【#1】Chương I: Bài Tập Định Luật Culong, Thuyết E

Chương I: Bài tập định luật Culong, thuyết e

Chương I: Bài tập cường độ điện trường Bài tập định luật Culong, các dạng Bài tập định luật Culong, phương pháp giải Bài tập định luật Culong chương trình vật lý phổ thông lớp 11 cơ bản, nâng cao

Dạng Bài tập định luật Culong cơ bản

áp dụng công thức định luật Culong

Trong đó

  • q1; q2: lần lượt là độ lớn của hai điện tích điểm (C)
  • F: lực Culong (N)
  • r: khoảng cách giữa hai điện tích
  • ε: hằng số điện môi phụ thuộc vào môi trường chứa điện tích.
  • k=9.109 (N.m2/C2)

Lưu ý:

  • các điện tích cùng dấu đẩy nhau, các điện tích trái dấu thì hút nhau
  • môi trường chân không, không khí có ε=1

Dạng bài tập tính lực tổng hợp của nhiều điện tích lên một điện tích

Với hệ hai lực độ lớn của lực tổng hợp

sử dụng thêm các kiến thức tổng hợp và phân tích lực để giải

Bài tập 1. Quả cầu A có điện tích -3,2.10-7 C đặt cách quả cầu B có điện tích 2,4.10-7 C một khoảng 12cm.

a) Tính lực tương tác giữa hai quả cầu và số electron thừa (thiếu) trong mỗi quả cầu

b) Tính lực tương tác giữa hai quả cầu sau khi tiếp xúc với nhau sau đó tách ra.

Bài tập 4. Hai điện tích điểm có độ lớn bằng nhau được đặt trong không khí cách nhau 12 cm. Lực tương tác giữa hai điện tích đó bằng 10 N. Đặt hai điện tích đó trong dầu và đưa chúng cách nhau 8 cm thì lực tương tác giữa chúng vẫn bằng 10 N. Tính độ lớn các điện tích và hằng số điện môi của dầu.

Bài tập 5. Cho hai quả cầu kim loại nhỏ, giống nhau, đặt trong không khí tích điện và cách nhau 20 cm thì chúng hút nhau một lực bằng 1,2 N. Cho chúng tiếp xúc với nhau rồi tách chúng ra đến khoảng cách như cũ thì chúng đẩy nhau với lực đẩy bằng lực hút. Tính điện tích lúc đầu của mỗi quả cầu.

Bài tập 6. Đặt 3 điện tích q1=8.10-9 C, q2=q3=-8.10-9 C tại ba đỉnh của một tam giác đều cạnh 6 cm trong không khí. Xác định lực tác dụng lên điện tích qo=6.10-9 C đặt ở tâm O của tam giác.

Bài tập 7. Hai điện tích điểm dương q1=q2=là 8.10-7 C được đặt trong không khí cách nhau 10 cm.

a/Hãy xác định lực tương tác giữa hai điện tích đó.

b/Đặt hai điện tích đó vào trong môi trường có hằng số điện môi là ε=2. Để lực tương tác giữa chúng là không đổi (bằng lực tương tác khi đặt trong không khí) thì khoảng cách giữa chúng lúc này là bao nhiêu?

Đs. 0,576 N; 7 cm.

Bài tập 8. Hai điện tích điểm giống nhau đặt trong chân không cách nhau một đoạn 4 cm, lực đẩy tĩnh điện giữa chúng là 10-5 N.

a/Tìm độ lớn mỗi điện tích.

b/Tìm khoảng cách giữa chúng để lực đẩy tĩnh điện giữa chúng là 2,5.10-6 N.

Đs. 1,3.10-9 C; 8 cm.

Bài tập 9. Mỗi prôtôn có khối lượng m=1,67.10-27 kg, điện tích q=1,6.10-19 C. Hỏi lực đẩy giữa hai prôtôn lớn hơn lực hấp dẫn giữa chúng bao nhiêu lần?

Đs. 1,35.1036 lần.

Bài tập 10. Hai vật nhỏ giống nhau, mỗi vật thừa 1 electron. Tìm khối lượng mỗi vật để lực tĩnh điện bằng lực hấp dẫn.

Đs. 1,86.10-9 kg.

q1=q2 =1e=-1,6.10-19C

Bài tập 11. Hai vật nhỏ đặt trong không khí cách nhau một đoạn 1m, đẩy nhau một lực F=1,8 N. Điện tích tổng cộng của hai vật là 3.10-5 C. Tìm điện tích của mỗi vật.

Đs. q1=2.10-5 C, q2=10-5 C (hoặc ngược lại)

Bài tập 12. Hai quả cầu kim loại nhỏ mang các điện tích q1 và q2 đặt trong không khí cách nhau 2 cm, đẩy nhau bởi một lực F=2,7.10-4 N. Cho hai quả cầu tiếp xúc nhau rồi lại đưa về vị trí cũ, chúng đẩy nhau bởi một lực F’=3,6.10-4 N. Tính giá trị q1, q2?

Đs. 6.10-9C, 2.10-9C hoặc -6.10-9C, -2.10-9C.

Bài tập 13. Hai quả cầu nhỏ, giống nhau, bằng kim loại. Quả cầu A mang điện tích 4,50 µC; quả cầu B mang điện tích -2,40 µC. Cho chúng tiếp xúc nhau rồi đưa chúng ra cách nhau 1,56 cm. Tính lực tương tác tĩnh điện giữa chúng.

Đs. 40,8 N.

Bài tập 14. Hai quả cầu nhỏ bằng kim loại giống hệt nhau, mang điện tích như nhau q đặt cách nhau một khoảng R, chúng đẩy nhau một lực có độ lớn 6,4 N. Sau khi cho chúng tiếp xúc nhau rồi tách ra một khoảng 2R thì chúng đẩy nhau một lực bao nhiêu?

Đs. 1,6 N.

Bài tập 15. Hai hòn bi bằng kim loại giống nhau có điện tích cùng dấu q và 4q ở cách nhau một khoảng r. Sau khi cho hai hòn bi tiếp xúc nhau, để cho lực tương tác giữa chúng không thay đổi, ta phải đặt chúng cách một khoảng r’. Tính tỉ số r’/r?

Đs. 1,25.

Trước khi tiếp xúc:

Sau khi tiếp xúc:

q1=q2=0,5(q+4q)=2,5q

Bài tập 16. Hai điện tích q1=8.10-8C, q2=-8.10-8C đặt tại A và B trong không khí (AB=6 cm). Xác định lực tác dụng lên q3=8.10-8C, nếu

a/CA=4 cm, CB=2 cm.

b/CA=4 cm, CB=10 cm.

c/CA=CB=5 cm.

