông tại C. Xác định véc tơ lực tác dụng lên chúng tôi AC = 30cm; BC = 40cm.

Bài tập 36. Hai điện tích điểm q1 = 3.10-8C; q2 = 2.10-8C đặt tại hai điểm A, B trong chân không, AB = 5cm. Điện tích qo = -2.10-8C đặt tại M, MA = 4cm; MB = 3cm. Xác định lực điện tổng hợp tác dụng lên qo.

Bài tập 37. Hai quả cầu giống nhau mang điện, cùng đặt trong chân không, cách nhau R =2cm thì chúng hút nhau bằng một lực F = 2,7.10-4N. Sau đó hai quả cầu tiếp xúc nhau rồi đưa về vị trí cũ cách nhau R = 2cm thì chúng đẩy nhau một lực F’ = 3,6.10-4N. Tính điện tích của mỗi quả cầu trước khi tiếp xúc.

Bài tập 38. Hai quả cầu giống nhau mang điện cùng đặt trong chân không, cách nhau R = 20cm thì chúng hút nhau một lực F = 3,6.10-4N. Sau đó cho hải quả cầu này tiếp xúc nhau rồi đưa về vị trí cũ thì chúng đẩy nhau một lực F’ =2,205.10-4N. Tính điện tích của mỗi quả cầu trước khi tiếp xúc.

Bài tập 39. Cho 2 quả cầu nhỏ trung hòa về điện đặt trong không khí, cách nhau 40cm. Giả sử có 4.1012electron từ quả cầu này di chuyển sang quả cầu kia. Hỏi khi đó hai quả cầu hút nhau hay đẩy nhau. Tính độ lớn của lực đó biết e = -1,6.10-19C

Bài tập 40. Hai quả cầu giống nhau bàng kim loại khối lượng m = 5g, được treo cùng vào một điểm O bằng hai sợi dây không dãn, dài 10cm. Hai quả cầu tiếp xúc với nhau. Tích điện cho mỗi quả cầu thì thấy chúng đẩy nhau cho đến khi hai dây treo hợp với nhau một góc 60o. Tính độ lớn điện tích mà ta đã truyền cho quả cầu lấy g =10m/s2.

Bài tập 41. Hai quả cầu nhỏ giống nhau bằng kim loại có khối lượng m =5g, được treo vào cùng một điểm O bằng 2 sợi dây không dãn, dài 30cm. Hai quả cầu tiếp xúc với nhau. Tích điện cho mỗi quả cầu thi thấy chúng đẩy nhau cho đến khi hai dây treo hợp với nhau một góc 60o. Tính độ lớn điện tích mà ta đã truyền cho quả cầu lấy g = 10m/s2.

Bài tập 42. Có 4 quả cầu kim loại kích thước bằng nhau. Các quả cầu mang điện tích lần lượt là +2,3µC; -246.10-7C, -5,9µC, +3,6.10-5C. Cho 4 quả cầu đồng thời chạm vào nhau sau đó lại tác chúng ra. Xác định điện tích sau khi tách của mỗi quả cầu.

Bài tập 43. Hai quả cầu giống nhau, tích điện như nhau treo ở hai đầu A và B của hai dây cùng độ dài OA, OB có đầu O chung được giữ cố định trong chân không. Sau đó tất cả được nhúng trong dầu hỏa (có khối lượng riêng ρo và hằng số điện môi ε = 4). Biết rằng so với trường hợp trong chân không góc AOB không thay đổi và gọi ρ là khối lượng riêng của hai quả cầu . Hãy tính tỷ số ρ/ρo. Biết hai sợi dây OA, OB không co dãn và có khối lượng không đáng kể.

Bài tập 44. Hai quả cầu nhỏ bằng kim loại giống hệt nhau được treo ở hai đầu dây ó cùng chiều dài. Hai đầu kia của hai dây móc vào cùng một điểm. Cho hai quả cầu tích điện bằng nhau, lúc cân bằng chúng cách nhau R = 6,35cm. Chạm tay vào một trong hai quả cầu, hãy tính khoảng cách R’ giữa hai quả cầu sau khi chúng đạt vị trí cân bằng mới. Giả thiết chiều dài mỗi dây khá lớn so với khoảng cách hai quả cầu lúc cân bằng.

Bài tập 45. Hai quả cầu nhỏ giống nhau, mỗi quả cầu có điện tích q và khối lượng m =10g được treo bởi hai sợi dây cùng chiều dài l = 30cm vào cùng một điểm O. Giữ quả cầu 1 cố định theo phương thẳng đứng, dây treo quả cầu 2 bị lệch góc α = 60o so với phương thẳng đứng. Cho g = 10m/s2. Tìm q.

Bài tập 46. Có hai sợi dây mảnh không dãn, mỗi dây dài 2m. Hai đầu dây được dính vào cùng 1 điểm, ở 2 đầu còn lại có buộc 2 quả cầu giống nhau, mỗi có trọng lượng 0,02N. Các quả cầu mang điện tích cùng dấu có độ lớn 5.10-8C. Khoảng cách giữa tâm của các quả cầu khi chúng nằm cân bằng là bao nhiêu.s

Bài tập 47. Hai điện tích q1 = -2.10-8C, q2 = -1,8.10-7C đặt tại A và B trong không khí, AB = 8cm. Một điện tích q3 đặt tại C. Hỏi

a/ C ở đâu để q3 cân bằng

b/ Dấu và độ lớn của q3 để q1, q2 cũng cân bằng.

Bài tập 48. Hai điện tích điểm q1 = 10-8C, q2 = 4.10-8C đặt tại A và B cách nhau 9cm trong chân không.

a/ Xác định độ lớn lực tương tác giữa hai điện tích.

b/ Xác định véc tơ lực tác dụng lên điện tích qo = 6,075.10-9C đặt tại trung điểm AB.

c/ Phải đặt điện tích q3 = 2.10-6 tại đâu để điện tích q3 nằm cân bằng.

Bài tập 49. Hai điện tích điểm q1 = q2 = q, đặt tại A và B trong không khí. Phải đặt điện tích q3 tại đâu để q3nằm cân bằng.

Bài tập 50. Có hai điện tích q1 =q và q2 = 4q đặt cố định trong không khí cách nhau một khoảng a = 30cm. Phải đặt một điện tích qo như thế nào và ở đâu để nó cân bằng.

Bài tập 51. Ba hạt cườm được xâu vào một vòng chỉ kín, mềm và cách điện, một hạt mang điện tích q, hai hạt còn lại mang điện tích 3q. Các hạt có thể trượt không ma sát dọc theo sợi chỉ. Khi để trên mặt bàn nhẵn, cách điện nằm ngang, hệ tạo thành một tam giác như hình vẽ. Hãy tính góc α ở đáy của tam giác này.

Bài tập 52. Trên đường tròn tâm O, bán kính Ro đặt bốn chất điểm tại bốn định của một hình vuông như hình vẽ. Khối lượng của mỗi chất điểm đều bằng m. Hai chất điểm có điện tích +q, hai chất điểm còn lại có điện tích -q. Ban đầu, truyền cho tất cả các chất điểm vận tốc có độ lớn như nhau, theo phương tiếp tuyến với đường tròn, chiều thuận chiều kim đồng hồ như hình vẽ. Biết trong quá trình chuyển động khoảng cách nhỏ nhất mỗi chất điểm đến tâm O của đường tròn là R1 (R1 <Ro). Bỏ qua tác dụng của lực hấp dẫn.

a/ Các chất điểm sẽ chuyển động theo quỹ đạo như thế nào

b/ Tìm thời gian đặc trung cho chuyển động của mỗi chất điểm

Bài tập 53. Hai quả cầu cùng khối lượng m, tích điện giống nhau q, được nối với nhau bằng lò xo nhẹ cách điện, độ cứng k, chiều dài tự nhiên lo, Một sợi dây chỉ mảnh nhẹ, cách điện, không dãn, có chiều dài 2L, mỗi đầu sợi dây được gắn với một quả cầu. Cho điểm giữa (trung điểm) của sợi dây chỉ chuyển động thẳng đứng lên với gia tốc a = g/2 thì lò xo có chiều dài l (với lo < l < 2L). Tính q

【#2】Điện Tích Là Gì? Công Thức Biểu Thức Định Luật Cu Lông Và Bài Tập

I. Sự nhiễm điện của các vật, Điện tích và Tương tác điện

* Dựa vào hiện tượng hút các vật nhẹ để kiểm tra xem một vật có nhiễm điện hay không.

* Các hiện tượng nhiễm điện của vật

– Nhiễm điện do cọ xát.

– Nhiễm điện do tiếp xúc

– Nhiễn điện do hưởng ứng.

* Ví dụ: khi cọ xát những vật như thanh thuỷ tinh, thanh nhựa, mảnh poli etilen,… vào dạ hoặc lụa thì những vật đó sẽ có thể hút được những vật nhẹ như mẩu giấy, sợi bông vì chúng đã bị nhiễm điện.

– Vật bị nhiễm điện còn gọi là vật mang điện, vật tích điện hay là một điện tích. Điện là một thuộc tính của vật và điện tích là số đo độ lớn của thuộc tính đó.

– Vật tích điện có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách tới điểm mà ta xét goin là điện tích điểm.

* Sự đẩy hay hút nhau giữa các điện tích gọi là sự tương tác điện.

* Chỉ có hai loại điện tích là điện tích dương (kí hiệu bằng dấu +) và điện tích âm (kí hiệu bằng dấu -).

* Các điện tích cùng loại (cùng dấu) thì đẩy nhau.

* Các điện tích khác loại (khác dấu) thì hút nhau.

II. Định luật Cu-lông, Hằng số điện môi

– Phát biểu Định luật Cu-lông: Lực hút hay đẩy giữa hai điện tích điểm đặt trong chân không có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích điểm đó, có độ lớn tỉ lệ thuận với tích độ lớn của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

– Công thức định luật Cu-lông:

– Trong đó:

k là hệ số tỉ lệ, phụ thuộc vào hệ đơn vị mà ta dùng. Trong hệ đơn vị SI,

F: đơn vị Niutơn (N);

r: đơn vị mét (m);

q 1 và q 2 các điện tích, đơn vị culông (C).

2. Lực tương tác giữa các điện tích điểm đặt trong điện môi đồng tính. Hằng số điện môi

a) Điện môi là môi trường cách điện.

b) Thí nghiệm chứng tỏ rằng, khi đặt các điện tích điểm trong một điện môi đồng tính (chẳng hạn trong một chất dầu cách điện) thì lực tương tác giữa chúng sẽ yếu đi Ɛ lần so với khi đặt chúng trong chân không.

* ε được gọi là hằng số điện môi của môi trường (ε ≥1).

* Công thức của định luật Cu-lông trong trường hợp này là:

– Đối với chân không thì ε = 1.

c) Hằng số điện cho biết, khi đặt các điện tích trong một chất cách điện thì lực tác dụng giữa chúng sẽ nhỏ đi bao nhiêu lần so với khi đặt chúng trong chân không.

III. Bài tập vận dụng lý thuyết điện tích và Định luật Cu-lông.

– Điện tích điểm là một vật tích điện có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách tới điểm mà ta xét.

– Phát biểu định luật Cu-lông: Lực tương tác giữa hai điện tích điểm có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích điểm, có độ lớn tỉ lệ thuận với tích độ lớn của hai điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

– Lực tương tác giữa các điện tích đặt trong điện môi sẽ nhỏ hơn khi đặt trong chân không vì hằng số điện môi của chân không có giá trị nhỏ nhất (ɛ=1).

– Hằng số điện môi của một chất cho biết khi đặt các điện tích trong môi trường điện môi đó thì lực tương tác Cu-lông giữa chúng sẽ giảm đi bao nhiêu lần so với khi đặt chúng trong chân không.

A. Tăng lên gấp đôi

B. Giảm đi một nửa

C. Giảm đi bốn lần

D. Không thay đổi

¤ Chọn đáp án: D.Không thay đổi

– Gọi F là lực tương tác giữa hai điện tích q 1, q 2 khi cách nhau khoảng r.

– F’ là lực tương tác giữa hai điện tích q 1‘=2.q 1, q 2‘=2.q 2 khi cách nhau khoảng r’=2r

A. Hai thanh nhựa đặt gần nhau.

B. Một thanh nhựa và một quả cầu đặt gần nhau.

C. Hai quả cầu nhỏ đặt xa nhau.

D. Hai quả cầu lớn đặt gần nhau.

¤ Chọn đáp án: chúng tôi quả cầu nhỏ đặt xa nhau.

– Vì định luật Cu-lông chỉ xét cho các điện tích điểm (có kích thước nhỏ so với khoảng cách giữa chúng) nên hai quả cầu có kích thước nhỏ lại đặt xa nhau có thể coi là điện tích điểm.

¤ Ta có bảng so sánh định luật vạn vật hấp dẫn và định luật cu-lông như sau:

– Chỉ xét cho các vật hay điện tích được coi là chất điểm hay điện tích điểm (có kích thước nhỏ)

– Lực tương tác tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng

– Tỉ lệ thuận với tích khối lượng 2 vật.

– Là lực cơ học

– Lực hấp dẫn không đổi khi môi trường xung quanh 2 vật thay đổi.

– Tỉ lệ thuận với tích độ lớn 2 điện tích.

– Là lực điện

– Lực tương tác thay đổi khi đặt trong môi trường điện môi khác nhau.

* Bài 8 trang 10 SGK Vật Lý 11: Hai quả cầu nhỏ mang hai điện tích có độ lớn bằng nhau, đặt cách xa nhau 10 cm trong không khí thì tác dụng lên nhau một lực 9.10-3 N. Xác định điện tích của quả cầu đó.

– Khoảng cách: r = 10 cm = 0,1 m

– Môi trường là không khí nên hằng số điện môi: ε ≈ 1

– Lực tương tác Cu-lông giữa hai quả cầu là:

⇒ Điện tích của mỗi quả cầu là:

– Kết luận: q = 10 7 (C) hoặc q = -10-7 (C).

【#3】Về Quyền Xác Định Giới Tính Và Quyền Phẫu Thuật Chuyển Đổi Giới Tính Tại Việt Nam

Trương Hồng Quang*

(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 năm 2014)

– Các bộ phận sinh dục bên ngoài: không phân loại được dễ dàng là của nam hay nữ.

– Các cơ quan sinh sản bên trong: phát triển không hoàn chỉnh hay bất thường.

– Có sự không nhất quán giữa các bộ phận sinh dục bên ngoài và các cơ quan sinh sản bên trong.

– Có các đặc điểm bất thường về nhiễm sắc thể giới tính.

– Tinh hoàn hoặc buồng trứng phát triển không bình thường.

– Việc sản xuất hormone giới tính trên hoặc dưới mức thông thường.

– Cơ thể không có khả năng phản ứng bình thường với các hormone giới tính.

Như vậy người liên giới tính không nhất thiết phải có biểu hiện rằng “có hai bộ phận sinh dục” hay “bộ phận sinh dục không rõ ràng”. Vì đặc điểm giới tính còn thể hiện cả ở những cơ quan không thấy được bên ngoài như tinh hoàn, tử cung, tuyến nội tiết, nhiễm sắc thể, hormone. Một người sinh ra với bộ phận sinh dục ngoài (dương vật, âm hộ…) trông hoàn toàn bình thường vẫn có khả năng là một người liên giới tính. Người liên giới tính cần được chẩn đoán, phẫu thuật để xác định giới tính nam hoặc nữ. Tại Việt Nam, những người liên giới tính thường được gọi bằng “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”. Tuy nhiên khái niệm này thiên về mô tả, nhưng cũng chưa mô tả đầy đủ các trạng thái của liên giới tính. Thực tế, người ta chưa ghi nhận trường hợp nào có bộ phận sinh dục của cả nam và nữ tồn tại đồng thời một cách hoàn chỉnh về cấu trúc và hoạt động. Các tình trạng liên giới tính là một sự trộn lẫn, mỗi cái chưa hoàn thiện, hoặc trong ngoài không khớp với nhau, hay một đặc điểm giới tính nào đó không điển hình. Vì vậy, cách dịch “liên giới tính” là phù hợp.

2. Quyền xác định giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay

Trong khi đó, khác với người liên giới tính, người chuyển giới có giới tính sinh học khi sinh ra hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, người đó lại mong muốn, tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra cho người liên giới tính (mà Nghị định gọi là “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Một số trường hợp ra nước ngoài phẫu thuật, về Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền thay đổi hộ tịch và giấy tờ tùy thân nhưng sau đó lại bị đề nghị hủy giấy tờ mới vì chưa thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật. Ví dụ như trường hợp anh Phạm Văn Hiệp (Bình Phước) sang Thái Lan phẫu thuật xác định giới tính. Điều này xuất phát từ nguyên nhân chính là thời điểm đó Việt Nam chưa có cơ sở nào được phép can thiệp y tế (bao gồm việc giám định và phẫu thuật) xác định giới tính. Việc quan tâm chưa đúng mức đến đối tượng người liên giới tính đã dẫn đến thực tế này. Bản thân trường hợp của anh Hiệp cũng chỉ thiếu một bước giám định của cơ sở y tế có thẩm quyền. Tiếp theo đó, Bộ Tư pháp đã đề nghị tạm dừng việc thu hồi các Quyết định và phối hợp với Bộ Y tế xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy mặc dù đến nay đã có cơ sở y tế được phép can thiệp y tế xác định giới tính nhưng việc làm này cũng khá muộn màng và số lượng cũng còn rất ít.

Thứ hai, công nhận người chuyển giới và phẫu thuật chuyển đổi giới tính là một nhu cầu rất rõ nét trong xã hội Việt Nam hiện nay. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân sau đây:

– Bản thân người chuyển giới là một đối tượng hoàn toàn bình thường của đời sống xã hội, thể hiện sự đa dạng của bản dạng giới. Nhiều người vẫn còn nhầm lẫn, không phân biệt được người đồng tính và người chuyển giới. Mặc dù số lượng của người chuyển giới chiếm số lượng rất ít trong xã hội (theo thống kê trên thế giới chiếm khoảng 1-3% dân số xã hội) nhưng cũng là một thành phần của xã hội, cần được bảo vệ.

Bị kỳ thị, phân biệt đối xử là một vấn đề nhức nhối của cả cộng đồng LGBT (người đồng tính, song tính và chuyển giới). Tuy nhiên, sự kỳ thị đối với người chuyển giới dường như có sự rõ nét, trực diện và nặng nề hơn so với người đồng tính. Nếu như người đồng tính có thể cố gắng che giấu xu hướng tính dục của mình thì người chuyển giới không thể che giấu bản dạng giới của họ do sự khát khao thể hiện ra ngoài. Sự kỳ thị tại Việt Nam đối với người chuyển giới có thể được biểu hiện qua cách gọi và hành vi. Về cách gọi, người chuyển giới từ nam sang nữ có thể bị gọi là pê-đê, bóng lộ, đồng cô… trong khi đó nhóm chuyển giới từ nữ sang nam có thể bị gọi là ô môi. Bên cạnh đó, người chuyển giới Việt Nam cũng phải chịu sự kỳ thị từ chính cộng đồng người đồng tính. Nhiều người đồng tính cho rằng vì người chuyển giới sống khá lộ liễu, đôi khi hơi thái quá hoặc có những hành vi không đúng đắn nên ảnh hưởng đến người đồng tính (vì nhiều người trong xã hội hiện nay thường hay nhầm lẫn người chuyển giới cũng là người đồng tính). Sự kỳ thị này vô hình chung đã làm gia tăng sự mâu thuẫn trong cộng đồng LGBT với nhau. Từ sự kỳ thị đó, nhiều người chuyển giới Việt Nam khó khăn trong vấn đề tìm việc làm, sinh kế… và phải chấp nhận đi hát đám ma, quán bar, lâm vào tình trạng đói nghèo. Theo một khảo sát gần đây qua nghiên cứu 241 người chuyển giới thì có đến 21% người chuyển giới từng đi làm, nhưng hiện nay không có việc làm, chủ yếu do bị kỳ thị từ xã hội và trong môi trường làm việc”. Tuy nhiên, họ lại đụng đến vấn đề nan giải là thiếu vốn để khởi nghiệp.

– Khao khát được sống đúng với giới tính của người chuyển giới ngày càng rõ nét trong xã hội Việt Nam.

Nếu như thời gian trước đây, cộng đồng LGBT Việt Nam thường sống khép kín, giấu diếm thân phận của mình vì sợ bị kỳ thị hoặc tự kỳ thị bản thân mình thì hiện nay thực tế này đã có những đổi thay nhất định. Khoảng thời gian ba năm trở lại đây (2011-2013), xã hội dần được tiếp cận với người chuyển giới một cách rõ nét hơn vì người chuyển giới đã mạnh dạn thể hiện bản thân hơn. Tuy nhiên, vì pháp luật Việt Nam chưa cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính nên nhiều người chuyển giới Việt Nam khao khát được sống thực sự đúng với giới tính mong muốn của mình. Nhiều người chuyển giới đã sang các quốc gia khác – những nơi cho phép phẫu thuật chuyển giới (ví dụ Thái Lan, Hồng Kông) để thực hiện giấc mơ của mình. Và chính bản thân họ cũng phải chịu nhiều điều tiếng, áp lực xã hội cũng như nhiều khó khăn: phải tiêm hormon suốt đời, giảm tuổi thọ, không thể sinh con, không có quyền kết hôn…

Thực tiễn tại các bệnh viện Việt Nam thời gian qua cho thấy nhu cầu chuyển giới là không ít. Theo bác sĩ Mai Bá Tiến Dũng, Trưởng khoa Nam học (Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết: “Nhu cầu chuyển giới là rất nhiều. Gần đây nhất, Khoa Nam học của Bệnh viện Bình Dân đã tiếp nhận 10 người đến có nhu cầu hỏi về chuyển giới nam thành nữ. Tuy nhiên, luật pháp của mình hiện chưa cho phép chuyển giới theo ý muốn, mà chỉ cho phép chỉnh sửa lại những khiếm khuyết do bộ nhiễm sắc thể gây ra, bất thường ở bộ phận sinh dục. Có trường hợp đã gửi thư cho tôi nói rằng, mọi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc, vậy tại sao họ (những người muốn chuyển giới) lại không có quyền này? Họ bảo rằng, họ không làm hại ai, họ là công dân tốt, sống đúng theo pháp luật, vì sao họ lại bị từ chối?”. Điều này đã gây khó khăn cho cơ quan tố tụng và trong thực tế Tòa án không thể xử tội hiếp dâm và chuyển thành tội khác trong những vụ án này (ví dụ như Tội làm nhục người khác). Do đó, nếu không nhanh chóng có biện pháp giải quyết sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến quyền được bảo vệ của người chuyển giới Việt Nam.

Từ những thực tiễn nêu trên, tác giả có một số khuyến nghị đối với quyền xác định giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính như sau:

3.2. Pháp luật cần thừa nhận người chuyển giới, cho phép người chuyển giới được có quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Cần có một quy trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính (giám định, kiểm tra đời sống thực, phẫu thuật…) và quan tâm đến việc đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật, nhân lực; thực hiện việc chỉ định các cơ sở y tế có chức năng phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Trong đó, quy trình kiểm tra đời sống thực (real life test) rất quan trọng để Hội đồng giám định đánh giá xem liệu người đó có thể sống, sinh hoạt như một người có giới tính khác hay không. Thông thường, những cơ sở y tế có chức năng can thiệp xác định giới tính cũng đồng thời có chức năng phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Sau khi phẫu thuật, người chuyển giới được thay đổi hộ tịch, làm lại giấy tờ tùy thân để thuận tiện hơn trong các quan hệ xã hội. Bên cạnh đó, việc công nhận quyền này cho người chuyển giới cũng giúp bảo vệ quyền của họ trong lĩnh vực tư pháp hình sự đầy đủ hơn.

Quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính khi được công nhận cũng sẽ khởi nguồn cho việc xem xét các quyền khác của người chuyển giới, ví dụ như quyền kết hôn, nhận con nuôi chung… Đây là những vấn đề mà các nhà làm Luật Việt Nam cần xem xét trong tương lai.

Với những khuyến nghị trên, Bộ luật Dân sự năm 2005 nên bổ sung thêm quy định về đăng ký lại hộ tịch cho người chuyển giới đã được phẫu thuật chuyển đổi giới tính, thay đổi giấy tờ tùy thân…

Trương Hồng Quang, Người chuyển giới tại Việt Nam dưới góc nhìn pháp lý, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 21, tháng 11/2013. Trong khi đó, người đồng tính không mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra và chỉ yêu người có cùng giới tính với mình.

Thực ra cách hiểu về người liên giới tính trong Nghị định như vậy là chưa đầy đủ.

Xem cụ thể hơn các vấn đề này tại: Trương Hồng Quang, Một số vấn đề pháp lý về người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Đặc san Thông tin Khoa học Pháp lý (Viện Khoa học Pháp lý), số tháng 6/2013.

Theo Thanh Mận, http://phapluattp.vn/20121016125450927p1060c1105/bi-kich-cua-nguoi-chuyen-gioi-bai-2-hinh-the-de-doi-ho-tich-kho-thay.htm, ngày 16/10/2012. Anh Hiệp có cả những đặc điểm của nam giới và nữ giới (cơ quan sinh dục nam, ngực của nữ giới, có buồng trứng và tử cung…).

http://phapluattp.vn/20130222121954876p0c1019/hoan-thu-hoi-cac-quyet-dinh-vu-co-giao-chuyen-gioi.htm

Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường, Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình, Mai Thanh Tú, Người chuyển giới ở Việt Nam Những vấn đề thực tiễn và pháp lý, Hà Nội, 2012, tr. 28.

Xem: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131026/sinh-ke-cua-nguoi-chuyen-gioi.aspx, ngày 27/10/2013.

Xem: http://news.go.vn/xa-hoi/tin-1196005/go-roi-phap-ly-cho-nguoi-chuyen-gioi-gioi-y-hoc-noi-gi.htm, ngày 5/3/2013.

Xem: Người chuyển giới ở tù: phòng nam hay phòng nữ?, http://danviet.vn/52213p1c33/nguoi-chuyen-gioi-o-tu-phong-nam-hay-phong-nu.htm, ngày 1/8/2011.

Hiện nay Bộ Tư pháp đang chủ trì soạn thảo Dự án Bộ luật Dân sự mới.

[22] Hiện nay Bộ Tư pháp đang chủ trì soạn thảo dự án Luật này.

Explore posts in the same categories: Human Rights, LGBT, Luật Dân sự, Pháp luật Dân sự, Pháp luật hình sự

【#4】Khởi Nghiệp Là Gì? Startup Là Gì? Định Nghĩa Khởi Nghiệp

Khởi nghiệp là gì? Startup là gì? Đâu là những yếu tố mà người khởi nghiệp trẻ cần có? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm. Nhất là khi phong trào “Quốc Gia Khởi Nghiệp” đang dần được phổ biến rộng khắp.

Khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không được chắc chắn nhất.

Cùng xem bài viết để hiểu thêm khởi nghiệp là gì? startup là gì?

Startup là gì? Khởi nghiệp là gì?

Khởi nghiệp – Startup là bạn có ý định tự mình có một công việc kinh doanh riêng, bạn muốn tự mình làm và quản lý tự kiếm thu nhập cho mình. Bạn cung cấp và phát triển một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, mua bán lại một sản phẩm hay cửa hàng đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó.

Khởi nghiệp cũng có nghĩa là bạn tạo ra giá trị có lợi cho người cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng đồng và nhà nước. Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội.

Đối với cá nhân startup, việc theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê. Startup được tự do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ có thể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại.

Đối với xã hội & nền kinh tế nước nhà thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm. Điều này giúp đất nước có thể giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động nuôi sống bản thân và gia đình.

Khởi nghiệp có thể là bạn tự mở cho mình một cửa hàng như bún bò, phở, xôi sáng, quán cafe, tiệm Internet, cửa hàng mỹ phẩm, cửa hàng tiêu dùng hay mở trang trại trồng cây, chăn nuôi, xưởng sản xuất một mặt hàng nào đó hay đơn giản bạn chỉ thương mại tức mà mua đi bán lại …

Khởi nghiệp là bạn vừa là nhân viên vừa là ông chủ hoặc cao hơn bạn tự thành lập doanh nghiệp riêng cho mình rồi tuyển nhân viên vào cùng làm. Vì vậy khởi nghiệp cũng chính là bạn bắt đầu làm chủ. Và khởi nghiệp cũng chính là một công việc kinh doanh của bạn vì nó liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường để bạn có thu nhập. Chính vì vậy người ta thường gọi là khởi nghiệp kinh doanh.

Chúng ta hãy bắt với định nghĩa của “startup” để nắm bắt ý nghĩa tự nhiên thiết yếu của nó, và cố gắng lược bỏ các mối liên hệ cụ thể của hầu hết quá trình startup đáng chú ý.

Khởi nghiệp là một tổ chức của con người được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.

Hãy giải thích một cách lần lượt. Đầu tiên, tôi muốn nhất mạnh khía cạnh tổ chức con người, bởi điều này hoàn toàn bị bỏ sót trong câu chuyện “2 gã trong nhà để xe”. Từ “thể chế” bao hàm ý nghĩa của chế độ quan liêu, quy trình và thậm chí cả sự thờ ơ. Làm thế nào điều đó có thể là một phần của “startup”. Tuy nhiên, những câu chuyện thật về những sự khởi đầu thành công bao gồm đầy đủ các hoạt động có thể được gọi là xây dựng tổ chức: thuê các nhân viên sáng tạo, phối hợp hoạt động của họ, và tạo ra văn hóa công ty mang lại kết quả. Mặc dù một vài công ty startup có thể tiếp cận các hoạt động này theo những cách cực đoan, nhưng dù sao chúng cũng là những thành phần quan trọng góp phần tạo nên thành công.

Vậy từ “con người” trong khái niệm này là dư thừa? Vậy những hình thức khác của tổ chức là gì?

Chúng ta thường bỏ qua thực tế là startup không phải là sản phấm của chúng, không phải là những đột phá công nghệ, hoặc thậm chí không phải dữ liệu của chúng. Ngay cả đối với các công ty mà chủ yếu chỉ có một sản phẩm, giá trị công ty tạo ra không phải ở sản phẩm đó mà ở con người và tổ chức của họ tạo ra nó. Để có được bằng chứng về điều này, đơn giản chỉ cần quan sát các kết quả của nhiều vụ mua lại các công ty startup. Trong hầu hết các trường hợp, các khía cạnh quan trọng của công ty startup biến mất, ngay cả khi sản phẩm, thương hiệu, và thậm chí cả khi hợp động lao động được lưu trữ.

Cái mới của sản phẩm hay dịch vụ mà công ty startup mang đến cũng là yếu tố quan trọng của khái niệm. Nó cũng là một yếu tố phức tạp. Tôi ưu tiên khái niệm rộng nhất của sản phẩm, bao gồm bất cứ nguồn giá trị nào của tập hợp những người tự nguyện trở thành khách hàng. Điều này cũng đúng với hàng hóa được đóng gói của một cửa hàng tập hóa, một trang website thương mại điện tử, một dịch vụ xã hội phi lợi nhuận hoặc một loạt các chương trình của chính phủ. Trong mọi trường hợp, tổ chức được dành để phát hiện ra nguồn giá trị mới cho khách hàng, và quan tâm đến tác động thực tế của công việc đến khách hàng (trái lại, sự độc quyền hay quan liêu thường không quan tâm đến điều đó và chỉ tìm cách duy trì bản thân).

Điều đó cũng quan trọng khi chúng ta nói về sự sáng tạo, nhưng điều này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi. Ngay cả những sáng chế tiên tiến nhất cũng luôn được xây dựng dựa trên các công nghệ cũ. Nhiều công ty startup không sáng chế ở khía cạnh sản phẩm, mà sử dụng các sáng chế khác: điều chỉnh những công nghệ hiện tại cho mục đích mới, đặt ra một mô hình kinh doanh mới để mở ra các giá trị trước đây chưa được tìm ra, hoặc thậm chí mang sản phẩm hay dịch vụ đến một địa điểm mới hoặc nhóm khách hàng trước đây chưa được phục vụ. Trong tất cả các trường hợp này, sự sáng tạo đổi mới là chìa khóa đưa đến thành công cho công ty.