Đs. 0,18 N; 30,24.10-3N; 27,65.10-3N.

=27,65.10-3N.

Bài tập 17. Ba điện tích điểm q1=-10-6 C, q2=5.10-7 C, q3=4.10-7 C lần lượt đặt tại A, B, C trong không khí, AB=5 cm. AC=4 cm. BC=1 cm. Tính lực tác dụng lên mỗi điện tích.

Đs. 4,05. 10-2 N, 16,2. 10-2 N, 20,25. 10-2 N.

Bài tập 22. Hai điện tích q1=2.10-8C, q2=-8.10-8C đặt tại A và B trong không khí, AB=8 cm. Một điện tích q3 đặt tại C. Xác định

a/ Vị trí của C để q3 nằm cân bằng?

b/ Dấu và độ lớn của q3 để q1 và q2 cũng nằm cân bằng?

Bài tập 23. Hai quả cầu nhỏ cùng khối lượng m=0,6 kg được treo trong không khí bằng hai sợi dây nhẹ cùng chiều dài l=50 cm vào cùng một điểm. Khi hai quả cầu nhiễm điện giống nhau có độ lớn q, chúng đẩy nhau và cách nhau một khoảng r = 6 cm. Tính điện tích q của mỗi quả cầu, lấy g=10 m/s².

Đs. q=3,8.10-7 C.

r=6cm=6.10-2m; l=0,5m

Bài tập 26. Cho ba điện tích điểm q1=6 μC; q2=12 μC và q3 lần lượt đặt tại ba điểm A, B, C thẳng hàng trong chân không AB=20cm, BC=40cm. Lực tổng hợp tác dụng lên điện tích q1 bằng F=14,2N. Xác định điện tích q3.

(ĐS. q3=-1,33.10-5C)

Bài tập 29. Cho biết điện thế do một điện tích điểm q gây ra tại điểm M cách q một khoảng r trong chân không là VM = kq/r với k = 9.109Nm2/C2. Khối lượng và điện tích của electron lần lượt là 9,1.10-31kg và -1,6.10-19C, điện tích của proton là +1,6.10-19C và 1eV = 1,6.10-19J

1/ Với nguyên tử hidro ở trạng thái cơ bản, electron chuyển động tròn đều quanh hạt nhân đứng yên, với bán kính quỹ đạo là ro = 5,29.10-11m. Tính

a/ Lực điện mà hạt nhân hút electron và tốc độ của electron

b/ Tộng động năng và thế năng của electron trong điện trường của hạt nhân (tính theo eV)

2/ Hai electron, ban đầu ở cách nhau một khoảng rất lớn và chạy đến gặp nhau với tốc độ tương đối có độ lớn vo = 500m/s. Tìm khoảng cách a nhỏ nhất mà các electron có thể đến gần nhau. Chỉ xét tương tác điện giữa các electron.

Bài tập 30. Hai điện tích q1 = q2= 8.10-8C đặt tại A, B trong không khí, AB = 6cm. Xác định độ lớn lực tác dụng lên q3 = 8.10-8C đặt tại C nếu

a/ CA = 4cm, CB = 2cm

b/ CA = 4cm và CB = 10cm

c/ CA = CB = 3cm

d/ CA = CB = 5cm

e/ CA = CB = 6cm

Bài tập 31. Người ta đặt 3 điện tích q1 = 8.10-9, q2 = q3 = -8.10-9C tại 3 đỉnh của tam giác đều ABC cạnh a = 6cm trong không khí. Xác định lực tác dụng lên qo = 6.10-9C tại tâm O của tam giác.

Bài tập 32. Ba điện tích điểm q1 = -10-7C, q2 = 5.10-8C, q3 = 4.10-8C lần lượt tại A, B, C trong không khí. Biết AB = 5cm, BC = 1cm, AC = 4cm. Tính lực tác dụng lên mỗi điện tích.

Bài tập 33. Ba điện tích q1 = 4.10-8C; q2 = -4.10-8C, q3 = 5.10-8C đặt trong không khí tại 3 đỉnh của tam giác đều ABC cạnh a = 16cm. Xác định véc tơ lực tác dụng lên q3.

Bài tập 34. Ba điện tích q1 = q2 = q3 = 1,6.10-19C đặt trong không khí tại 3 đỉnh của tam giác đều ABC cạnh a = 16cm. Xác định véc tơ lực tác dụng lên q3.

Bài tập 35. Ba điện tích q1 = 27.10-8C; q2 = 64.10-8C, q3 = -10-7C đặt trong không khí lần lượt tại ba định đỉnh của tam giác đều ABC vuông tại C. Xác định véc tơ lực tác dụng lên chúng tôi AC = 30cm; BC = 40cm.

Bài tập 36. Hai điện tích điểm q1 = 3.10-8C; q2 = 2.10-8C đặt tại hai điểm A, B trong chân không, AB = 5cm. Điện tích qo = -2.10-8C đặt tại M, MA = 4cm; MB = 3cm. Xác định lực điện tổng hợp tác dụng lên qo.

Bài tập 37. Hai quả cầu giống nhau mang điện, cùng đặt trong chân không, cách nhau R =2cm thì chúng hút nhau bằng một lực F = 2,7.10-4N. Sau đó hai quả cầu tiếp xúc nhau rồi đưa về vị trí cũ cách nhau R = 2cm thì chúng đẩy nhau một lực F’ = 3,6.10-4N. Tính điện tích của mỗi quả cầu trước khi tiếp xúc.

Bài tập 38. Hai quả cầu giống nhau mang điện cùng đặt trong chân không, cách nhau R = 20cm thì chúng hút nhau một lực F = 3,6.10-4N. Sau đó cho hải quả cầu này tiếp xúc nhau rồi đưa về vị trí cũ thì chúng đẩy nhau một lực F’ =2,205.10-4N. Tính điện tích của mỗi quả cầu trước khi tiếp xúc.

Bài tập 39. Cho 2 quả cầu nhỏ trung hòa về điện đặt trong không khí, cách nhau 40cm. Giả sử có 4.1012electron từ quả cầu này di chuyển sang quả cầu kia. Hỏi khi đó hai quả cầu hút nhau hay đẩy nhau. Tính độ lớn của lực đó biết e = -1,6.10-19C

Bài tập 40. Hai quả cầu giống nhau bàng kim loại khối lượng m = 5g, được treo cùng vào một điểm O bằng hai sợi dây không dãn, dài 10cm. Hai quả cầu tiếp xúc với nhau. Tích điện cho mỗi quả cầu thì thấy chúng đẩy nhau cho đến khi hai dây treo hợp với nhau một góc 60o. Tính độ lớn điện tích mà ta đã truyền cho quả cầu lấy g =10m/s2.