Bởi vì sáng tạo vốn là mạo hiểm, có thể lợi nhuận quá lớn về kinh tế cho các công ty startup có thể tận dụng rủi ro theo một cách mới – nhưng đây không phải là một phần tất yếu của công ty startup. Câu hỏi là: “mức độ của sự sáng tạo mà doanh nghiệp muốn đạt được là gì?”

 Phần quan trọng cuối cùng của khái niệm này: bối cảnh của sự sáng tạo.

Hầu hết các doanh nghiệp lớn nhỏ đều bị loại trừ trong bối cảnh này. Các công ty startup được lập ra để đối phó được với tình huống bất ngờ nhất. Để mở một doanh nghiệp mới là bản sao chính xác của doanh nghiệp hiện tại, tập trung vào mô hình kinh doanh, giá cả, khách hàng được nhắm tới, và sản phẩm trong nhiều trường hợp là một cách đầu tư kinh tế hấp dẫn. Nhưng nó không phải là công ty startup, bởi vì thành công của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc quá nhiều vào cách thực thi tốt đến nỗi thành công này có thể được mô hình hóa với độ chính xác cao. Đó là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể được tài trợ vốn vay ngân hàng; mức độ rủi ro và không chắc chắn đủ rõ ràng để một nhân viên cho vay sáng suốt có thể đánh giá triển vọng của nó.

Do đó, các công ty startup có một vị trí đặc biệt, khi rủi ro là không có.

Trái với những trường hợp rủi ro khác, như mua cổ phiếu có rủi ro cao. Mặc dù mức chi trả cụ thể của cổ phiếu rủi ro không được biết đến, đầu tư vào các cổ phiếu như vây có thể được mô hình một cách chính xác. Vì vậy mộ nhà tư vấn tài chính giỏi có thể cung cấp cho bạn khoản lợi tức dài hạn một cách chính xác và hợp lý mà các cổ phiếu rủi ro mang lại. Khi “phí rủi ro” tính toán được, chúng ta không còn là startup. Trên thực tế, trước đây, phần lớn các công ty startup là dễ như trở bàn tay. Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất hiện nay là Google: làm thế nào chúng ta có thể sống thiếu nó? Xây dựng một sản phẩm đặc biệt gần như không rủi ro như nó có vẻ vào thời điểm đó; thật ra, theo tôi đó là một suy luận hợp lý để nói rằng nó đã gần như được đảm bảo để thành công. Nó chỉ không khả thi cho ai muốn biết trước tương lai.

Các công ty startup được thiết kế cho những tình huống không thể mô hình hóa, không rõ ràng, và độ rủi ro không nhất thiết phải lớn mà chỉ chưa tính toán được. Tôi nhấn mạnh điểm này bởi vì nó cần thiết để thúc đẩy số lượng lớn lý thuyết về “lean startup” (Việc sử dụng các nền tảng được kích hoạt bởi mã nguồn mở và phần mềm miễn phí, tập trung vào khách hàng và ý kiến phản hồi của họ). Về cơ bản, “lean startup” là một phương pháp đối mặt với điều không chắc chắn và chưa được nhận ra với sự linh hoạt, cân bằng và hiệu quả. Nó là một kinh nghiệm khác hẳn với công việc khó thực hiện trong một loại hình kinh doanh truyền thống, và mục tiêu của tôi không phải để hệ thấp những người khác – cuối cùng, hầu hết các công ty startup đều mong muốn sau này không còn là startup.

Những khác biệt này vẫn còn là vấn đề, bởi vì “cách thực hành tốt nhất” được học từ những hoàn cảnh khác không thể áp dụng tốt vào startup. Thật ra sự thất bại đáng kể nhất xảy ra khi bạn không nhận ra mình đang trong tình trạng startup hoặc không nhận ra nó có nghĩa gì.

Ai nên bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh?

Hầu như bất cứ người nào cũng có thể khởi nghiệp kinh doanh nếu muốn, không phân biệt già hay trẻ, nam hay nữ, không phân biệt trong hay ở ngoài nước, thành thị hoặc nông thôn; miễn là bạn có một ý tưởng kinh doanh thiết thực hay có thể thực hiện được, có thể đem lại lợi ích cho chính bản thân mình và toàn xã hội.

Tuy nhiên hiện nay những ý tưởng khởi nghiệp được hình thành chủ yếu bởi các bạn đam mê làm giàu và sáng tạo, nhất là những bạn sinh viên đang đi học hoặc vừa ra trường. Những con người trẻ tuổi đang ở độ tuổi tràn đầy nhiệt huyết, họ cũng có đủ sự nhanh nhạy, khả năng nắm bắt những kiến thức & kỹ năng công nghệ mới. Họ có lòng can đảm và khát khao khẳng định bản thân hơn những người đi trước mặc dù những người đi trước lại có nhiều lợi thế về kinh nghiệm hơn.

Vì thế dù bạn còn trẻ và chưa có gì trong tay, đừng lo sợ gì cả, hãy cứ thử nghiệm và thất bại. Khởi nghiệp kinh doanh không bao giờ là sự lựa chọn dễ dàng, nó không dành cho tất cả mọi người. Nhưng nếu người khởi nghiệp trẻ có đủ quyết tâm và lòng kiên trì, đủ dũng cảm để đối mặt với những chông gai thử thách có thể gặp phải trên con đường khởi nghiệp thì có lẽ đây chính là con đường phù hợp với bạn.

Những yếu tố mà người khởi nghiệp cần phải có

Năng lực sáng tạo không giới hạn:

Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất khi bắt đầu con đường làm giàu của mình đó là bản thân người startup phải có một sự sáng tạo vượt bậc. Bởi vì chỉ có sự sáng tạo không giới hạn mới có thể làm nên sự khác biệt giữa bạn và đối thủ, chỉ có sự sáng tạo hơn người mới có thể giúp bạn nhìn thấu toàn bộ thị trường hiện tại, tìm ra những nhu cầu chưa được đáp ứng, từ đó đưa ra kế hoạch kinh doanh đặc biệt riêng cho startup của mình.

Kế hoạch này không nhất thiết phải bao gồm những ý tưởng khởi nghiệp kinh doanh chưa ai biết đến hay những ý tưởng mới hoàn toàn chưa ai nghĩ đến, mà nó phải tạo nên sự đột phá và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của bạn.

Sự khác biệt trong sản phẩm, dịch vụ mà bạn cung cấp là điểm tựa quan trọng cho bạn trên thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt này. Vậy thì, thay vì tranh giành miếng bánh với các đối thủ lớn trên thị trường ra đời sớm hơn mình, mạnh hơn mình, nhiều kinh nghiệm hơn mình thì chúng ta có thể tự tìm ra một miếng bánh mới – mà tại đó chúng ta chính là người dẫn đầu.

Nguồn vốn khởi nghiệp kinh doanh:

Một trong những yếu tố quan trọng khác khi bạn muốn khởi nghiệp đó là vốn khởi nghiệp kinh doanh. Đây là nguồn nuôi dưỡng cho kế hoạch kinh doanh và là một đòn bẩy cho sự thành công của bạn.

Sự kiên trì – không bỏ cuộc:

Sở dĩ đức tính kiên trì là một yếu tố quan trọng bởi vì trong quá trình khởi nghiệp không phải ai cũng có được thành công trong lần đầu bắt tay vào làm, có những người thất bại rất nhiều lần nhưng họ vẫn không từ bỏ, vẫn tiếp tục đứng dậy để thực hiện ý tưởng của mình. Chính sự quyết tâm và lòng kiên trì trong con người đó đã tạo nên sự thành công – “Thất bại là mẹ thành công” . Thật sự, thực tế đã chứng minh rằng những doanh nhân khởi nghiệp thành công là những người có tinh thần quyết tâm cao hơn những người bình thường để vượt qua những trở ngại, có sự đam mê và kiên trì vượt trội để có thể đứng lên từ những thất bại trong thời gian ngắn.

Kỹ năng nền tảng cơ bản về kiến thức chuyên môn:

Hiện nay muốn làm bất cứ một việc gì trong bất cứ một ngành nghề nào bạn cũng cần phải có kiến thức về ngành nghề đó, vì thế nếu muốn khởi nghiệp kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó bạn cũng nên tìm hiểu kĩ các kiến thức xung quanh lĩnh vực đó.

Ví dụ: bạn muốn khởi nghiệp bằng cách mở phòng thu âm chuyên nghiệp, thì bạn cần phải có những kiến thức cơ bản trong thanh nhạc, âm thanh, cách hoà âm – phối khí hoặc cần biết sử dụng một số nhạc cụ phổ thông… Hay bạn muốn trở thành một nhà kinh doanh thời trang lớn bạn cần có những kiến thức cơ bản gu thẩm mỹ, thời trang, nắm được xu hướng thời trang, về bán hàng …

Việc hiểu biết các kiến thức cơ bản, chuyên môn trong lĩnh vực mình hoạt động hay nhiều khía cạnh khác nhau trong doanh nghiệp như sản phẩm, nhân lực, công nghệ, thị trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan là một bước đệm quan trọng giúp bạn tránh khỏi sự thất bại trong việc thiếu chuyên môn và những lí do ngoài ý muốn. Vì thế nếu bạn có ý định khởi nghiệp trước tiên hãy trang bị đầy đủ cho mình những kiến thức này.

Kỹ năng tìm hiểu và nghiên cứu thị trường:

Nghiên cứu thị trường tiềm năng sẽ cung cấp cho nhà startup có những thông tin quan trọng về lĩnh vực thị trường mà mình hoạt động. Ngoài ra, việc này giúp khởi nghiệp kinh doanh và phát triển kế hoạch kinh doanh; dể dàng thích ứng với thị trường trong tương lai. Những yếu tố cần được ưu tiên khi nghiên cứu thị trường sẽ là:

  • Xu hướng phát triển thị trường, mức độ hấp dẫn, mức độ cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng, xu hướng bán hàng
  • Kiểm tra hồ sơ các đối thủ cạnh tranh trực tiếp – gián tiếp và đối chiếu với doanh nghiệp mình
  • Phân tích nhân khẩu học của khách hàng, vị trí địa lý, khách hàng điển hình, khách hàng tiềm năng.

Kỹ năng quản lý tài chính:

Quản lý tài chính là một kỹ năng cực kỳ quan trọng đối với người khởi nghiệp kinh doanh. Quá trình startup sẽ cần một lượng tiền nhất định để xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư nhân lực trong khi chưa thể hoạt động để có doanh thu ngay được. Do đó, cần có kế hoạch chi tiêu làm sao vừa phải tiết kiệm và vừa cần hợp lý ngay từ giai đoạn đầu cũng như trong suốt quá trình phát triển sau này của doanh nghiệp khởi nghiệp.

Kỹ năng ủy quyền – giao quyền:

Ủy quyền liên quan tới việc phân bổ trách nhiệm cho mọi người để hoành thành công việc. Điều kiện lý tưởng mà bạn muốn đạt được là khi các nhân viên của bạn có thể thực hiện được tất cả các hoạt đồng hàng ngày trong doanh nghiệp mình.

Ủy thác một cách hiệu quả sẽ giúp đạt được sự cân bằng giữa hiệu quả quản lý và hiệu quả hoàn thành công việc của mọi người. Nhân tố chìa khóa là biết cách làm sao để doanh nghiệp của bạn làm việc cho mình, chứ không phải là bạn tất bật chạy theo quá trình hoạt động của doanh nghiệp mình.

Kỹ năng lập kế hoạch và xây dựng chiến lược:

Lập kế hoạch và xây dựng chiến lược là một hoạt động rất quan trọng trong kinh doanh. Nó là quá trình xác định chiến lược công ty của bạn hay phương hướng và quyết định việc phân bổ nguồn vốn cũng như nhân sự. Bí quyết ở đây là việc biết làm thế nào để dự kiến được khả năng hoạt động của doanh nghiệp của bạn trong tương lai từ 3 đến 5 năm tới với kế hoạch kinh doanh chi tiết.

Ngoài những yếu tố đã được nêu trên thì các kỹ năng mềm – kỹ năng sống cơ bản của bản thân bạn như quản lý thời gian, quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp… cũng là một trong những yếu tố không thể thiếu. Kỹ năng mềm – kỹ năng sống tuy không mang ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của doanh nghiệp nhưng nó là yếu tố hỗ trợ giúp gia tăng khả năng thành công cho quá trình khởi nghiệp của bạn và tạo thế chủ động cho doanh nghiệp của bạn trong các tình huống khó khăn có thể gặp phải.

【#5】Quản Lý Môi Trường Là Gì? Cơ Hội Với Sinh Viên Quản Lý Môi Trường

Quản lý môi trường còn được biết đến với tên quốc tế chính là “Environmental Management”. Ngành quản lý môi trường còn được hiểu chính là ngành tổng hợp tất cả những biện pháp, hệ thống pháp luật, các chính sách về kinh tế, kỹ thuật và chính sách xã hội để bảo vệ chất lượng môi trường và giúp cho nền kinh tế phát triển bền vững nhất, đem lại lợi ích cho đất nước.

Quản lý môi trường được thực hiện và làm theo dựa trên ba mục tiêu chính, đó là:

– Một là, chủ động khắc phục và phòng chống sự suy thoái của môi trường, ô nhiễm môi trường xảy ra trong đời sống của con người.

– Giúp nền kinh tế xã hội của đất nước phát triển theo hướng bền vững

– Xây dựng công cụ quản lý môi trường hiệu quả, bộ công cụ này phải đảm bảo phù hợp với các ngành, các địa phương khác nhau trên cả nước.

Quản lý môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người hiện nay, đặc biệt khi khí hậu và môi trường đang dần bị ô nhiễm nặng nề thì càng thấy rõ vai trò và trọng trách to lớn của quản lý môi trường.

Nguyên tắc quản lý môi trường là gì?

Môi trường là một vấn đề nóng được toàn cầu quan tâm, chính vì thế mà môi trường hiện nay cần thiết phải thực hiện theo những nguyên tắc nhất định chứ không thể nào làm một cách bừa bãi được. Hoạt động quản lý môi trường cần phải thực hiện theo những nguyên tắc sau đây:

Nguyên tắc 1: Định hướng công tác quản lý môi trường đến mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững của đất nước. Giữa phát triển xã hội và môi trường cần được đảm bảo thực hiện song song.

Nguyên tắc 2: Quản lý môi trường là việc chung của toàn thể đất nước và người dân chứ không phải của riêng cá nhân cán bộ quản lý môi trường chính vì thế mà cần phải kết hợp giữa các mục tiêu quốc tế, quốc gia và các vùng lãnh thổ trong công tác quản lý.

Nguyên tắc 3: Công tác quản lý môi trường hiện nay cần thiết phải thực hiện dựa trên nhiều biện pháp khác nhau chứ không sử dụng một biện pháp duy nhất.

Nguyên tắc 4: Trong quản lý môi trường, phòng chống, ngăn ngừa suy thoái môi trường cần được ưu tiên thực hiện hơn là việc xử lý, phục hồi môi trường. Nguyên tắc này chính là đề cao sự “phòng bệnh” hơn là “chữa bệnh” vì môi trường không dễ giải quyết, chính vì thế mà cần phải ngăn ngừa nhiều hơn.

Nguyên tắc 5: “Ai làm người đó chịu” nghĩa là sao, tức là ai gây ra ô nhiễm môi trường thì cần phải bồi thường cho tổn thất về môi trường, và phải chi trả cho những chi phí về xử lý môi trường, còn nếu ai sử dụng các thành phần môi trường thì cần thiết phải trả tiền cho việc sử dụng mà gây ra ô nhiễm môi trường.

Môi trường rất quan trọng, nó chính là môi trường sống của chúng ta, chính vì thế mà việc quản lý môi trường cần phải thực hiện nghiêm túc dựa trên 5 nguyên tắc đó. Tuy nhiên, bạn cần hiểu một điều rằng, môi trường là của chung chứ không phải trách nhiệm của riêng ai, bởi vì thế mà mỗi người chúng ta cần phải có ý thức với môi trường. Và cũng có những trường hợp cho dù có đóng, có trả các chi phí cho việc xử lý môi trường thì nó cũng không trở về được trạng thái ban đầu.