Bài tập 41. Hai quả cầu nhỏ giống nhau bằng kim loại có khối lượng m =5g, được treo vào cùng một điểm O bằng 2 sợi dây không dãn, dài 30cm. Hai quả cầu tiếp xúc với nhau. Tích điện cho mỗi quả cầu thi thấy chúng đẩy nhau cho đến khi hai dây treo hợp với nhau một góc 60o. Tính độ lớn điện tích mà ta đã truyền cho quả cầu lấy g = 10m/s2.

Bài tập 42. Có 4 quả cầu kim loại kích thước bằng nhau. Các quả cầu mang điện tích lần lượt là +2,3µC; -246.10-7C, -5,9µC, +3,6.10-5C. Cho 4 quả cầu đồng thời chạm vào nhau sau đó lại tác chúng ra. Xác định điện tích sau khi tách của mỗi quả cầu.

Bài tập 43. Hai quả cầu giống nhau, tích điện như nhau treo ở hai đầu A và B của hai dây cùng độ dài OA, OB có đầu O chung được giữ cố định trong chân không. Sau đó tất cả được nhúng trong dầu hỏa (có khối lượng riêng ρo và hằng số điện môi ε = 4). Biết rằng so với trường hợp trong chân không góc AOB không thay đổi và gọi ρ là khối lượng riêng của hai quả cầu . Hãy tính tỷ số ρ/ρo. Biết hai sợi dây OA, OB không co dãn và có khối lượng không đáng kể.

Bài tập 44. Hai quả cầu nhỏ bằng kim loại giống hệt nhau được treo ở hai đầu dây ó cùng chiều dài. Hai đầu kia của hai dây móc vào cùng một điểm. Cho hai quả cầu tích điện bằng nhau, lúc cân bằng chúng cách nhau R = 6,35cm. Chạm tay vào một trong hai quả cầu, hãy tính khoảng cách R’ giữa hai quả cầu sau khi chúng đạt vị trí cân bằng mới. Giả thiết chiều dài mỗi dây khá lớn so với khoảng cách hai quả cầu lúc cân bằng.

Bài tập 45. Hai quả cầu nhỏ giống nhau, mỗi quả cầu có điện tích q và khối lượng m =10g được treo bởi hai sợi dây cùng chiều dài l = 30cm vào cùng một điểm O. Giữ quả cầu 1 cố định theo phương thẳng đứng, dây treo quả cầu 2 bị lệch góc α = 60o so với phương thẳng đứng. Cho g = 10m/s2. Tìm q.

Bài tập 46. Có hai sợi dây mảnh không dãn, mỗi dây dài 2m. Hai đầu dây được dính vào cùng 1 điểm, ở 2 đầu còn lại có buộc 2 quả cầu giống nhau, mỗi có trọng lượng 0,02N. Các quả cầu mang điện tích cùng dấu có độ lớn 5.10-8C. Khoảng cách giữa tâm của các quả cầu khi chúng nằm cân bằng là bao nhiêu.s

Bài tập 47. Hai điện tích q1 = -2.10-8C, q2 = -1,8.10-7C đặt tại A và B trong không khí, AB = 8cm. Một điện tích q3 đặt tại C. Hỏi

a/ C ở đâu để q3 cân bằng

b/ Dấu và độ lớn của q3 để q1, q2 cũng cân bằng.

Bài tập 48. Hai điện tích điểm q1 = 10-8C, q2 = 4.10-8C đặt tại A và B cách nhau 9cm trong chân không.

a/ Xác định độ lớn lực tương tác giữa hai điện tích.

b/ Xác định véc tơ lực tác dụng lên điện tích qo = 6,075.10-9C đặt tại trung điểm AB.

c/ Phải đặt điện tích q3 = 2.10-6 tại đâu để điện tích q3 nằm cân bằng.

Bài tập 49. Hai điện tích điểm q1 = q2 = q, đặt tại A và B trong không khí. Phải đặt điện tích q3 tại đâu để q3nằm cân bằng.

Bài tập 50. Có hai điện tích q1 =q và q2 = 4q đặt cố định trong không khí cách nhau một khoảng a = 30cm. Phải đặt một điện tích qo như thế nào và ở đâu để nó cân bằng.

Bài tập 51. Ba hạt cườm được xâu vào một vòng chỉ kín, mềm và cách điện, một hạt mang điện tích q, hai hạt còn lại mang điện tích 3q. Các hạt có thể trượt không ma sát dọc theo sợi chỉ. Khi để trên mặt bàn nhẵn, cách điện nằm ngang, hệ tạo thành một tam giác như hình vẽ. Hãy tính góc α ở đáy của tam giác này.

Bài tập 52. Trên đường tròn tâm O, bán kính Ro đặt bốn chất điểm tại bốn định của một hình vuông như hình vẽ. Khối lượng của mỗi chất điểm đều bằng m. Hai chất điểm có điện tích +q, hai chất điểm còn lại có điện tích -q. Ban đầu, truyền cho tất cả các chất điểm vận tốc có độ lớn như nhau, theo phương tiếp tuyến với đường tròn, chiều thuận chiều kim đồng hồ như hình vẽ. Biết trong quá trình chuyển động khoảng cách nhỏ nhất mỗi chất điểm đến tâm O của đường tròn là R1 (R1 <Ro). Bỏ qua tác dụng của lực hấp dẫn.

a/ Các chất điểm sẽ chuyển động theo quỹ đạo như thế nào

b/ Tìm thời gian đặc trung cho chuyển động của mỗi chất điểm

Bài tập 53. Hai quả cầu cùng khối lượng m, tích điện giống nhau q, được nối với nhau bằng lò xo nhẹ cách điện, độ cứng k, chiều dài tự nhiên lo, Một sợi dây chỉ mảnh nhẹ, cách điện, không dãn, có chiều dài 2L, mỗi đầu sợi dây được gắn với một quả cầu. Cho điểm giữa (trung điểm) của sợi dây chỉ chuyển động thẳng đứng lên với gia tốc a = g/2 thì lò xo có chiều dài l (với lo < l < 2L). Tính q

【#2】Định Luật Coulomb Về Tĩnh Điện (Phần 2)

Charles-Augustin de Coulomb (1736-1806), nhà vật lí Pháp nổi tiếng với định luật mô tả lực tương tác giữa hai điện tích điểm.

HIẾU KÌ. Sở trường kĩ thuật của Coulomb giữ một vai trò lớn trong việc xây dựng công sự Martinique, một hòn đảo ở Caribbean. yC là đơn vị chính thức cho yocto-coulomb, bằng 10 -24 coulomb. Coulomb giành giải thưởng của Viện hàn lâm Khoa học Pháp cho phương pháp tốt nhất chế tạo la bàn dành cho tàu thuyền.

Những đóng góp của Coulomb cho khoa học về lực ma sát là vô cùng to lớn. Không hề cường điệu, người ta có thể nói rằng ông đã sáng lập lĩnh vực khoa học này.

Có thể xem Coulomb là một trong những kĩ sư vĩ đại nhất ở châu Âu thế kỉ mười tám.

Ai có thể quên được cái lần “Chuck” Coulomb thuyết trình trước Viện hàn lâm Khoa học ở Paris năm 1773 khi ông bàn về lí thuyết cơ học đất tiên phong?

Charles-Augustin de Coulomb là một trong những nhà vật lí và kĩ sư lỗi lạc nhất của mọi thời đại có đóng góp cho các lĩnh vực điện học, từ học, cơ học ứng dụng, lực ma sát, và lực xoắn. Coulomb sinh ra trong một gia đình khá giả ở Angoulême ở tây nam nước Pháp. Sau đó gia đình ông chuyển đến Paris, ông vào học trường Collège Mazarin. Ông được hưởng một nền giáo dục phổ thông tốt về nhân chủng học, cũng như toán học, thiên văn học, và hóa học.

Có một dạo, cha ông mất trắng tiền bạc trong đầu cơ tài chính. Tình trạng khó khăn này, cộng với sự bất đồng của Coulomb với mẹ ông về các dự tính nghề nghiệp, làm cho gia đình ông li tán, Coulomb cùng cha chuyển đến Montpellier còn mẹ ông vẫn ở lại Paris. Theo một số nguồn thông tin, mẹ Coulomb muốn ông trở thành một bác sĩ, còn cậu con trai của bà nhất quyết đòi học một chuyên ngành định lượng hơn như là kĩ thuật hoặc toán học. Các bất đồng dần trở nên nảy lửa, và mẹ ông hầu như không thèm nhìn mặt ông.

Năm 1760, Coulomb vào học trường École du Génie tại Mézières và sau đó tốt nghiệp kĩ sư trong hàng ngũ đại úy hải quân trong Quân đoàn Kĩ sư (Corps du Génie). Trong hai thập niên sau đó, ông đã chu du khắp nơi, ở đâu ông cũng tham gia vào kĩ thuật cấu trúc, thiết kế công sự, và cơ học đất – chẳng hạn, ông đã dành ra vài năm ở West Indies với vai trò kĩ sư quân sự – trước khi trở lại Pháp, nơi ông bắt đầu viết các bài báo quan trọng về cơ học ứng dụng.

Coulomb đã chế tạo một cân xoắn vào khoảng năm 1777 để đo lực tĩnh điện. Cân xoắn gồm hai quả cầu kim loại gắn với một thanh cách điện. Thanh được treo tại ngay giữa của nó bằng một sợi tơ hoặc sợi chỉ mảnh không dẫn điện. Để đo lực điện, một trong hai quả cầu được làm cho nhiễm điện. Một quả cầu thứ ba có điện tích giống như vậy được đặt gần quả cầu nhiễm điện của cân, làm cho quả cầu trên cân bị đẩy ra. Lực đẩy này làm cho sợi tơ xoắn đi một lượng nhất định. Nếu chúng ta đo xem cần một lực bao nhiêu để làm xoắn sợi dây một góc bằng như vậy, thì ta có thể ước tính mức độ lực gây ra bởi quả cầu nhiễm điện. Nói cách khác, sợi dây tác dụng như một lò xo rất nhạy cung cấp một lực tỉ lệ thuận với góc xoắn. Coulomb chỉ ra rằng lực biến thiên theo 1/ r2 đối với lực đẩy giữa các điện tích cùng dấu, và lực hút giữa các điện tích trái dấu, cách nhau khoảng r lúc ban đầu. Hình như chưa bao giờ ông thật sự chứng minh được rằng lực giữa các điện tích tỉ lệ thuận với tích các giá trị điện tích – ông chỉ đơn giản thừa nhận điều này là đúng. C. Stewart Gillmor, viết trong Từ điển tiểu sử khoa học, chỉ ra mức độ mà cân xoắn của Coulomb ảnh hưởng đến nền khoa học trong nhiều thế hệ:

Giải phép đơn giản, đẹp đẽ của Coulomb cho vấn đề lực xoắn trong bình trụ rằng lực hút điện tuân theo quy luật giống với lực hấp dẫn và do đó phụ thuộc theo bình phương khoảng cách; vì như thế dễ dàng chứng tỏ rằng Trái Đất có dạng một lớp vỏ, một vật thể mà ở bên trong nó sẽ không bị hút về một phía nhiều hơn phía kia?

Mặc dù Priestly chẳng nêu ra bằng chứng thuyết phục cho Định luật Coulomb, song những suy đoán của ông về cơ bản là đúng. Priestly còn độc lập phát minh ra cân xoắn và dùng nó để chỉ ra rằng lực giữa hai cực nam châm biến theo theo nghịch đảo bình phương khoảng cách giữa hai cực.

Ngày nay, chúng ta gọi quy luật 1/ r2 là Định luật Coulomb để tôn vinh những kết quả độc lập mà Coulomb thu được thông qua bằng chứng do hệ thống cân xoắn của ông đem lại. Nói cách khác, Coulomb đã cung cấp các kết quả định lượng có tính thuyết phục cho một điều mà mãi đến năm 1785 thường chỉ là một suy đoán tốt.

Lực Coulomb cũng thích ứng ở cấp độ nguyên tử, và thật vậy, để có thông tin ta hãy so sánh lực hấp dẫn với lực Coulomb đối với nguyên tử hydrogen. Lấy gần đúng, ta xem electron là một hạt điểm quay xung quanh hạt điểm proton, với khoảng cách trung bình giữa electron và proton là 5,3 × 10 -11 mét, lực Coulomb có thể được tính bởi

Độ lớn của lực hấp dẫn Fg giữa proton và electron có thể được tính gần đúng bằng khối lượng electron me và khối lượng proton mp:

Lưu ý rằng lực Coulomb lớn hơn rất nhiều so với lực hấp dẫn giữa hai hạt hạ nguyên tử này.