Công cụ để quản lý môi trường

Công cụ dùng trong quản lý môi trường chính là các biện pháp, các văn bản pháp luật của Nhà nước dùng trong quản lý môi trường, tuy nhiên mỗi một công cụ quản lý thì đều có chức năng và giới hạn nhất định của nó, chính vì thế mà nó không thể bao quát được mà cần đến nhiều bộ công cụ khác nhau. Công cụ quản lý môi trường là những công cụ quản lý hành động, vĩ mô và công cụ hỗ trợ, đó là sự phân loại theo chức năng. Khi chia công cụ theo bản chất thì sẽ bao gồm những loại sau:

– Công cụ văn bản luật pháp, bao gồm tất cả các văn bản luật, dưới luật, các thông tư nghị định mà Quốc hội ban hành.

– Công cụ kinh tế chính là các loại thuế và phí, là những thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên công cụ kinh tế này lại chỉ có hiệu quả cao đối với nền kinh tế thị trường đầy năng động và phát triển.

– Công cụ kỹ thuật, những phương pháp, công cụ kỹ thuật sẽ giúp cho quá trình kiểm tra chất lượng và các thành phần của môi trường tốt hơn, đặc biệt trong việc đánh giá sự ô nhiễm và các chất thải ra môi trường.

Những công cụ quản lý môi trường là những công cụ dành riêng cho việc quản lý môi trường. Nó có tác dụng và ưu điểm nhất định thế nhưng vẫn còn những hạn chế và bất cập nhất định.

Ưu nhược điểm của công cụ quản lý môi trường:

– Ưu điểm: Ưu điểm lớn nhất của ngành chính là đảm bảo được sự quản lý, và ngăn ngừa môi trường, có thể xử lý những trường hợp đúng theo quy định của pháp luật. Và thêm vào đó chính là bằng những công cụ của mình có thể bao quát tất cả các ngành nghề, các vùng miền khác nhau.

– Nhược điểm: Nhược điểm chính là bao quát nhưng lại không đến được những vấn đề nhỏ, những khía cạnh nhỏ của vấn đề môi trường. Còn đang quá tập trung quản lý tại các nơi phát triển và thả lỏng ở nhiều địa phương. Tuy các công cụ có luật pháp thế nhưng luật pháp lại có rất nhiều kẽ hở vì thế mà các cá nhân có thể lợi dụng điều đó để hách luật.

Như vậy, tuy rằng có những công cụ thực hiện quản lý môi trường nhưng vẫn có những kẽ hở, vì thế mà công tác quản lý môi trường hiện nay vẫn chưa thật sự có hiệu quả cao. Với những thông tin trên đây, hy vọng bạn đã hiểu thế nào là quản lý môi trường và chương trình quản lý môi trường là gì? Sau khi đã có những hiểu biết nhất định về ngành thì chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem sinh viên ngành quản lý môi trường sẽ có những cơ hội như thế nào nhé!

Ngành quản lý môi trường, năng động cho sinh viên

Tại sao bạn nên chọn ngành quản lý môi trường

Bạn có thấy sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế xã hội hay không? Đúng vậy, trong những năm gần đây kinh tế nước phát trát triển một cách đáng kinh ngạc, thế nhưng đi cùng với nó chính là sự suy thoái của môi trường. Các vấn đề về môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn đó là các vấn đề như: Ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường đất, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách nhanh chóng,…và vô số vấn đề khác làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Chính vì thế môi trường và các vấn đề của môi trường đã trở thành vấn đề nóng và cần được giải quyết một cách nhanh chóng.

Tuy nhiên, nước ta và cả trên thế giới đang vô cùng thiếu nguồn nhân lực trong vấn đề này. Hiện nay không chỉ là vấn đề giải quyết môi trường không nữa mà còn gắn liền với sự phát triển của kinh tế và sự bền vững.

Hiện nay các trường đại học đang tăng mạnh về số lượng đào tạo ngành từ 40% sẽ lên đến con số 70%, trong đó ưu tiên các lĩnh vực có môi trường.

Một mặt khác, trong các doanh nghiệp cũng đang thiếu nhân viên ngành quản lý môi trường khá nhiều. Chính vì thế mà bạn không quá khó để có thể tìm được công việc ngành quản lý môi trường.

Bên cạnh những nguyên nhân trên thì còn một nguyên nhân nữa chính là việc bạn đang làm quản lý môi trường thì cũng là giúp chính bản thân mình được sống trong một bầu không khí trong lành hơn, tốt hơn. Chính vì thế mà cùng với sự đảm bảo về tương lai lại được mang trên mình một sứ mệnh không hề nhỏ, bởi vì thế mà bạn nên theo học ngành quản lý môi trường.

Công việc nhiều màu sắc của ngành quản lý môi trường

Quản lý môi trường chính là một ngành khá rộng, chính vì thế mà nó có rất nhiều chuyên ngành khác nhau, điều này cũng đem lại nhiều lợi ích cho sinh viên ngành với nhiều công việc đúng ngành có thể lựa chọn.

Công việc kỹ sư công nghệ môi trường

Sau khi ra trường sinh viên ngành quản lý môi trường có thể đảm nhận công việc kỹ sư công nghệ môi trường tại các nhà máy, xí nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh. Với công việc hàng ngày cần phải làm chính là nghiên cứu và đánh giá chất thải ra môi trường của các nhà máy xí nghiệp và tìm phương pháp giải quyết.

Sinh viên ngành sẽ được trang bị những kiến thức về chất thải, các quy trình công nghệ khác nhau, thiết bị xử lý chất thải,…để phục vụ cho công việc hàng ngày của mình tốt hơn và kỹ sư công nghệ môi trường cần phải đảm bảo được kiến thức chuyên môn tốt.

Sau khi ra trường bạn sẽ trở thành kỹ sư trong công việc này, và được trang bị những kiến thức về môi trường và các chất độc hại, kỹ thuật xử lý nước thải, rác thải, và kỹ thuật để chống ô nhiễm môi trường. Kỹ sư kỹ thuật môi trường sẽ phải gánh trên vai trọng trách to lớn làm thế nào để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, và phát triển bền vững.

Sau khi ra trường những tân cử nhân có thể làm tại các nơi như: Sở tài nguyên môi trường, Sở phát triển nông nghiệp, các công ty doanh nghiệp về cấp thoát nước, môi trường, nơi nghiên cứu,…như vậy vừa có thể làm trong cơ quan Nhà nước lại vừa có thể góp mặt vào trong các doanh nghiệp tư nhân. Kỹ sư kỹ thuật môi trường sẽ vô cùng có tiềm năng trong tương lai.

Kỹ sư quản lý về môi trường

Quản lý môi trường rồi làm kỹ sư quản lý môi trường, trong quá trình học tập sinh viên sẽ được trang bị cho những kiến thức và kỹ năng về quản lý môi trường, chất thải,…và ngay sau khi tốt nghiệp bạn có thể làm tại các cơ quan Nhà nước như Sở phát triển nông nghiệp, Sở tài nguyên môi trường, Ủy ban nhân dân các xã huyện trên khắp cả nước,…

Với vai trò là kỹ sư quản lý môi trường thì bạn sẽ phải làm các công việc như chuẩn bị cập nhật báo cáo môi trường, theo dõi tiến độ làm việc của cải thiện và xử lý môi trường, ngoài ra còn phải làm rất nhiều công việc khác nữa.

Kỹ sư quản lý tài nguyên rừng

Trong bối cảnh đất nước đang rơi vào biến đổi khí hậu và hiệu ứng nhà kính như hiện nay thì quản lý tài nguyên rừng là vô cùng quan trọng, đây cũng là một trong những chiến lược phát triển đất nước. Kỹ sư quản lý tài nguyên rừng không những phải có trình độ về chuyên môn mà còn phải là người có đạo đức và phẩm chất nghề nghiệp, có trình độ tin học và ngoại ngữ cần thiết để có thể đảm nhận công việc thật tốt.

Sau khi ra trường, sinh viên sẽ được làm việc tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn, kiểm lâm, tài nguyên môi trường, có cơ hội làm việc tại các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, hơn nữa bạn còn có thể làm giảng viên giảng dạy tại các trường đại học trên cả nước,…và vô số công việc khác nhau bạn có thể lựa chọn.

Kỹ sư khoa học môi trường

Khoa học môi trường – kỹ sư khoa học môi trường chính là công việc dành cho những ai yêu thích thiên nhiên, muốn nghiên cứu cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn. Kỹ sư khoa học môi trường chính là người khiến cho môi trường trở nên”khỏe mạnh” hơn, và cùng với xã hội phát triển bền vững. Với khối lượng công việc khá nhiều, kỹ sư khoa học môi trường phải nghiên cứu những đặc điểm của các thành phần môi trường khác nhau, môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo., nghiên cứu sự tác động qua lại giữa môi trường và con người, từ những kết quả nghiên cứu đó sẽ đưa ra những lời khuyên cho Nhà nước để có những biện pháp xử lý kịp thời, tu vấn cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện các chính sách về môi trường hơn,…và một số công việc khác nữa.

Như bạn thấy đấy, ngành quản lý môi trường có thể đảm nhận rất nhiều công việc khác nhau trong lĩnh vực môi trường. Đối với mỗi một công việc, người làm đều phải đáp ứng yêu cầu về kiến thức chuyên môn và những kỹ năng cần thiết để có thể đảm bảo hoàn thành tốt công việc. Với sự năng động, nhiều màu sắc của ngành như hiện nay thì nó đang thực sự thu hút nhiều người học.

【#6】Lgbt Là Gì Trên Facebook? 7 Điều Thú Vị Về Cộng Đồng Lgbt

Lgbt là một khái niệm thuật ngữ xuất hiện trên Facebook hoặc các mạng xã hội, truyền thông, báo chí một cách rộng rãi. Lgbt là viết tắt của các từ cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender) trong tiếng Anh.

LGBT là chữ viết tắt của từ gì trong tiếng Anh?

Những năm gần đây khi nghe đến chuyển giới, les hay những từ nhạy cảm như bê đê không còn là điều mới mẻ, bị cộng đồng hắt hủi nữa, bởi nhờ có chính sách mới của Nhà nước cũng như sự đồng cảm của cả cộng đồng mà những người này đã có thể hòa đồng hơn, sống hòa nhập hơn.

Và từ đó cộng đồng người này được gọi chung dưới cái tên LGBT. Vậy LGBT là gì, nó có ảnh hưởng hay có những đặc điểm gì? Cùng WikiDinhNghia tìm hiểu và giải đáp qua bài viết “Tìm hiểu về cộng đồng LGBT là gì” dưới đây bạn nhé!

Lgbt là một cụm từ được viết tắt từ các từ Lesbian, Gay, Bisexual và Transgender lấy các chữ cái đầu ghép lại mà thành. Lgbt có thể hiểu là cộng đồng những người đồng tính. Lgbt còn là tên của các nhóm, cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender).

Lgbt là gì, Lgbt là tên gọi dành cho một cộng đồng thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá dựa trên thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và bản dạng giới tính.

Thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c của con người được chia thành 3 loại chủ yếu: dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái, còn theo bản dạng giới thì phân thành: người chuyển giới và người không chuyển giới. Trong đó, Lgbt là cộng đồng những người thuộc các thiên hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội.

Cộng đồng Lgbt là gì trên facebook, các trang truyền thông, báo chí?

Xã hội rất đa dạng người và giới tính của mỗi người cũng vậy, có người họ làm nam nhưng con người bên trong là nữa, tương tự họ là nữ giới nhưng mạnh mẽ và muốn trở thành nam giới.

Và Lgbt không còn chỉ một người hay một vài người mà dùng cho một cộng đồng, cộng đồng của những người muốn sống thật với con người bên trong của mình, người ta thường hay gọi là cộng đồng Lgbt tức là cộng đồng người đồng tính.

Ý nghĩa Lgbt – Life Gets Better Together

Hoặc có những người họ có suy nghĩ tích cực, chủ động hòa đồng, ủng hộ cộng đồng này, họ thường dịch “Lgbt” theo một nghĩa khác tốt đẹp hơn “Life Gets Better Together” dịch ra là cuộc sống nên trở nên tốt đẹp với nhau. Nghĩa là cuộc sống này sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi mọi người hòa nhập với nhau, không kỳ thị hay phân biệt.

Thuật ngữ Lgbt không phải là một từ chính thống trong pháp lý nhưng được nhóm người này chấp nhận và sử dụng rộng rãi (đặc biệt là những nước sử dụng tiếng Anh).

Và trong thời gian vừa qua chắc hẳn mọi người thấy mạng xã hội Facebook có trào lưu dùng hình đại diện hoặc khung hình có nền 6 màu, điều này xuất hiện như một hiện tượng xã hội, chắc hẳn đang khiến bạn đọc thắc mắc đó là gì và có ý nghĩa như thế nào? Qua tìm hiểu WikiDinhNghia đưa ra lời giải đáp như sau.

Cờ lục sắc Lgbt gồm những màu nào và ý nghĩa ra sao?

Việc sử dụng hình nền hay khung viền hình đại diện trên mạng xã hội với 6 màu tương ứng với ý nghĩa về màu sắc:

  • Màu đỏ – dũng khí
  • Màu cam – nhận thức và khả năng
  • Màu vàng – thách thức
  • Màu xanh lá – sự khích lệ và phấn đấu
  • Màu xanh dương – hy vọng, sự chia sẻ, giúp đỡ và đấu tranh
  • Màu tím – sự thống nhất và hòa hợp.

Và được xem như là lá cờ, biểu tượng của cộng đồng Lgbt, 6 màu này được sử dụng chung cho cả cộng đồng LGBT, ngoài ra mỗi cộng đồng nhỏ trong LGBT lại có một biểu tượng riêng biệt, chẳng hạn như:

Cờ riêng của mỗi cộng đồng nhỏ trong Lgbt là gì?

  • Cờ của cộng đồng người toàn tính (Pansexual) gồm 3 màu: hồng – vàng – xanh da trời.
  • Cờ của cộng đồng song tính (Bisexual) gồm 3 màu: hồng – tím – xanh dương
  • Cờ của người vô tính (Asexual) gồm 4 màu: đen – xám – trắng – tím than
  • Cờ của cộng đồng người chuyển giới (Transgender) gồm 3 gam màu chia thành 5 dải màu, cụ thể như sau: xanh da trời- hồng- trắng- hồng- xanh da trời.

Phong trào này là do vào ngày 26/06/2015 vừa qua, Mỹ đã thông qua điều luật cho phép việc kết hôn những người đồng tính trên khắp cả nước Mỹ. Điều này đã có một sự không nhỏ và có thể được chứng minh như Ông chủ Facebook đã tham gia hưởng phong trào đó cùng với cộng đồng Lgbt qua việc thay đổi hình đại diện của mình có nền là cờ lục sắc 6 màu.

CEO của Apple là Tim Cook đã cùng các nhân viên của mình xuống đường để ủng hộ cho sự kiện này. Ngoài ra còn có người dân khắp đất nước cũng như nhiều quốc gia khác đồng thực hiện hưởng ứng.

Ở Việt Nam đông đảo các bạn trẻ cũng hưởng ứng bằng việc sử dụng hình nền đại diện có nền cờ lục sắc. Trước đây ở Việt Nam cũng có phong trào do cộng đồng Lgbt khởi xướng là “Tôi đồng ý” cũng được sự ủng hộ của rất nhiều người.

Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta việc kết hôn đồng tính, hay chuyển giới mãi đến năm 2014 mới được xóa bỏ theo Nghị Định tháng 10 năm 2013 của Nhà nước, được nhà nước công nhận là hợp pháp.

Biểu tượng lá cờ 7 màu của cộng đồng Lgbt có ý nghĩa gì?

Đọc đến đây chắc hẳn bạn đọc đang thắc mắc là phần trên là 6 màu xong xuống nội dung này là 7 màu là như thế nào khảo không ạ. Nguyên nhân là do trong thực tế, người ta sử dụng biểu tượng không có màu chàm và màu lam được thay bằng màu xanh cyan.

Do vậy mà biểu tượng cũng như lá cờ của cộng đồng Lgbt còn 6 màu. Còn trên lý thuyết là bao gồm 7 màu của cầu vồng gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím (red, orange, yellow, green, blue, indigo, violet). Mang ý nghĩa, tượng trưng cho tính cách, cá tính cũng như giới tính và đặc điểm của cộng đồng này.