1. Ampère (André-Marie Ampère, nhà toán học và nhà vật lí)

2. Arago (Dominique François Jean Arago, nhà thiên văn học và nhà vật lí)

3. Barral (Jean-Augustin Barral, nhà nông học, nhà hóa học, nhà vật lí)

4. Becquerel (Antoine Henri Becquerel, nhà vật lí)

5. Bélanger (Jean-Baptiste-Charles-Joseph Bélanger, nhà toán học)

6. Belgrand (Eugene Belgrand, kĩ sư)

7. Berthier (Pierre Berthier, nhà khoáng vật học)

8. Bichat (Marie François Xavier Bichat, nhà giải phẫu học và nhà sinh lí học)

9. Borda (Jean-Charles de Borda, nhà toán học)

10. Breguet (Abraham Louis Breguet, thợ máy và nhà phát minh)

11. Bresse (Jacques Antoine Charles Bresse, kĩ sư dân sự và kĩ sư thủy lực)

12. Broca (Paul Pierre Broca, thầy thuốc và nhà nhân chủng học)

13. Cail (Jean-François Cail, nhà tư bản công nghiệp)

14. Carnot (Nicolas Léonard Sadi Carnot, nhà toán học)

15. Cauchy (Augustin Louis Cauchy, nhà toán học)

16. Chaptal (Jean-Antoine Chaptal, nhà nông học và nhà hóa học)

17. Chasles (Michel Chasles, nhà hình học)

18. Chevreul (Michel Eugène Chevreul, nhà hóa học)

19. Clapeyron (Émile Clapeyron, kĩ sư)

20. Combes (Émile Combes, kĩ sư và nhà luyện kim)

21. Coriolis (Gaspard-Gustave Coriolis, kĩ sư và nhà khoa học)

22. Coulomb (Charles-Augustin de Coulomb, nhà vật lí)

23. Cuvier (Baron Georges Leopold Chretien Frédéric Dagobert Cuvier, nhà tự nhiên học)

24. Daguerre (Louis Daguerre, nghệ sĩ và nhà hóa học)

25. De Dion (Albert de Dion, kĩ sư)

26. De Prony (Gaspard de Prony, kĩ sư)

27. Delambre (Jean Baptiste Joseph Delambre, nhà thiên văn học)

28. Delaunay (Charles-Eugène Delaunay, nhà thiên văn học)

29. Dulong (Pierre Louis Dulong, nhà vật lí và nhà hóa học)

30. Dumas (Jean Baptiste André Dumas, nhà hóa học)

31. Ebelmen (Jean-Jacques Ebelmen, nhà hóa học)

32. Fizeau (Hippolyte Fizeau, nhà vật lí)

33. Flachat (Jeugène Flachat, kĩ sư)

34. Foucault (Léon Foucault, nhà vật lí)

35. Fourier (Jean Baptiste Joseph Fourier, nhà toán học)

36. Fresnel (Augustin-Jean Fresnel, nhà vật lí)

37. Gay-Lussac (Joseph Louis Gay-Lussac, nhà hóa học)

38. Giffard (Henri Giffard, kĩ sư)

39. Goüin (Ernest Goüin, kĩ sư và nhà tư bản công nghiệp)

40. Haüy (René-Just Haüy, nhà khoáng vật học)

41. Jamin (Jules Célestin Jamin, nhà vật lí)

42. Jousselin (Alexandre Louis Jousselin, kĩ sư)

43. Lagrange (Joseph Louis Lagrange, nhà toán học)

44. Lalande (Joseph Jérôme Lefrançais de Lalande, nhà thiên văn học)

45. Lamé (Gabriel Lamé, nhà hình học)

46. Laplace (Pierre-Simon Laplace, nhà toán học và nhà thiên văn học)

47. Lavoisier (Antoine Lavoisier, nhà hóa học)

48. Le Chatelier (Henri Louis le Chatelier, nhà hóa học)

49. Le Verrier (Urbain Le Verrier, nhà thiên văn học)

50. Legendre (Adrien-Marie Legendre, nhà hình học)

51. Malus (Etienne-Louis Malus, physicist)

52. Monge (Gaspard Monge, nhà hình học)

53. Morin (Jean-Baptiste Morin, nhà toán học và nhà vật lí học)

54. Navier (Claude-Louis Marie Henri Navier, nhà toán học)

55. Petiet (Jules Petiet, kĩ sư)

56. Pelouze (Théophile-Jules Pelouze, nhà hóa học)

57. Perdonnet (Albert Auguste Perdonnet, kĩ sư)

58. Perrier (François Perrier, nhà địa lí và nhà toán học)

59. Poinsot (Louis Poinsot, nhà toán học)

60. Poisson (Simeon Poisson, nhà toán học và nhà vật lí)

61. Polonceau (Antoine-Rémi Polonceau, kĩ sư)

62. Poncelet (Jean-Victor Poncelet, nhà hình học)

63. Regnault (Henri Victor Regnault, nhà hóa học và nhà vật lí)

64. Sauvage (Jean-Pierre Sauvage, thợ máy)

65. Schneider (Jacques Schneider, nhà tư bản công nghiệp)

66. Seguin (Marc Seguin, thợ máy)

67. Sturm (Jacques Charles François Sturm, nhà toán học)

68. Thénard (Louis Jacques Thénard, nhà hóa học)

69. Tresca (Henri Tresca, kĩ sư và thợ máy)

70. Triger (Jacques Triger, kĩ sư)

71. Vicat (Louis Vicat, kĩ sư)

72. Wurtz (Charles-Adolphe Wurtz, nhà hóa học)

ĐỌC THÊM

Blau, Peter J., Friction Science and Technology (New York: Marcel Dekker, 1995).

Elert, Glenn, “Dielectrics,” trong The Physics Hypertextbook; xem hypertextbook. com/physics/electricity/dielectrics/.

Gillmor, C. Stewart, “Charles Coulomb,” trong Dictionary of Scientific Biography, Charles Gillispie, biên tập chính (New York: Charles Scribner’s Sons, 1970).

James, Ioan, Remarkable Physicists: From Galileo to Yukawa (New York: CambridgeUniversity Press, 2004).

Kovacs, J., “Coulomb’s Law,” Project PHYSNET, Michigan State University; xem physnet.org/modules/pdfmodules/m114.pdf.

Priestley, Joseph, The History and Present State of Electricity (London: J. Doddsley, J. Johnson, B. Davenport, & T. Cadell, 1767).

Shamos, Morris, Great Experiments in Physics: Firsthand Accounts from Galileo to Einstein (New York: Dover, 1987).