Những người Lgbt nổi tiếng, quyền lực trên Thế Giới hiện nay

  • Greta Garbo (1905-1990)
  • Ruth Benedict (1887-1948)
  • Roberta Cowell (1918-2011)
  • Lili Elbe (1882-1931)
  • Gertrude Stein (1874-1946)
  • Marlene Dietrich (1901-1992)
  • Jane Addams (1860-1935)
  • Emily Dickinson (1830-1886)
  • Rosa Bonheur (1822-1899)
  • Frida Kahlo (1907-1954)
  • Chị em nhà Wachowski
  • Mary Kay Henry
  • RuPaul Charles
  • Tammy Baldwin
  • Anthony Romero
  • Ryan Murphy
  • Jill Soloway
  • Ellen DeGeneres
  • Anderson Cooper
  • Rachel Maddow
  • Stephen Fry
  • Ian McKellen
  • Elton John
  • Boy George
  • Billie Jean King
  • Và còn rất nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa.

Những khái niệm, thuật ngữ định nghĩa về cộng đồng LGBT là gì?

Đồng tính luyến ái nữ (Les là gì hay Lesbian là gì?)

Đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính, là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c hoặc việc yêu đương hay quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c giữa những người cùng giới tính với nhau, trong một hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài.

Với vai trò là một thiên hướng tính dục, chủ yếu và duy nhất đối với người cùng giới tính. Đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, hoặc hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c. Nó cũng là đánh giá thực về một cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này.

Trong thang liên tục dị tính – đồng tính (Thang Kinsey), đồng tính luyến ái cùng với dị tính luyến ái và song tính luyến ái được chia thành ba dạng chủ yếu của thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c con người.

Khi một biến thể có bản chất bình thường và tích cực của tính dục con người, không phải là một bệnh hay sự lệch lạc tâm lý và đặc biệt không phải là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng tâm lý tiêu cực.

Với sự đồng tình, chấp nhận từ cộng đồng cũng như từ phía Chính Phủ, nhiều người đồng tính nam, đồng tính nữ và đã đang sống trong mối quan hệ gắn kết, lâu dài. Thông qua các hình thức điều tra dân số mới nhận thấy con số đã có sự thay đổi tích cực, tạo điều kiện cho việc bộc lộ, công khai xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân của họ.

Nếu dựa trên những khía cạnh tâm lý thiết yếu thì những mối quan hệ này có thể hiểu là tương đương với các mối quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c khác giới, không có nhiều sự khác biệt.

Đồng tính luyến ái đã từng được ngưỡng mộ cũng như lên án trong suốt quá trình phát triển nhân loại được lịch sử ghi lại, tùy thuộc vào hình thức của nó và nền văn hóa mà nó diễn ra.

Từ cuối thế kỷ XIX đã có một phong trào trên phạm vi toàn cầu về xu hướng tăng khả năng bộc lộ, công khai thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân ở người đồng tính, công nhận pháp lý các quyền lợi hợp pháp cho những người đồng tính.

Trong đó có quyền kết hôn và các hình thức kết hợp dân sự, quyền nhận con nuôi và làm cha mẹ ở người đồng tính, các quyền liên quan đến việc làm, phục vụ trong quân đội, tiếp cận bình đẳng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự ra đời của luật chống bắt nạt để bảo vệ trẻ vị thành niên đồng tính đã được diễn ra và lan rộng trong suốt một thời gian dài.

Và không chỉ ở Con người, các nhà nghiên cứu khoa học về động vật chỉ ra hành vi đồng tính cũng rất phổ biến trong thế giới tự nhiên, được quan sát và ghi nhận ở khoảng 1.500 loài động vật.

Đồng tính luyến ái nam (Gay) là gì?

Có thể do thời đại đổi mới, nên suy nghĩ cũng tích cực hơn. Như trước đây những người nam bị thu hút về mặt tâm hồn và thể xác bởi con trai chứ không phải con trai, họ muốn là con gái, bị gọi dưới cái tên nghe không mấy dễ chịu là “Bê đê”.

Nhưng sau này, những cái tên như “bóng”, “Bóng kín, bóng hở”, “3D” hay “Gay” là 1 những từ chỉ nhóm người này. Thường với Nam mà là nữ thì gọi như vậy, còn với Nữ mà là nam thì họ hay gọi là “Les” hơn.

Giống như một mối quan hệ giữa con gái và con trai, mối quan hệ giữa hai con trai cũng bao gồm cả những rung động về mặt cảm xúc, tình cảm chứ không chỉ là hấp dẫn về thể xác như nhiều người lầm tưởng.

Không thể biết được một người là Gay hay không chỉ dựa trên bề ngoài đầu tóc, cách ăn mặc, đi đứng nói năng, … của họ. Vì có những “Gay” nam tính (Male) nhưng cũng có những “Gay” nữ tính (Bot). Tùy theo cách mà họ muốn thể hiện, với con người mà họ hướng tới thôi.

Song tính luyến ái (Bisex hay bisexual là gì?)

Song tính luyến ái hay lưỡng giới (tiếng Anh: bisexual) là mối quan hệ hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c của một người với cả hai giới tính nam và nữ. Là với người song tính luyến ái họ có thiên hướng với cả người cùng giới tính và khác giới tính với mình về mặt tình cảm, cảm xúc, hoặc cả t.ì.n.h d.ụ.c.

Lưỡng giới cũng chỉ sự công nhận về mặt cá nhân và xã hội đối với những người như vậy. Song tính luyến ái, cùng với đồng tính luyến ái và dị tính luyến ái là ba thiên hướng tính dục chính.

Những người không bị hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c với cả nam lẫn nữ thì ngược lại và được xếp vào nhóm còn lại tròn thang đo đồng tính, được gọi là vô tính (asexual).

Theo nghiên cứu của Alfred Kinsey về t.ì.n.h d.ụ.c loài người vào giữa thế kỷ 20, nhiều người không chỉ là dị tính luyến ái hoặc đồng tính luyến ái mà nằm giữa hai loại này. Kinsey đánh giá sự hấp dẫn và thể hiện t.ì.n.h d.ụ.c trên một thang 7 điểm bắt đầu từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái).

Theo nghiên cứu của Kinsey, phần lớn dân số thuộc loại từ 1 đến 5 (giữa dị tính luyến ái và đồng tính luyến ái). Mặc dù phương pháp của Kinsey đã từng bị chỉ trích, thang đo này vẫn được sử dụng rộng rãi để đánh giá sự liên tục của t.ì.n.h d.ụ.c loài người.

Tuy nhiên, các thuật ngữ bisexual (song tính luyến ái), heterosexual (dị tính luyến ái) và homosexual (đồng tính luyến ái) chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ 19 mặc dù Song tính luyến ái cũng như các trạng thái của giới tính đã được thấy trong nhiều xã hội khác nhau trong lịch sử trước đó và trong thế giới loài vật thông qua các tài liệu lịch sử.

Người chuyển giới (Transsexual/Transgender là gì)

Người chuyển giới (tiếng Anh: Transgender) hay còn gọi là hoán tính, là trạng thái tâm lý giới tính của một người không phù hợp với giới tính của cơ thể. Chẳng hạn, một người sinh ra với cơ thể nam nhưng cảm nhận giới tính mình là nữ hoặc một người sinh ra với cơ thể nữ nhưng lại cảm nhận giới tính của mình là nam.

Cảm nhận này không phụ thuộc vào việc người đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa. Và họ được gọi là người đã phẫu thuật chuyển giới khi họ nhờ tới sự can thiệp của y học chuyển giới theo giới tính mà họ mong muốn. Họ có thể thuộc nhóm t.ì.n.h d.ụ.c dị tính, đồng tính hoặc song tính luyến ái.

Một số khác có thể xem xét định hướng t.ì.n.h d.ụ.c thông thường không đầy đủ hoặc không áp dụng đối với họ. Người chuyển giới là nhóm người hoàn toàn độc lập với thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c.

Những người chuyển giới được mô tả là những người khi sinh ra đã mang sẵn một giới tính sinh học (dựa vào cơ quan s.i.n.h d.ụ.c để phân biệt), nhưng tâm lý của những người này cảm nhận rằng giới tính của họ không giống với giới tính mà thể xác của họ đang có.

Không phải tất cả những người chuyển giới đều muốn thay đổi cơ thể họ, mặc dù một số khác thì cảm thấy mong muốn điều này. Tuy nhiên, hầu hết những người chuyển giới đều mong muốn có thể hòa nhập với cộng đồng và có một vai trò trong xã hội phù hợp với giới tính mà tâm lý của họ tự xác định.

Thuật ngữ liên quan tới các dạng giới tính khác

– Asexual (Người vô tính – Nonsexuality) là gì?

Asexual (người vô tính) là những người không hoặc hiếm khi bị hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c với bất kỳ nhóm giới tính nào. Họ dường như thờ ơ với mọi quan hệ tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c trong xã hội. Người vô tính còn có tên gọi khác là Nonsexuality.

– Pansexual (Toàn tính luyến ái – Omnisexual) là gì?

Pansexual (toàn tính luyến ái) vẫn còn là khái niệm khá mới trong cộng đồng LGBT hiện nay. Toàn tính luyến ái được hiểu là những người bị cuốn hút bởi cái đẹp hoặc bất kỳ ai mang tới cảm xúc cho họ, mà không hề quan tâm tới giới tính người đó ra sao.

Toàn tính luyến ái khác với song tính đó là họ có xu hướng hấp dẫn với toàn bộ các giới tính khác nhau mà không chỉ giới hạn ở 2 (song tính). Toàn tính luyến ái còn có tên gọi khác là Omnisexual.

– Demisexual (Người khuyết tính) là gì?

Demisexual (người khuyết tính) hiểu đơn giản là những người ban đầu không có bất kỳ sự cuốn hút đối với giới tính nào.

Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó, có một người xuất hiện, không quan trọng là giới tính nào, mang đến tình cảm cho họ, tạo cho họ một sợi dây cảm xúc thân thuộc, chặt chẽ, có thể hiểu là “rung động”, thì họ bị cuốn hút bởi người này. Người khuyết tính có thể coi là nằm lưng chừng giữa người toàn tính và người vô tính.

– Người dị tính (Queer) là gì?

Người dị tính (Queer) là thuật ngữ chỉ những người thuộc giới tính thứ 3 nói chung. Bao gồm toàn bộ người đồng tính, người vô tính, người toàn tính, song tính, khuyết tính…

Thuật ngữ khác liên quan tới LGBT

Nếu có cơ hội tiếp xúc, nói chuyện hay tham gia với cộng đồng Lgbt, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy có rất nhiều điều thú vị về họ, một phần ngôn ngữ được gọi là thuật ngữ Lgbt cũng là điều khiến bạn tò mò đấy. Ví dụ như:

– “Come out” trong LGBT là gì?

“Come out” trong LGBT được hiểu là hành động công khai giới tính thực của mình đối với xã hội sau khi người đó đã trải qua 1 quá trình tìm hiểu khám phá.

– Chứng sợ đồng tính (Homophobia) là gì?

Chứng sợ đồng tính (Homophobia)là ám chỉ những người có định kiến sâu sắc đối với những người đồng tính, dị tính nói chung. Đa phần những người này có thái độ tiêu cực, bài trừ, miệt thị… đối với cộng đồng LGBT.

– Hội chứng sợ người chuyển giới (Transphobia) là gì?

Như cái tên của nó đã nói lên tất cả. Đây là nhóm người mang cảm giác ám ảnh, ghê sợ đối với những người chuyển giới hay hành động chuyển giới. Có thể đối với những giới tính khác họ vẫn cảm thấy bình thường nhưng riêng chuyển giới mang tới cho nhóm người này sự bài xích vô cùng lớn.

“Gei” trong LGBTđược hiểu là bản thân người con gái hoặc một nhóm con gái thích một hoặc một nhóm con gái khác. Nếu như Gay là chỉ Nam x Nam thì Gei là cách nói vui chỉ Nữ x Nữ.

Một số khái niệm thông dụng khác trong cộng đồng LGBT

Ngoài LGBT, nếu bạn muốn tiếp xúc và tìm hiểu kỹ hơn về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới, nhất định bạn phải hiểu thêm về những thuật ngữ trong cộng đồng này để thuận tiện hơn trong giao tiếp cũng như kết bạn làm quen. Ví dụ như:

SB là gì? SB cứng, Sb mềm nghĩa là gì?

SB là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Soft Butch”- là loại trong Les. SB gồm 2 loại SBM (SB mềm) và SBC (SB cứng).

SB mềm: là những người có tính khí giống con trai, và luôn nghĩ mình là con trai. Nhưng khi thể hiện ra bên ngoài vẫn giống con gái và chỉ yêu thích con gái.

SB cứng là những les có phong cách, dáng vẻ, cử chỉ và cách ăn mặc như con trai. Nếu chỉ nhìn về bên ngoài thì bạn sẽ không biết đó là một cô gái.

Trans guys là từ dùng để chỉ một người là con gái nhưng khi nhìn vào thì không ai có thể phân biệt được vì bề ngoài giống hệt con trai.

Fem là viết tắt của từ Femme – les yểu điệu, là những người có hình dáng, cử chỉ và cách biểu hiện ra bên ngoài giống hệt một người con gái bình thường, nhưng chỉ yêu thích con gái.

Tom chính là từ viết tắt của Tomboy. Những người này có cá tính, cách ăn mặc, ngoại hình và cách thể hiện giống với con trai – khá giống với SB cứng.

Tuy nhiên, họ không hoàn toàn là les 100% vì hiện nay nhiều bạn nữ thích phong cách tomboy và thể hiện ra bên ngoài sự mạnh mẽ của mình mà thôi.

SB và Trans guys khác nhau như thế nào?

Có phải khi đọc xong SB cứng và Trans khiến bạn thắc mắc hai tên gọi này đều chỉ nhóm người giống nhau phải không? Vậy thì bạn sẽ có câu trả lời ở ngay đây.

Thực ra cả SB và Trans đều là những người có cơ thể ở dạng nữ nhưng thể hiện hành động và phong cách giống một người con trai. Nhưng nếu xét về mặt bản chất thì đây là hai khái niệm chỉ những dạng người khác nhau. Cụ thể như sau:

Tính cách: Nếu so sánh về mặt tính cách, cử chỉ thì Trans thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả SB cứng.

Nhìn nhận về cơ thể: Trans luôn mong muốn và gần như tìm mọi cách để biến mình thành một người con trai.

Trong khi đó, SB cũng mong muốn trở thành một người đàn ông, nhưng họ không hề ghét những đặc điểm nữ tính của mình; thậm chí những bạn SB mềm còn thể hiện ra vẻ ngoài không khác gì những cô nàng khác.

Gay là một từ thường xuyên bị sử dụng một cách nhầm lẫn. Trên thực tế, “gay” chính là từ chỉ người đồng tính, không chỉ riêng đồng tính nam

Bot hay Bottom hay thụ đều là những từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái bị động trong việc quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c. Có thể hiểu đơn giản là những người nằm dưới- đóng vai trò “vợ”.

Ngoài ra, với những bạn yêu thích nền văn hóa Nhật Bản, bot còn được biết với tên gọi “uke”. Đôi khi người ta cũng gọi những bạn bot thuần là “thuần 0”.

Ngược lại với bot, top hay công đều là từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái chủ động trong quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c – những người nằm trên, đóng vai trò “chồng”.

Tương tự như bot trong tiếng Nhật được gọi là “uke” thì top trong tiếng Nhật được gọi là “seme”. Nếu bot thuần được gọi là “thuần 0” thì top sẽ được gọi là “thuần 1”.

Nếu trong cộng đồng đồng tính có những người chuyên ở vai top hoặc bot thì cũng sẽ có những người có thể thay đổi vai trò của mình giữa bot và top liên tục. Có nghĩa là, với những người này họ có thể là top, nhưng với người yêu khác họ có thể là bot. Và họ được gọi là “center”- ở giữa.

Come out có nghĩa là “lộ diện”, là khái niệm dùng để chỉ sự công khai của những người trong cộng đồng LGBT với những người khác về xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c khác biệt của mình.

Hủ là từ thường được sử dụng để chỉ những cô nàng hoặc những anh chàng thích và bị thu hút bởi những cặp đôi nam – nam hoặc nữ – nữ.

Họ không phải là người đồng tính, nhưng họ rất ủng hộ và dễ cảm thấy phấn khích với các cặp đôi đồng tính trong truyện, trên phim ảnh thậm chí ngoài đời thực.