Wikipedia, ” The 72 Names on the Eiffel Tower “; xem chúng tôi The_72_names_on_the_Eiffel_Tower.

LUẬN BÀN

Từng sự thật được chọn lọc và nhóm lại với nhau sao cho các kết nối hợp lẽ của chúng trở nên tường minh. Bằng cách nhóm những quy luật này với nhau, người ta có thể thu được những quy luật khác tổng quát hơn… Tuy nhiên… những tiến bộ lớn về tri thức khoa học chỉ hình thành … Ở cấp độ lượng tử, chúng ta đang nhìn vào ngôn ngữ máy, bên dưới đó có lẽ chính là cái máy, và chẳng có thuật toán nào ở cấp độ ấy, chỉ có các thay đổi trạng thái của cái máy cho phép các thuật toán vận hành. Đây là lí do vì sao các hạt lượng tử trông hành xử quá thất thường và khó tóm bắt – chúng không chính thức “ở trong” mô phỏng; chúng là cái đang làm cho mô phỏng xảy ra.

James Platt, trò chuyện cá nhân, 1 tháng Ba 2007

Thế nhưng toàn bộ lịch sử khoa học là một câu chuyện rõ ràng về những lí giải liên tục đổi mới và thay đổi của các sự thật cũ. Tuổi thọ của sự trường tồn hình như là hoàn toàn ngẫu nhiên nên nó chẳng nhìn thấy trật tự nào ở chúng cả. Một số chân lí khoa học có vẻ tồn tại hàng thế kỉ, số khác thì kéo dài chưa tới một năm. Chân lí khoa học không phải giáo điều, nó tốt cho đời sau, mà là một thực thể nhất thời định lượng có thể nghiên cứu được như bất kì thứ gì khác.

Khoa học hoạt động là do vũ trụ được xếp trật tự theo một cách có thể hiểu được. Hiện thân tinh tế nhất của sự trật tự này được tìm thấy ở các định luật vật lí, các quy tắc toán học cơ bản chi phối mọi hiện tượng thiên nhiên. Một trong những câu hỏi lớn nhất của khoa học đó là nguồn gốc của các định luật đó: do đâu mà có chúng, và tại sao chúng có hình thức như chúng vốn thế?… Các định luật vật lí có một tính chất kì lạ và bất ngờ: cùng với nhau, chúng đem lại cho vũ trụ khả năng tạo ra sự sống và sinh vật có ý thức, ví dụ như chúng ta, những người có thể nêu ra những câu hỏi lớn ấy.

Paul Davies, “Thiết lập Các Định luật”, New Scientist

Trích từ Archimedes to Hawking (Clifford Pickover) Vui lòng ghi rõ “Nguồn chúng tôi khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

Thêm ý kiến của bạn

【#3】Cách Học Tốt Chương Định Luật Cu Lông Trong Môn Vật Lý Lớp 11

Để nhằm tìm ra được định luật tổng quan về tương tác điện, Nhà bác học Cu lông của nước Pháp vào năm 1785 đã khảo sát lực tương tác giữa các điện tích điểm. Đó là những vật mang điện và có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng.

Cu lông đã thiết lập một định luật nhờ một dụng cụ gọi là cân xoắn bao gồm: Một thanh thủy tinh nhẹ và treo ở đầu hai kim loại mảnh có tính đàn hồi, một đầu thanh thủy tinh được gắn một quả cầu kim loại nhỏ và đầu kia có một đối trọng. Một quả cầu bằng kim loại khác được cố định ở thành của cân, lực tương tác giữa hai điện tích trên hai quả cầu bằng kim loại đó được đo bằng góc xoắn của dây treo.

Bằng cách đó, ông đã khảo sát được sự phụ thuộc của lực tương tác vào khoảng cách ở giữa hai quả cầu bằng kim loại và vào độ lớn điện tích của hai quả cầu đó. Từ kết quả thực nghiệm đó ông đã nêu lên thành định luật Cu lông mà chúng ta sử dụng ngày nay.

Định luật Cu lông được phát biểu rằng lực tương tác giữa hai điện tích điểm có phương nằm trên cùng một đường thẳng nối hai điện tích điểm, có chiều là chiều của lực hút hai điện tích điểm khác dấu và đẩy nếu hai điện tích điểm cùng dấu, có độ lớn tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Với độ lớn của lực được tính như sau:

q 1 – Điện tích của điện tích điểm thứ nhất đo bằng (C)

q 2 – Điện tích của điện tích điểm thứ hai đo bằng (C)

r – Khoảng cách giữa hai điện tích điểm được đo bằng (m)

k – Hằng số vật lý

Định luật Cu lông phát biểu về hai điện tích điểm và trong tự nhiên chúng ta cũng có hai loại điện tích đó là điện tích dương kí hiệu là (+), và điện tích âm kí hiệu là (-). Khi đặt các điện tích lại gần nhau thì các điện tích cùng dấu sẽ đẩy nhau và các điện tích khác dấu thì sẽ hút nhau.

Định luật Cu lông giải thích thuyết Electron

Nội dung của thuyết này nói về sự có mặt và chuyển động của e để giải thích một số hiện tượng điện từ. Phần cấu tạo của Nguyên tử bao gồm phần vỏ mang điện tích âm, có khối lượng không đáng kể so với khối lượng của Nguyên tử, phần thứ hai là phần Hạt nhân bao gồm các Nuclon. Có hai loại Nuclon đó là Notron và Proton. Nơtron là hạt không mang điện và Proton là hạt mang điện tích +e. Hạt nhân tuy có kích thước nhỏ bé hơn so với kích thước của nguyên tử song nó lại chiếm hầu hết khối lượng của Nguyên tử.

Thông thường tổng tất cả các điện tích ở bên trong Nguyên tử bằng không, lúc đó nguyên tử sẽ trung hòa về điện. Nếu như Nguyên tử bị mất đi một vài electron thì tổng số các điện tích của Nguyên tử sẽ nhận giá trị dương, vì vậy Nguyên tử nhiễm điện dương. Trong trường hợp Nguyên tử đang trung hòa về điện và lại nhận thêm một vài electron thì tổng số điện tích của Nguyên tử mang dấu âm và Nguyên tử nhiễm điện âm. Chính vì khối lượng của electron rất nhỏ nên chúng có độ linh động rất lớn. Vì vậy trong một số trường hợp bị cọ xát, nung nóng một số e có thể bứt ra khỏi Nguyên tử và di chuyển từ vật này sang vật khác. Nếu vật thừa electron thì bị nhiễm điện âm và thiếu electron thì nhiễm điện dương.