Hủ gắn liền với các khái niệm có liên quan như:

  • Hủ nữ: cô nàng thích những cặp đôi đồng tính
  • Hủ nam: anh chàng thích các cặp đôi đồng tính
  • Đam mỹ: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nam
  • Bách hợp: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nữ.

Làm sao để nhận biết một người là đồng tính hay song tính?

Làm sao để phân biệt, nhận biết giới tính của bản thân là gì có lẽ cũng là điều băn khoăn của nhiều bạn trong giới trẻ hiện nay.

Có những trường hợp họ bình thường, họ là nam, thích nữ nhưng khi quen, tiếp xúc với những người trong cộng đồng Lgbt họ bắt đầu nghi ngờ mình là giới tính gì vì họ bắt đầu chịu ảnh hưởng từ môi trường xung quanh.

Hay như họ bị nói là “gay”, họ là con gái thích một người con trai nhưng sau đó nhận ra là người con trai đó “bóng” nên họ mong muốn mình thành con trai để yêu thương người kia… Từ đó việc bản thân là giới tính như thế nào đã cớ sự suy nghĩ, làm cách nào để biết được mình là đồng tính hay song tính.

Về cơ bản, người ta có thể không quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c mà vẫn biết xu hướng tính dục của mình thích người cùng giới, khác giới hay cả hai.

Mỗi người trong cộng đồng Lgbt dù là đồng tính, vô tính hay song tính cũng có trải nghiệm rất khác nhau. Có người biết mình là đồng tính hoặc song tính từ lâu, sau đó mới có quan hệ yêu đương, t.ì.n.h d.ụ.c.

Có người lại có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c trước (với những người cùng giới hay khác giới) rồi mới tự xác định xu hướng tính dục của mình.

Định kiến và phân biệt đối xử khiến nhiều người chối bỏ xu hướng tính dục của mình, vì thế việc nhận ra bản thân là đồng tính hay song tính có thể là một quá trình diễn ra từ từ, cũng có thể là một sự đấu tranh từ tư tưởng của bản thân đến sự mạnh mẽ bước ra thế giới bên ngoài.

Ngày kỉ niệm Lgbt của Liên Hiệp Quốc là ngày nào?

Liên Hiệp Quốc chọn ngày 17 tháng 5 hàng năm là “Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Lgbt) – IDAHO” (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia).

Ngày này được chọn để kỷ niệm sự kiện ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã “giải mã” thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và công bố loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Sự kiện 17/5 được tổ chức tại hơn 100 quốc gia, tại tất cả các khu vực trên thế giới từ năm 2004.

Sự kiện này được công nhận chính thức bởi nhiều Chính phủ và tổ chức quốc tế như Nghị viện Châu u và rất nhiều nhà chức trách địa phương. Hầu hết các cơ quan thuộc Liên Hiệp quốc cũng đánh dấu và kỷ niệm ngày này với các sự kiện cụ thể.

Các chính phủ, chính quyền các địa phương, các tổ chức nhân quyền, các doanh nghiệp và những người nổi tiếng đã có những hành động thiết thực, cụ thể ủng hộ sự kiện này…

Các quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính

Mỹ – 2021: Trước khi hôn nhân đồng tính được công nhận trên toàn nước Mỹ ngày 26/6, nhiều bang của quốc gia này đã cho phép các đôi nam hoặc nữ kết hôn như Massachusetts, New York, Washington, Hawaii, New Mexico…

Trong đó, thành phố San Francisco, Los Angeles, Miami từ lâu được xem là thánh địa của các đôi thuộc giới tính thứ 3.

Ireland, 2021: Đây là quốc gia đầu tiên trên thế giới chấp nhận hôn nhân đồng giới bằng cách trưng cầu dân ý với đa số tán thành. Tại đây, các đôi có thể thực hiện bộ ảnh cưới với những tòa lâu đài tuyệt đẹp.

Tuy nhiên, họ phải thông báo trước vài tháng về kế hoạch làm đám cưới của mình và ở lại Ireland ít nhất 15 ngày để được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Phần Lan – 2021: Quốc hội nước này đã thông qua luật hôn nhân sửa đổi cho phép các cặp đồng tính kết hôn với 105 phiếu thuận và 92 phiếu chống.

Slovenia – 2021: Tháng 3 vừa qua, quốc hội nước này cũng vừa thông qua dự luật về quyền tự do kết hôn. Dù đang chờ chữ ký của Tổng thống, dự luật này cũng cho phép các đôi thuộc cộng đồng Lgbt (đồng tính nam, nữ, song tính và chuyển giới) nhận nuôi con.

Luxembourg – 2014: Với số phiếu thuận áp đảo 54/6, đất nước này đã thông qua dự luật mở rộng quyền tự do kết hôn với các cặp đồng tính. Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettle là lãnh đạo đầu tiên trong Liên minh châu u (EU) kết hôn với người tình đồng giới.

Scotland – 2014: Đất nước này có nhiều điểm đến được xem như “thánh địa của người đồng tính”, như Glasgow, Edinburgh cùng đường bờ biển đẹp tuyệt.

Pháp – 2013: Sau khi được luật pháp chấp thuận, Vincent Autin và Bruno Boileau là đôi đồng tính đầu tiên tổ chức đám cưới ở Montpelier.

Ngoài ra, Marais và Riviera cũng là các thiên đường dành cho cộng đồng này với nhiều trải nghiệm lãng mạn trong kỳ trăng mật. Lễ hội cho người đồng tính ở Pháp thường tổ chức vào thứ 7 cuối cùng của tháng 6.

Anh – 2013: Ngoài các câu lạc bộ đêm ở London, Liverpool và Manchester cũng là những thiên đường vui chơi cho mọi người, đặc biệt là người thuộc giới tính thứ 3. Riêng Brighton còn được mệnh danh là “Thủ đô đồng tính”.

Brazil – 2013: Thành phố Rio de Janeiro cũng là địa điểm thân thiện với người đồng tính nhờ nhiều bãi biển đẹp, nhà hàng đẳng cấp và các trò vui chơi giải trí hấp dẫn cho đến đêm khuya.

Chủ nhật đầu tiên sau kỳ nghỉ Corpus Christi (thường là vào tháng 5 hoặc tháng 6), hàng triệu người sẽ tham gia lễ hội dành cho cộng đồng Lgbt ở Sao Paulo.

Uruguay – 2013: Là quốc gia thứ 3 ở Mỹ Latinh chấp nhận kết hôn đồng tính, nơi đây trở thành điểm đến an toàn và thân thiện cho cộng đồng này.

New Zealand -2013: Thông qua luật hôn nhân đồng tính chưa lâu, nhưng đất nước này từ trước đã tỏ thái độ ủng hộ khi đưa ra các khẩu hiệu thân thiện với du khách thuộc giới tính thứ 3, cũng như xây dựng một loạt nhà trọ, khách sạn dành riêng cho cộng đồng này…

Ở đây hay tổ chức các hoạt động vui chơi dành cho du khách đồng tính, trong đó nổi bật nhất là tuần lễ trượt tuyết được tổ chức ở thị trấn Queenstown vào trung tuần tháng 7 hoặc đầu tháng 8.

Đan Mạch – 2012: Ngay giữa trung tâm thủ đô Copenhagen có một quảng trường dành riêng cho người đồng tính với tên gọi “Quảng trường bình đẳng”. Nơi đây là một địa điểm tuyệt vời cho đôi tổ chức lễ thành hôn.

Liên Hiệp Quốc nêu quyền của cộng đồng Lgbt như thế nào?

Liên Hiệp quốc coi “Quyền Lgbt” (các quyền đối với cộng đồng Lgbt như: công nhận hôn nhân đồng giới đối với người đồng tính, cho phép chuyển đổi giới tính với người chuyển giới, công nhận hay cho phép nhận người Lgbt sinh con, nhận con nuôi… trong luật pháp) là vấn đề nhân quyền (quyền con người) và cần thực hiện tại các quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho biết, trong gần 80 quốc gia trên thế giới thì yêu thương một người nào đó cùng giới vẫn được coi là bất hợp pháp, và ở nhiều nước vẫn còn nhiều công dân bị từ chối quyền được sống theo bản sắc giới tính của họ.

Cùng với bất bình đẳng trong trong luật pháp, hội chứng kỳ thị và phân biệt đối xử đang hàng ngày diễn ra để từ chối những phẩm giá con người căn bản của hàng triệu người trên toàn thế giới..

Trong một cuộc họp vào tháng 5 năm 2012 của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR), Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon phát biểu: “Trong tài liệu báo cáo của OHCHR cho thấy có một sự vi phạm đáng lo ngại ở tất cả các vùng miền.

Chúng tôi thấy một hình ảnh của phân biệt đối xử, kỳ thị nhắm vào những con người chỉ vì họ là người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính hay chuyển giới. Có một sự bất công phổ biến tại những nơi làm việc, trường học và bệnh viện, có cả các cuộc tấn công, bạo lực kinh khủng, bao gồm cả tấn công t.ì.n.h d.ụ.c.

Có những người Lgbt đã bị bỏ tù, tra tấn, thậm chí bị giết. Đây là một thảm kịch lớn cho những người phải chịu đựng, và là một vết nhơ bẩn đối với lương tâm chung của chúng ta. Nó cũng là một sự vi phạm luật pháp quốc tế.”

Một báo cáo của tổ chức GLAAD ban hành vào tháng 2 năm 2011 cho thấy, 90% số người chuyển giới phải đối mặt với nạn kỳ thị tại nơi làm việc và tỷ lệ thất nghiệp gấp đôi tỷ lệ chung của dân số.

Hơn một nửa số họ đã bị sách nhiễu hoặc bị từ chối khi cố gắng tiếp cận vào các dịch vụ công cộng. Các thành viên của cộng đồng người chuyển giới cũng gặp phải sự phân biệt đối xử cao độ trong vấn đề chăm sóc sức khỏe hàng ngày.

Thực trạng LGBT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

Quyền LGBT ở Việt Nam bao gồm những gì?

Về số lượng người đồng tính ở Việt Nam, hiện nay chưa có con số thực sự chính xác vì chưa có một cuộc thống kê chính thức mang tính quy mô và toàn diện được tổ chức. Theo ước tính của bác sĩ Trần Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người (chiếm 0,09% dân số).

Một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), Việt Nam hiện đang có khoảng 1,6 triệu người đồng tính, song tính và chuyển giới ở độ tuổi 15-59.

Theo báo cáo từ tổ chức WHO của Liên hợp quốc thì khoảng 3% dân số có thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính, nếu lấy tỷ lệ này áp dụng cho Việt Nam thì hiện nay cả nước có khoảng gần 3 triệu người đồng tính.

Về số lượng người chuyển giới, năm 2021 Bộ Y tế Việt Nam cho biết đã nhận được gần 600 hồ sơ cá nhân đề xuất sửa đổi giới tính mới sau khi họ đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, quyền chuyển đổi giới tính chính thức được hợp pháp hóa tại Việt Nam sau khi Bộ luật dân sự sửa đổi 2021 cho phép chuyển đổi giới tính và thay đổi nhân thân, hộ tịch sau chuyển đổi được Quốc hội thông qua.

Từ cuối thập niên 2000, cùng với sự cởi mở hơn đối với giới LGBT ở các nước phát triển, LGBT ở Việt Nam bắt đầu được đề cập và nhìn nhận dần dần ở nhiều lĩnh vực. Cho đến nay, mặc dù hôn nhân đồng tính chưa được hợp pháp hóa, Việt Nam là nước dẫn đầu ở Đông Nam Á trong công nhận quyền lợi của LGBT.

Tuy nhiên, cũng tương tự như nhiều nước trên thế giới, nam có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c với nam ở đô thị vẫn tiếp tục là nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV, đây là một trong những thử thách lớn cho công tác tuyên truyền và các hoạt động phòng chống HIV.

Luật pháp LGBT ở Việt Nam

Tại Việt Nam hiện nay không có luật cấm quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cấm kết hôn giữa những người đồng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” từ ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Tuy nhiên, Luật 2014 vẫn quy định “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8).

Các chính quyền trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ đưa ra luật về quan hệ đồng tính. Luật Hồng Đức có đề cập đến hãm hiếp, ngoại tình, và loạn luân nhưng không nhắc gì đến đồng tính. Chính quyền thực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính trong các thuộc địa.

Mặc dù mại dâm nữ là phạm pháp, luật pháp không đề cập gì đến mại dâm nam. Tuy nhiên, những hành vi đồng tính có thể bị khởi tố dưới các tội danh như “vi phạm luân lý”. Trong những trường hợp hiếm hoi mà hành vi đồng tính bị trừng phạt, tội danh là “ngoại tình” hay “hãm hiếp”.

Từ cuối thập niên 1990, một vài đám cưới đồng tính rất hiếm hoi xuất hiện nhưng đến cuối thập niên 2010 nhiều đám cưới được tổ chức khắp các tỉnh thành. Ngày 7 tháng 4 năm 1997, hãng thông tấn Reuters đưa tin về đám cưới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh giữa hai người nam.

Tiệc cưới diễn ra tại một khách sạn với 100 khách mời, và bị nhiều người dân phản đối. Ngày 7 tháng 3 năm 1998, hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận. Sau các đám cưới này, Quốc hội thông qua quy định cấm hôn nhân đồng tính vào tháng 6 năm 1998.

Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội liệt kê đồng tính luyến ái trong các “tệ nạn xã hội” cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy.

Năm 2008, chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định quy định việc “xác định lại giới tính” đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khác với người đồng tính, những người này là do bị dị tật bẩm sinh về thể xác, cần phẫu thuật để điều chỉnh lại bộ phận bị dị tật.

Tháng 7 năm 2012, Bộ Tư pháp đưa ra đề xuất sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, trong đó có thể công nhận hôn nhân đồng tính; Việc này làm nhiều báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam có khả năng trở thành nước châu Á đầu tiên công nhận hôn nhân đồng tính.

Tại một cuộc đối thoại trực tuyến, bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết “cá nhân tôi cho rằng, việc công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính cần phải dựa trên những nghiên cứu hết sức cơ bản, những đánh giá tác động nghiêm túc trên rất nhiều khía cạnh xã hội và pháp lý như quyền tự do cá nhân, sự tương thích với văn hóa, tập quán của xã hội và gia đình Việt Nam, tính nhạy cảm, hậu quả xã hội của quy định pháp luật…

Các vấn đề này đang được nghiên cứu trong quá trình chuẩn bị dự án Luật Hôn nhân và Gia đình.”

Ngày 1 tháng 1 năm 2021, một chỉnh sửa mới từ luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, trong đó quy định sẽ không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, coi như hủy bỏ luật cấm năm 2000.

Tuy nhiên, theo Điều 8 về “Điều kiện kết hôn” có ghi “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự (sửa đổi), trong đó có quy định về chuyển đổi giới tính và các quyền, nghĩa vụ liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ đầu 2021. Điều 37, Bộ luật này quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật.

Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, Việt Nam chính thức hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính.

Những chuyện tình đồng tính Việt đẹp nhất được công khai trên truyền thông

Khi Việt Nam đã dần theo kịp xu hướng xã hội mới, tư duy và lối sống hiện đại, họ đã có cái nhìn thoáng hơn về cộng đồng LGBT. Ngày càng có nhiều người dám công khai giới tính và tìm đến hạnh phúc của cuộc đời mình.

Theo Nghị định của chính phủ năm 2013 về việc xóa bỏ những ngăn cấm và quyền hạn đối với những người đồng tính Lgbt thì năm 2021 được đánh giá là một năm khá trầm với các hoạt động của cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều câu chuyện vui, những mối tình đẹp của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên cả nước làm tốn không ít giấy mực của báo giới.

Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi)

Đầu tháng 4/2016, lễ cưới ngập tràn hạnh phúc của cặp đôi anh Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi) đã được tổ chức tại Nha Trang, Khánh Hòa.

Trải qua hơn 18 năm yêu đương với bao khó khăn, trắc trở, từ bàn tay trắng rồi cùng nhau vượt qua bao gian nan của cuộc sống, cuối cùng họ đã đến được với nhau.

Lê Vũ Phong – Nguyễn Ngọc Phong: cặp đôi hơn nhau 21 tuổi

Lê Vũ Phong là một người đàn ông 42 tuổi. Anh tình cờ gặp được người bạn đời của mình – chàng trai trẻ Nguyễn Ngọc Tuấn Phong, 21 tuổi trong một lần lướt facebook.