♦ Phương pháp học tập môn Vật lý 12 nhanh chóng, hiệu quả

♦ Kinh nghiệm tìm gia sư môn Sinh lớp 11 cho con ôn thi khối B

【#4】Phim Định Luật Hấp Dẫn Tập 1 Vietsub Hd

Dinh Luat Hap Dan 2011 HD phụ đề, The Law Of Attraction 2011 xem phim The Law Of Attraction thiet minh, xem Định Luật Hấp Dẫn thuyết minh tap 1, 2, 3, 4, phần 2, 3, 4, phim The Law Of Attraction 5, 6, 7, 8, 9, 10, xem Định Luật Hấp Dẫn tập 11, tập 12, tập 13, tập 14, tập 15, phim Định Luật Hấp Dẫn tap 16, tap 17, tap 18, tap 19, tap 20, xem phim Định Luật Hấp Dẫn tập 21, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, phần 2, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, tap 53, 54, 55, 56, 57, 58, 69, 60, phần 2, 61, 62, 63, tập 64, 65, tap 66, tap 67, tap 68, 69, tập 70, Định Luật Hấp Dẫn tap cuoi, The Law Of Attraction vietsub tron bo, Định Luật Hấp Dẫn phim3s, Định Luật Hấp Dẫn phim14, Định Luật Hấp Dẫn vivo, Định Luật Hấp Dẫn youtube, Định Luật Hấp Dẫn phimmoi, hdonline, phimbathu, bilutv, banhtv, xemvtv Định Luật Hấp Dẫn full, The Law Of Attraction online, Định Luật Hấp Dẫn Thuyết Minh, Định Luật Hấp Dẫn Vietsub, vophim, vivuphim, phim33, vietsubtv, 2021, bomtan, cayphim, vuviphim, tvhay, khoaitv, film, tap cuoi, phim hay 2021, xemphimon, phim7, wowphim, Định Luật Hấp Dẫn Lồng Tiếng, zingtv, vuighetv, bilumoi, fimfast, luotphim, Định Luật Hấp Dẫn bilutvb, xemphimplus, phim7z, kenhphimhay, The Law Of Attraction phan 1, 3, 4, 5, 6, 7, phần 2, 8, 9, 10, dongphim, motphim, Định Luật Hấp Dẫn tvhay, phimvn2, kenhvideo, hphim, biphim, phim7z, khoaitv, bongtv, huphim, Định Luật Hấp Dẫn vkook, hdviet, phimmediatv, Định Luật Hấp Dẫn vtv, xemphimso, phimhd7, Định Luật Hấp Dẫn fptplay, kenhhd, Định Luật Hấp Dẫn phim14, kphim, phim33, aphim, iphim, Định Luật Hấp Dẫn phimnhanh, khophimplus, Định Luật Hấp Dẫn phim8u, yeuphimmoi, ahihi, Định Luật Hấp Dẫn phimmedia, hdotv, bongngo, baprang, thuyet minh, cliptv, vuviphimmoi, hayhaytv, Định Luật Hấp Dẫn chúng tôi long tieng, bomtantv, cay phimtv, vietsubhd, topphimmoi, phimgi, TV, vietsub, vuighe, zingTV, ahaphim, hdvietnam, phimhayplus, thuyết minh, hatdetv, sctv, kingphim, hdsieunhanh, HD, lồng tiếng, việt Sub, phimplus .net, topphimmoi .com, yophim z .com .net, xemphim, phimonl, xemphimplus, huphim, hatde, chúng tôi baprang, chúng tôi bilutv, bongngo tv net , movieshdviet, xemvtv com net, omphim z .com .net .org, cayphim, phim3a, phim3s, xemphim z chúng tôi vietsubtv com net, chúng tôi netphim, xemchuatv z .com .net .org, chúng tôi vphim, netflix, motphim, xemphim.plus, zingtv .net .com .org .tv , phimplus, xuongphim, z, topphimhd, z, yeuphimmoi, z, phimmoi, zz, motphim, zz, hayghetv .net .com .org, z, donhphym, dongphim .net .tv. org .co, huphim z, hatde z, bilutv z, phim1080, vtv16 z, vuighe z, netphim, vphim z, yeuphimmoi z, 24hphim z .com .net .org, tvhay z .org .co .net, xuongphim z .com .net .org, vuviphimmoi z .com .net .org, fsharetv .com .net, topphimhd z , phimhot z, skyphim z .net .com .org, cliptv, yeuphimmoi, chúng tôi z .com .org, hayghetv z .com .org, fimfast, fastfim, fptplay, phimne3, hdvip, mocha, luotphim, vkool z .tv .net .org, kenhphimhay, chúng tôi chúng tôi chúng tôi z .info .org, chúng tôi z .org, chúng tôi xemphim4k, thichphet z .com .net .org, phimmoitv .net com .org, luotphim, hdvip, gophim, kenhphimhay, techrum, vaophim, saophim, skyphim, chúng tôi phephim, phim1080, xemphimvui, chúng tôi phim4s, dongphimmoi, thichphet, kingphim, khophimhot, vnsub, 247phim, coiphim, phim4dx, .net .com .org .tv .co .xemphim, Định Luật Hấp Dẫn tap 1, 2, 3, 4, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 100, 13, 14, 15, 21, 22, 23, 24, 19, 20, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 89, 90, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 69, 63, 64, 65, 66, 45, 46, 47, 48, 91, 92, 93, 94, 95, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 87, 88, 53, 54, 55, 67, 68, 62, 49, 50, 51, 52, 77, 34, 35, 36, 16, 17, 18, 76, 96, 97, 98, 99

【#5】Luật Hôn Nhân Và Gia Đình

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản ;

Căn cứ vào Điều 64 và Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.

Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.

Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn.

Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.

Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.

Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây :

a) Đang có vợ hoặc có chồng ;

b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình ; đang mắc bệnh hoa liễu ;

c) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha ; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời ;

d) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.

Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.

Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.

Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.

Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.

Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc : tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy ; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên ; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ.

Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn.

Vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

Chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ.

Vợ, chồng có quyền tự do chọn nghề nghiệp chính đáng, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.

Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.

Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng.

Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau.

Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này.

Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc hoặc tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con.

Cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình.

Các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình.

Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ.

Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ có quyền lựa chọn nghề nghiệp, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Con có quyền có tài sản riêng.

Con từ 16 tuổi trở lên còn ở chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, và nếu có thu nhập riêng thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình.

Cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên trước pháp luật.

Cha mẹ quản lý tài sản của con chưa thành niên.

Cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra. Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường.

Con chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường.