Hai người đã có nhiều cuộc trò chuyện qua facebook mỗi tối, nhắn tin hỏi thăm nhiều hơn rồi cùng nhau đi ăn sáng, hẹn hò…

Cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung

Ngày 30/7, đám cưới đồng tính nữ của cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung đã gây xôn xao cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

Dù đã bước sang độ tuổi cũng ít người kết hôn, kể cả với người dị tính, tại nhà hàng Quảng Bình, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đám cưới của 2 cô đã diễn ra trong sự chúc phúc của người thân, bạn bè.

Được biết, bà Nhung sinh năm 1971 còn bà Phương sinh năm 1964. Hiện bà Nhung đang sống ở Hải Phòng còn bà Phương là Việt kiều.

Sau đám cưới, hai người đã có khoảng thời gian hạnh phúc cùng nhau đi trăng mật. Đám cưới của 2 cô đã nhận được nhiều lời chúc phúc và ủng hộ của mọi người trên mạng xã hội.

“Tiến Thành x2”: Cặp đôi đồng tính cùng tên hot nhất Facebook

Cái tên Nguyễn Tiến Thành (Thành lớn) và Đặng Tiến Thành (Thành bé) được nhắc đến rất nhiều với cộng đồng LGBT trong năm 2021. Đơn giản, hai người đã có một chuyện tình đẹp và lãng mạn…

Quen nhau qua Facebook, hai chàng trai đã tiến đến với nhau như bao mối tình lãng mạn: đi ăn uống, hẹn hò, rồi tỏ tình…

Được sự ủng hộ của gia đình, cả hai đã thực sự được sống với niềm hạnh phúc mà bao người đồng tính luôn hằng tìm kiếm.

Khi được hỏi về việc có tổ chức đám cưới hay không, Thành cho biết: “Bọn mình nghĩ là yêu nhau thật lòng, nghiêm túc, sẽ nắm tay nhau lâu nhất có thể và nói với nhau rằng: “Ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt!”.

Có lẽ, đó là điều mà các cặp đôi đều luôn mong muốn trong cuộc đời này; không cần hứa hẹn gì cả nhưng hãy yêu nhau thật lâu, nắm tay nhau thật chặt vì “ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt”.

Chuyện tình lãng mạn của MC Ngọc Trang và Jay Lin

Cặp đôi của MC Ngọc Trang – Jay Lin được đánh giá là một mối tình siêu đẹp trong cộng đồng LGBT khi cả hai người đều khá nổi tiếng.

MC Ngọc Trang là gương mặt quen thuộc với nhiều khán giả của đài truyền hình Việt Nam (VTV) qua nhiều chương trình như “Vì bạn xứng đáng”, “Chìa khóa thành công – CEO”, “Mua sắm thú vị”, “Không gian nghệ thuật VTV1”, “Tạp chí đẹp”,…

Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom)

Những ngày cuối năm, cộng đồng LGBT tại Việt Nam lại ngập tràn tin vui khi được chứng kiến một đám cưới đồng tính nữa tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai; một đám cưới với tình yêu và sự chúc phúc của gia đình cả hai bên.

Tình cờ biết nhau qua mạng xã hội từ tháng 7/2015, Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom) đã tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng. Để rồi gặp nhau, hẹn hò và hiểu nhau hơn, mối tình lãng mạn của họ cũng lớn dần cho đến khi cả hai người quyết định làm đám cưới.

Từ những câu chuyện tình cảm với kết thúc có hậu trên đây có lẽ đã khiến trái tim bạn thêm phần nào đồng cảm và suy nghĩ tích cực về cộng đồng này hơn rồi phải không.

Mỗi một năm trôi qua là thêm một năm để chúng ta phát triển, thêm một năm hiện đại, cả thế giới đã công nhận cộng đồng này thì mỗi chúng ta là những bạn đọc trẻ, là tương lai của xã hội cần có cái nhìn khách quan hơn, tốt đẹp hơn.

【#7】Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì?

Coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế là một trong những bước đột phá lớn về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực tiễn, bao giờ và ở đâu cũng vậy, muốn xây dựng một xã hội đương đại cũng cần có những con người tiêu biểu đại diện cho lực lượng phát triển của xã hội đó, mà lịch sử thường gọi là “thời đại” và “con người của thời đại”. Đối với chủ nghĩa xã hội (CNXH), theo học thuyết Mác-Lênin, là xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Vì thế, giai cấp vô sản muốn thực hiện được sứ mệnh của mình, phải xây dựng được đội ngũ tiên phong của giai cấp, đáp ứng với mục tiêu phát triển của xã hội tốt đẹp đó. Theo V.I Lênin, giai cấp vô sản dù đã nắm được chính quyền, nhưng nếu không làm cho xã hội mới có trình độ phát triển cao hơn CNTB, thì giai cấp vô sản vẫn chưa xây dựng xong CNXH, thậm chí, “công cuộc xây dựng CNXH chỉ còn là một mớ sắc lệnh”(2). Trên thực tế, nếu xét đến cùng thì giải phóng xã hội vẫn phải được quyết định bởi năng suất lao động và tinh thần dân chủ. Đó là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất quyết định thắng lợi của chế độ xã hội mới. Lênin từng chỉ ra: “CNTB chỉ có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn vì CNXH tạo ra nền dân chủ mới gấp triệu lần dân chủ tư sản và năng suất lao động mới cao hơn nhiều”(3).

Trên nền tảng lý luận Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Nhưng, “nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: CNXH không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”, để “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu được giúp đỡ, các cháu bé thì được chăm sóc”(4). Người cũng chỉ rõ: “Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, chúng ta nhất định có những khó khăn. Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ”(5). Điều lớn lao nhất của cách mạng XHCN là phải xây dựng được nền tảng, vật chất của CNXH. Mà muốn xây dựng được nền tảng, vật chất cho CNXH, điều quan trọng nhất lại phải có những con người XHCN theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì ý nghĩa đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng gắn với CNXH, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến chủ thể xây dựng CNXH.

Theo Hồ Chí Minh, chủ thể xây dựng CNXH là “những con người mới XHCN”. Đó là những con người “có tư tưởng và tác phong XHCN”, “có ý thức làm chủ Nhà nước”, “thấm nhuần sâu sắc tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà”, “biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ, đùn đẩy công việc”; đồng thời, phải biết “thắng được chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”, bởi nó là “kẻ địch nguy hiểm của CNXH”(6). Người còn chỉ rõ: CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”, “muốn xây dựng CNXH thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất… Muốn phát triển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng xuất lao động và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động cho tốt”(7). Đây chính là một trong những tư tưởng đặc sắc, quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.

Các giá trị cốt lõi về lý luận, văn hóa, tinh thần ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta.

Lịch sử hiện nay đã có nhiều biến đổi, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và mạng lưới hóa thông tin đang ngày càng phát triển, lan tỏa đến từng lĩnh vực trên khắp thế giới, tác động mạnh mẽ đến quan điểm nhân sinh, quan điểm giá trị của con người. Điều đó làm cho loài người có thể cần phải trải qua một quá trình gian khổ để “định hướng lại triết học và văn hóa”. Sự định hướng ấy, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội và tác động trực tiếp đến việc xây dựng các giá trị con người, trong đó có con người XHCN.

Công cuộc đổi mới của đất nước ta cũng đang có nhiều thay đổi, đòi hỏi cần có câu trả lời khiến cho mọi người tin phục về các giá trị của CNXH và những con người XHCN, tạo nên những trụ cột nâng đỡ tinh thần và khát vọng của đại đa số nhân dân. Trên thực tế, được thực tiễn soi rọi, Đảng ta đã từng bước làm sáng tỏ các yêu cầu đó.

về CNXH và con đường đi lên CNXH. Thông qua sáng tạo lý luận, thúc đẩy sáng tạo trên mọi phương diện, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về quy luật và tính quy luật phát triển của xã hội. Nếu như trước đây, nhận thức về CNXH chỉ đơn giản là “một xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn CNTB” với 3 thuộc tính cơ bản: Một là, xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu (toàn dân và tập thể) đối với tư liệu sản xuất (tư bản, đất đai). Hai là, nguồn lực kinh tế được quản lý, phân phối theo kế hoạch của Nhà nước, sản xuất và phân phối theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường. Ba là, làm theo năng lực và hưởng theo lao động, nhưng thường thì lao động chỉ được đánh giá trên thời gian mà ít quan tâm trên chất lượng,… Thì đến nay, Đảng ta đã định hình rõ nét và cụ thể hơn bằng một hệ thống quan điểm lý luận về CNXH. Trong đó, đã khái quát thành 8 đặc trưng: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(8).

Cùng với việc khái quát thành 8 đặc trưng nêu trên, Đảng ta đã xác định cụ thể hơn 8 phương hướng xây dựng CNXH và 8 mối quan hệ lớn về đổi mới phát triển XHCN(9). Nếu 8 đặc trưng là những nội dung định hướng XHCN, thì 8 phương hướng, chính là con đường đi lên CNXH,mô hình xây dựng CNXH trong thực tiễn của nước ta; 8 mối quan hệ có ý nghĩa là những quy luật, những tính quy luật mà công cuộc đổi mới, phát triển ở Việt Nam tất yếu phải tuân thủ.

Việc Đảng ta chủ trương chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu từ chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; xác định rõ về vị trí, vai trò các thành phần kinh tế, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế;… là những bước đột phá lớn về lý luận, hướng cách mạng XHCN ở nước ta đi đúng với quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Điều đó, đã làm thay đổi quan trọng cách nhìn, cách đánh giá, ứng xử đối với kinh tế thị trường và nhất là với kinh tế tư nhân, những thành tựu của tư duy nhân loại mà CNTB làm, CNXH cũng phải làm.

Hệ thống các quan điểm nêu trên là những thành tựu nổi bật của đổi mới tư duy, phát triển lý luận của Đảng ta, khắc phục hoàn toàn tư tưởng “duy ý chí” về CNXH như trước đây. Bằng các quan điểm khoa học, sáng tạo, Đảng ta đã trả lời trực tiếp các câu hỏi: CNXH là gì? Xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)? Mô hình, con đường, phương hướng đi lên CNXH như thế nào?

về con người XHCN, Đảng ta luôn xác định: Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là chủ thể sáng tạo lịch sử, là mục tiêu và động lực của đổi mới của CNXH. Vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn chủ trương xây dựng hệ giá trị con người mới XHCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các định hướng giá trị con người Việt Nam XHCN được quán triệt trong xây dựng nền tảng văn hóa của thời kỳ đổi mới là: Con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

Cụ thể hóa các đặc tính cơ bản đó với tính cách là những chuẩn mực, thành những giá trị để giáo dục, thực hành, rèn luyện trong đời sống hằng ngày của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, chính là xây dựng con người XHCN. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng các giá trị biểu hiện lòng yêu nước; nhân ái, đạo đức, lối sống có nghĩa tình; lòng trung thực – thước đo phẩm chất cốt lõi của đạo đức, nhân cách, lối sống; tình đoàn kết, đồng thuận, hợp tác, cộng đồng chia sẻ trách nhiệm của con người trong hoạt động và ứng xử; phẩm chất mới cần rèn luyện trong đức tính cần cù trong xã hội hiện đại, trong nền sản xuất công nghiệp và trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức; sự sáng tạo để phát triển – một năng lực nổi bật, một giá trị ưu trội của con người và nhân cách trong hoàn cảnh đổi mới phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; tính kế thừa thế hệ trong giáo dục giá trị; trong chiến lược phát triển con người, trong giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội… Đó chính là những điểm mới nổi bật trong phát triển tư duy lý luận của Đảng về con người Việt Nam XHCN thời kỳ đổi mới.

Đổi mới theo định hướng XHCN là một quá trình cách mạng hết sức sâu sắc, triệt để, thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ “bần cùng lạc hậu” và cái mới “tốt tươi”, để nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, phải trải qua thời kỳ quá độ rất lâu dài và phải tuân thủ các bước đi như một tất yếu khách quan. Trong điều kiện bỏ qua chế độ TBCN như một loại hình “phát triển rút ngắn” với phương thức “quá độ gián tiếp” lên CNXH, đòi hỏi phải có những con người XHCN có trình độ, năng lực vượt trội, hay ít nhất cũng tương xứng với loại hình và phương thức phát triển đó.

Hơn 30 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH ở nước ta tuy vẫn còn những khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng với kỳ vọng lớn lao của nhân dân, nhưng nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được là rất to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(10). Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình bỏ qua những nỗ lực và thành tựu đã đạt được của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Một mặt, chúng ra sức tuyên truyền về “thế giới tự do” về sự “vĩnh hằng” của CNTB và sự sụp đổ của chế độ XHCN; mặt khác, khai thác triệt để những khuyết điểm của CNXH hiện thực, xuyên tạc về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng; núp dưới các chiêu bài đòi dân chủ đa nguyên chính trị và nhân quyền, kích động các lực lượng chống đối, can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta hòng khiến nhân dân ta xa rời con đường đi lên CNXH. Rõ ràng, chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi mục tiêu xoá bỏ CNXH, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “đế quốc, chết thì chết, nết không chừa”(11). Có khác chăng là trong tình hình mới, chúng sử dụng những sách lược, thủ đoạn mới tinh vi, hiểm độc hơn mà thôi.

Hơn bao giờ hết và hơn ai hết, hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải tiếp tục giác ngộ lập trường, tư tưởng, nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng, kiên quyết vạch trần những âm mưu xảo quyệt của các thế lực thù địch, cùng nhau phối hợp hành động, đẩy lùi và làm thất bại những thủ đoạn đen tối của chúng. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ về bản chất tốt đẹp của xã hội XHCN, của công cuộc đổi mới, từ đó, xây dựng hoài bão, lý tưởng cao đẹp của con người mới XHCN. Con người mới Việt Nam XHCN nhất định không thể yếu kém về năng lực, phẩm chất, càng không thể dao động, “a dua” với một số phần tử bất mãn, cực đoan. Cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên phải được tôi luyện như thế hệ cha ông đã từng tôi luyện trong chiến tranh: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Với ý chí kiên cường, sáng tạo và lòng tự tôn dân tộc, chắc chắn, công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, dân tộc ta sẽ trường tồn phát triển, nhân dân ta sẽ được giải phóng hoàn toàn khỏi bần cùng lạc hậu, khỏi tụt hậu và không bị chệch hướng XHCN. Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng nhất định sẽ đi đến bến bờ./.

(1), (4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, 2011, t.13, tr. 66, 5, 376, 66-67, 69.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva 1981, t.42, tr. 37.

(3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr. 25.

(8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2011, tr.69-70, 70-73.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2021, tr. 66.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr. 474.

【#8】Hợp Âm 7 Là Gì, Cách Sử Dụng Ra Sao?

Đa số những người mới học đàn guitar đều rất ít khi biết đến các hợp âm phức tạp. Bởi vì có thể nói những hợp âm cơ bản đã chiếm đến khá nhiều những bài hát quen thuộc.

Tuy nhiên bạn sẽ có lúc gặp đến những bản nhạc có chứa các hợp âm có số 7. Vậy bạn biết tại sao lại có những hợp âm như vậy và có cần thiết để biết đến các hợp âm 7 không?

Tuy không thực sự phổ biến và được sử dụng nhiều trong đệm hát cũng như đánh solo nhưng hợp âm 7 rất quan trọng trong quá trình dò GAM cho bài hát và đoạn nhạc.

Trong những bài trước các bạn đã biết dùng luật 1-4-5 tìm 6 hợp âm căn bản để đệm các bài nhạc Việt phổ thông. Với một bài nhạc ở cung (chủ âm) Do trưởng (C) thì 6 hợp âm này là C, F, G , Am, Dm, E . Ðây là những hợp âm được tạo bởi 3 nốt ở bậc 1,3,5 ( hợp âm C gồm có Do, Mi, Sol, hợp âm F có Fa, La, Do v.v…) .Nay nếu thêm 1 nốt ở bậc 7 thì ta sẽ có 1 hợp âm tạo bởi 4 nốt, thí dụ G7 gồm Sol, Si, Re, Fa .

Tính chất của hợp âm 7 này ra sao và khi nào thì ta nên mang ra dùng trong bài nhạc? Nghe một hợp âm 7, ta sẽ có cảm giác không thuận tai, dường như có một cái gì không ổn, cần phải “giải quyết” bằng cách ngay sau đó trở về chủ âm thì mới êm tai.

Sử dụng hợp âm 7

Ðể đệm các bản nhạc Việt thì các bạn chỉ cần dùng hợp âm 7 tạo ở bậc 5 của âm giai. Thí dụ trong bộ 6 hợp âm dùng để đệm các bài nhạc cung Do trưởng (hay La thứ), thì chỉ có 2 hợp âm có thể chuyển qua hợp âm 7 là Sol7 ( hợp âm tạo ở bậc 5 của âm giai Do trưởng) và E7 (hợp âm tạo ở bậc 5 của âm giai La thứ).

Như thế thì trong túi bửu bối để đệm nhạc của bạn trước đây có 6 hợp âm, nay sẽ có 8 hợp âm. Với một bài nhạc cung Do trưởng (hay La thứ) nay sẽ có C, F, G, G7 và Am, Dm, E, E7.

Hợp âm 7 thường được sử dụng để chơi nhạc Jazz. Biểu đồ dưới đây để minh họa cho các hợp âm:

(ảnh)

Đồng thời nó cũng được sử dụng trong nhạc Blues. Nói chung với hợp âm 7, tạm thời bạn chỉ cần nhớ 3 điểm sau đây:

– Chỉ dùng hợp âm 7 cho những hợp âm ở bậc 5

– Sau khi dùng hợp âm 7 (ở bậc 5) thì chuyển về chủ âm. Thí dụ trong 1 bài nhạc ở cung C, sau khi dùng G7 thì chuyển về C ( hoặc sau E7 thì về Am) và thường dùng cặp hợp âm này ( G7 – C hoặc E7 – Am) ở cuối đoạn nhạc hay cuối bài

Ghi chú: Sau này khi đi vào thể nhạc blues thì các bạn sẽ thấy rằng tất cả các hợp âm căn bản đều được chuyển thành hợp âm 7 (chứ không chỉ hạn chế ở những hợp âm bậc 5 như đã nói trên). Hợp âm 7 là loại hợp âm rất thông dụng trong những thể nhạc trẻ hiện đại và có rất nhiều loại như Major 7th, Minor 7th, Minor/major 7th, Major 7th flat 5th, Major 7th sharp 5th, 7th flat 5th,7th sharp 5th, Minor 7th flat 5th, Diminished 7th v.v… mà chúng ta tạm thời chưa cần bàn đến.

Áp dụng hợp âm 7 khi đệm Guitar

Chúng ta thử áp dụng những gì đã bàn. Tạm thời bỏ qua việc ta có sẵn bản nhạc để phân tích, cũng tạm bỏ qua ca sĩ nhắc chúng ta về giọng. Phần này chúng ta chỉ xét việc dò dẫm hoàn toàn, ca sĩ hát và bạn theo đó để đệm. Cũng tạm bỏ qua về điệu, cứ coi như mọi bài ví dụ đều chơi rải hợp âm.

Bài Tình Nhớ – Trịnh Công Sơn.

Khi người ta vừa hát “Tình ngỡ đã quên đi…” thì bạn phải tìm ngay nốt của từ Tình nằm ở đâu. Giả sử bạn dò ra là nốt La(A). Nhiều bài của Trịnh Công Sơn có chủ âm là thứ, vì vậy áp dụng bài trước bạn có thể coi như chủ âm của bài này là Am (Sai thì mò lại). Áp dụng công thức 1-6-8 bạn sẽ có các hợp âm Am – Dm – E. Bạn cũng sẽ biết là Am sẽ chơi đầu và cuối bản nhạc. Đến đây bạn đã có thể áp hợp âm vào, thêm thắt theo kinh nghiệm hợp âm 7 chẳng hạn. Ví dụ:

Tình ngỡ đã quên đi như lòng cố lạnh lùng,

người ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang,

ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều

như từng cơn nước rộng,

xoá một ngày đìu hiu.

Tình ngỡ đã phôi pha nhưng tình vẫn còn đầy,

người ngỡ đã đi xa nhưng người vẫn quanh đây,

những bước chân mềm mại đã đi vào đời người

như từng viên đá cuội rớt vào lòng biển khơi.

*** Khi cơn đau chưa dài thì tình như chút nắng,

khi cơn đau lên dầy thì tình đã mênh mông,

một người về đỉnh cao một người về vực sâu,

để cuộc tình chìm mau như bóng chim cuối đèo.

Cách đàn đúng hợp âm

Tóm lại, khoan bàn tới vấn đề nhịp điệu như slow, boston hay rumba…Để đàn đúng hợp âm bạn cần:

  • – Tìm chủ âm bằng cách nghe người hát nói, phân tích từ bản nhạc, hay dựa vào tai nghe và kinh nghiệm.
  • – Từ chủ âm, dùng một trong hai qui luật 1-6-8 hay 1-4-5 đê tìm ra những hợp âm còn lại. Thêm một vài nếu có thể.
  • – Đặt chủ âm vào đầu bản nhạc. Mỗi ô nhịp thông thường là một hợp âm, luôn đổi hợp âm ở phách đầu tiên, nghĩa là nốt đầu tiên ngay sau vạch nhịp.

【#9】Giới Từ Là Gì? Cách Sử Dụng Giới Từ Trong Tiếng Anh

Bạn đang tìm hiểu về và các vấn đề liên quan tới giới từ trong tiếng anh như: Phân loại giới từ, cách sử dụng cũng như vị trí của giới từ trong tiếng anh, bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức cơ bản về giới từ trong tiếng anh. Đây là 1 phần nằm trong nội dung khoá học tiếng anh dành riêng cho người mất căn bản tại cổng đào tạo trực tuyến Academy.vn.

Định nghĩa về giới từ

Giới từ là từ loại chỉ sự liên quan giữa các từ loại trong cụm từ, trong câu. Những từ thường đi sau giới từ là tân ngữ (Object), Verb + ing, Cụm danh từ …

Ví dụ:

Ta thấy rõ, ở ví dụ a., “the room” là tân ngữ của giới từ “into”. Ở ví dụ b., “the room” là tân ngữ của giới từ “in”.

Chú ý: Các bạn phải luôn phân biệt trạng từ và giới từ, vì thường khi một từ có hai chức năng đó (vừa là trạng từ và giới từ). Điều khác nhau cơ bản là Trạng từ thì không có tân ngữ theo sau.

Có thể nói việc dùng các giới từ không phải dễ, vì mỗi nước có cách dùng giới từ đặc biệt; vậy ta phải rất chú ý đến nó ngay từ lúc mới học môn ngoại ngữ đó nói chung và tiếng Anh nói riêng. Trong tiếng Anh, người ta không thể đặt ra các quy luật về các phép dùng giới từ mang tính cố định cho mỗi giới từ đó – cùng một giới từ, khi đi với từ loại khác nhau thì tạo ra nghĩa khác nhau. Vậy chúng ta nên học thuộc mỗi khi gặp phải và học ngay từ lúc ban đầu.

Sau TO BE, trước danh từ:

+ THE BOOK IS ON THE TABLE. = Quyển sách ở trên bàn.

+ I WILL STUDY IN AUSTRALIA FOR 2 YEARS. = Tôi sẽ học ở Úc trong 2 năm.

Sau động từ: Có thể liền sau động từ, có thể bị 1 từ khác chen giữa động từ và giới từ.

+ I LIVE IN HO CHI MINH CITY = Tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh.

+TAKE OFF YOUR HAT! Cởi nón của bạn ra!

+ I HAVE AN AIR-CONDITIONER, BUT I ONLY TURN IT ON IN SUMMER. = Tôi có máy lạnh, nhưng tôi chỉ bật nó lên vào mùa hè.

Sau tính từ:

+ I’M NOT WORRIED ABOUT LIVING IN A FOREIGN COUNTRY. = Tôi không lo lắng về việc sốngở nước ngoài.

+ HE IS NOT ANGRY WITH YOU. = Anh ấy không giận bạn.

Một số sai lầm thường gặp khi sử dụng giới từ trong tiếng anh

1)Suy luận từ cách dùng đã gặp trước đó :

Ví dụ :

Trước đó ta gặp : worry about : lo lắng về

2)Không nhận ra là giới từ thay đổi vì thấy cùng một danh từ:

Ví dụ:

Trước đó ta gặp : in the morning

3)Bị tiếng Việt ảnh hưởng :

Hình thức của giới từ trong tiếng anh – học tiếng anh

1)Giới từ đơn ( simple ppositions ):

Là giới từ có một chữ : in, at, on, for, from, to, under, over, with …

2)Giới từ đôi ( doubleppositions ):

Là giới từ được tạo ra bằng cách hợp 2 giới từ đơn lại :Into, onto, upon, without, within, underneath, throughout, from among … -Ex: The boy runs into the room ( thằng bé chạy vào trong phòng )

-Ex: He fell onto the road ( anh ta té xuống đường )

-Ex: I chose her from among the girls ( tôi chọn cô ấy từ trong số các cô gái )

3) Giới từ kép ( compound ppositions ):

Là giới từ được tạo thành bằng tiếp đầu ngữ a hoặc be: About, among, across , amidst, above, against, Before, behind, beside, beyond, beneath, between, below…

4) Giới từ do phân từ ( participle ppositions ):

According to ( tùy theo), during ( trong khoảng ), owing to ( do ở ), pending ( trong khi) , saving = save = except ( ngoại trừ ), notwithstanding ( mặc dù ) , past ( hơn, qua ) considering ( xét theo ) concerning/ regarding /touching ( về vấn đề, về ), excepting = except ( ngoại trừ )

-Ex: She is very intelligent, considering her age. ( xét theo tuổi thì cố ấy rất thông minh )

5) Cụm từ được dùng như giới từ: Giới từ loại này bao gồm cả một cụm từ :

-Because of ( bởi vì )

-By means of ( do, bằng cách)

-In spite of (mặc dù)

-In opposition to ( đối nghịch với )

-On account of ( bởi vì )

-In the place of ( thay vì )

-In the event of ( nếu mà )

_Ex: In the event of my not coming, you can come home.( nếu mà tôi không đến thì anh cứ về)

-With a view to ( với ý định để )

_Ex: I learn English with the view of going abroad.( tôi học TA với ý định đi nước ngoài)

-For the shake of ( vì )

_Ex: I write this lesson for the shake of your progress. ( tôi viết bài này vì sự tiến bộ của các bạn)

-On behalf of ( thay mặt cho)

_Ex: On behalf of the students in the class, I wish you good health ( thay mặt cho tất cả học sinh của lớp, em xin chúc cô được dồi dào sức khỏe)

-In view of ( xét về )

_Ex: In view of age, I am not very old. ( xét về mặt tuổi tác, tôi chưa già lắm )

-With reference to ( về vấn đề, liên hệ tới)

_Ex: I send this book to you with reference to my study.( tôi đưa bạn quyển sách này có liên hệ đến việc học của tôi. )

6) Giới từ trá hình: Đây là nhóm giới từ được ẩn trong hình thức khác:

At 7 o’clock ( o’ = of ): Lúc 7 giờ

Các loại giới từ thường gặp trong tiếng anh

1) Giời từ chỉ thời gian:

-At : vào lúc ( thường đi với giờ )

-On : vào ( thường đi với ngày )

-In : vào ( thường đi với tháng, năm, mùa, thế kỷ )

-Before: trước

-After : sau

-During : ( trong khoảng) ( đi với danh từ chỉ thời gian )

2) Giời từ chỉ nơi chốn:

-At : tại ( dùng cho nơi chốn nhỏ như trường học, sân bay…)

-In : trong (chỉ ở bên trong ) , ở (nơi chốn lớn thành phố, tỉnh ,quốc gia, châu lục…)

-On,above,over : trên

_On : ở trên nhưng chỉ tiếp xúc bề mặt.

3) Giời từ chỉ sự chuyển dịch:

-To, into, onto : dến

+to: chỉ hướng tiếp cận tới người,vật,địa điểm.

+into: tiếp cận và vào bên trong vật,địa điểm đó

+onto: tiếp cận và tiếp xúc bề mặt,ở phía ngoài cùng của vật,địa điểm

-From: chỉ nguồn gốc xuất xứ Ex: i come from vietnamese

-Across : ngang qua Ex: He swims across the river. ( anh ta bơi ngang qua sông)

-Along : dọc theo

-Round,around,about: quanh

4) Giới từ chỉ thể cách:

-With : với

-Without : không, không có

-According to: theo

-In spite of : mặc dù

-Instead of : thay vì

5) Giới từ chỉ mục đích:

-To : để

-In order to : để

-For : dùm, dùm cho

-Ex: Let me do it for you : để tôi làm nó dùm cho bạn.

-So as to: để

5) Giới từ chỉ nguyên do:

-Thanks to : nhờ ở

-Ex: Thanks to your help, I passed the exam ( nhờ sự giúp đở của bạn mà tôi thi đậu).

-Through : do, vì

-Ex: Don’t die through ignorance ( đừng chết vì thiếu hiểu biết).

-Because of : bởi vì

-Owing to : nhờ ở, do ở

-Ex: Owing to the drought,crops are short ( vì hạn hán nên mùa màng thất bát)

-By means of : nhờ, bằng phương tiện

1/about:

  • Xung quanh : Ex: I looked about her :tôi nhìn xung quanh cô ấy
  • Khắp nơi, quanh quẩn : Ex: He walked about the yard. hắn đi quanh sân.
  • Khoảng chừng Ex: It is about 3 km : độ khoảng 3km
  • Về Ex: What do you think about that? bạn nghỉ gì về điều đó?

3/At

  • Tại ( nơi chốn ) Ex: The teacher is at the desk: cô giáo đang ở tại bàn làm việc.
  • Lúc ( thời gian) Ex: I get up at 6.00 : tôi thức dậy lúc 6 giờ
  • Thành ngữ chỉ trạng thái: Ex: -At work : đang làm việc
  • At play : đang chơi
  • At oen’s prayers : đang cầu nguyện
  • At ease : thoải mái
  • At war : đang có chiến tranh
  • At peace : đang hòa bình
  • Thành ngữ chỉ chiều hướng Ex: -Rush at sb : lao về phía ai
  • Point at : chỉ vào Ex: The teacher pointed at me : cô giáo chỉ vào tôi.
  • Thành ngữ chỉ số lượng Ex: I estimated the class at 50 : tôi độ lớp học chừng 50 người.

4/BY:

  • Kế bên, cạnh Ex: I sat by her : tôi ngồi cạnh cô ấy
  • Trước Ex: You must come here by ten o’clock : bạn phải đến đây trước 10giờ.
  • Ngang qua Ex: She passed by my house : cô ấy đi ngang qua nhà tôi.
  • Bởi Ex:The cake was made by me : cái bành được làm bởi tôi.
  • Ở chổ Ex: I took her by the hand. tôi nắm tay cô ấy
  • Theo Ex: Don’t judge people by their appearances : đừng xét người theo bề ngoài.
  • Chỉ sự đo lường Ex: They sell beer by the litter : họ bán bia tính theo lít.

Một số thành ngữ:

4/FOR 6/IN

Chỉ nơi chốn:

  • Chỉ thời gian:
  • Buổi : In the moning
  • Từ tháng trở lên: in May , in spring, in 2008, in the 19th century.

Chỉ trạng thái

  • Be in debt : mắc nợ
  • Be in good health : có sức khỏe
  • Be in danger : bị nguy hiểm
  • Be in bad health : hay đau yếu
  • Be in good mood : đang vui vẻ
  • Be in tears : đang khóc

Một số thành ngữ khác

  • -In such case :trong trường hợp như thế
  • -In short, in brief : tóm lại
  • -In fact : thật vậy
  • -In other words : nói cách khác
  • -In one word : nói tóm lại
  • -In all: tổng cộng
  • -In general : nói chung
  • -In particular : nói riêng

Bài tập về giới từ trong tiếng anh

I. Chọn MỘT trong HAI giới từ trong ngoặc để điền vào chỗ trống trong mỗi câu.

II. Chọn MỘT trong BA giới từ trong ngoặc để điền vào chỗ trống trong mỗi câu.

III. Chọn MỘT trong BỐN giới từ trong ngoặc để điền vào chỗ trống trong mỗi câu.

IV. Điền vào mỗi chỗ trống một giới từ đúng.