Người cha, người mẹ nào bị xử phạt về một trong các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của con chưa thành niên, ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ con chưa thành niên, thì có thể bị Toà án nhân dân quyết định không cho trông giữ, giáo dục con, quản lý tài sản của con hoặc đại diện cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Đối với người đã sửa chữa, Toà án nhân dân có thể rút ngắn thời hạn này.

Người cha, người mẹ nói trên vẫn có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi dạy con.

Ông, bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ. Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con. Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc lẫn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ.

Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác.

Người được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó không phải là con mình.

Người không được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó là con của mình.

Việc cha mẹ nhận con ngoài giá thú do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người con công nhận và ghi vào sổ khai sinh.

Con ngoài giá thú có quyền xin nhận cha, mẹ kể cả trong trường hợp cha. mẹ đã chết.

Người mẹ, người cha hoặc người đỡ đầu có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên.

Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên.

Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú.

Các tranh chấp về nhận con, nhận cha, mẹ do Toà án nhân dân nơi thường trú của người con xét xử.

Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt.

Giữa người nuôi và con nuôi có những nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con quy định ở các Điều từ 19 đến 25 của Luật này.

Người từ 15 tuổi trở xuống mới được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp con nuôi là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi.

Người nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.

Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên. Nếu nhận nuôi người từ 9 tuổi trở lên thì còn phải được sự đồng ý của người đó.

Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.

Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận các trẻ em mồ côi làm con nuôi.

Con liệt sĩ được nhận làm con nuôi vẫn hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ.

Việc nuôi con nuôi có thể chấm dứt khi người nuôi hoặc con nuôi hoặc cả hai người có hành vi nghiêm trọng xâm phạm thân thể, nhân phẩm của nhau hoặc những hành vi khác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa.

Việc chấm dứt nuôi con nuôi do Toà án nhân dân quyết định theo yêu cầu của con nuôi hoặc của người nuôi. Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên thì cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của con nuôi, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Khi vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng có đơn xin ly hôn thì Toà án nhân dân tiến hành điều tra và hoà giải.

Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành và nếu xét đúng là hai bên thật sự tự nguyện ly hôn, thì Toà án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn.

Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành thì Toà án nhân dân xét xử. Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án nhân dân xử cho ly hôn.

Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm.

Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ.

Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;

b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;

c) Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;

d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.

Khi ly hôn, nếu bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng do hai bên thoả thuận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

Khi hoàn cảnh thay đổi, người được cấp dưỡng hoặc người phải cấp dưỡng có thể yêu cầu sửa đổi mức hoặc thời gian cấp dưỡng. Nếu người cấp dưỡng kết hôn với người khác thì không được cấp dưỡng nữa.

Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền đối với con chung.

Khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ.

Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con. Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc tuy cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện để làm những nhiệm vụ đó.

Cha mẹ có thể cử người đỡ đầu cho con chưa thành niên. Nếu cha mẹ không cử được thì những người thân thích có thể cử người đỡ đầu cho người đó. Việc cử người đỡ đầu do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận.

Trong trường hợp cha mẹ hoặc những người thân thích không cử được người đỡ đầu thì cơ quan Nhà nước có chức năng hoặc tổ chức xã hội đảm nhiệm việc đỡ đầu người con chưa thành niên.

Công dân làm người đỡ đầu phải là người từ 21 tuổi trở lên, có tư cách đạo đức tốt và có điều kiện thực tế để làm người đỡ đầu.

Công dân hoặc tổ chức làm người đỡ đầu có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :

a) Chăm sóc, giáo dục người được đỡ đầu;

b) Quản lý tài sản của người được đỡ đầu;

c) Đại diện cho người được đỡ đầu trước pháp luật và bảo vệ quyền lợi của người đó.

Công dân làm người đỡ đầu chịu sự giám sát của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về công việc đỡ đầu.

Người thân thích của người được đỡ đầu, Viện kiểm sát nhân dân,

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thay người đỡ đầu, nếu người này không làm tròn nhiệm vụ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người đỡ đầu.

Công dân làm người đỡ đầu có thể yêu cầu cử người thay, nếu thấy mình không còn đủ điều kiện làm người đỡ đầu.

Việc đỡ đầu chấm dứt khi người chưa thành niên được giao lại cho cha mẹ, được nhận làm con nuôi, hoặc đủ 18 tuổi.

Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn.

Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành ở Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật này. Thủ tục kết hôn do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Những vấn đề về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, huỷ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Hội đồng Nhà nước quy định.

Trong trường hợp đã có hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân theo những quy định của các hiệp định đó.

Đối với dân tộc thiểu số, Hội đồng Nhà nước căn cứ Luật này và tình hình cụ thể mà có những quy định thích hợp.

Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật này.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam giáo dục, vận động nhân dân thi hành nghiêm chỉnh Luật này.

Luật này thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1959.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 12, thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986.

Luật Hôn nhân và gia đình

Cơ quan ban hành:

Quốc hội

Số công báo:

Đang cập nhật

Số hiệu:

21-LCT/HĐNN7

Ngày đăng công báo:

Đang cập nhật

Loại văn bản:

Luật

Người ký:

Trường Chinh

Ngày ban hành:

29/12/1986

Ngày hết hiệu lực:

Đã biết

Áp dụng:

Đã biết

Tình trạng hiệu lực:

Đã biết

Lĩnh vực:

Xem Luật Hôn nhân và Gia đình mới nhất đang áp dụng

Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

The State guarantees the implementation of the regime of voluntary, progressive, and monogamous marriage in which husband and wife are equal, with a view to nurturing a democratic, united, happy and lasting family.

Marriage between Vietnamese citizens from different ethnic groups or religions, or between believers and non-believers, shall be respected and protected.

Husband and wife shall have the obligation to implement family planning.

Parents shall the duty to make their children useful to society.

Children shall be obliged to respect, take care of, and support their parents.

The State and society shall protect the mothers as well as their children, and shall assist the mothers in fulfilling their noble tasks of motherhood.

It shall be deemed as unlawful any act of underage marriage, forced marriage or impeding voluntary and progressive marriage, pssing for portion, or forcing a person into porce.

A person being married shall not be allowed to marry another, or to live with another as husband or wife.

Ill-treatment toward one’s parents, wife, husband, and children shall not be tolerated.

Men reaching the age of twenty and women at eighteen over shall be eligible to marry.

Marriage shall be decided on by the man and woman who are seeking it; neither of them shall be forced by any other party into marriage;impediments to marriage shall not be admitted.

Marriage shall not be permitted in the following circumstances:

1. One of the marriage partners is a marriage person.

2. One of the prospective spouses is mentally ill and is not in control of his or her actions, or has a venereal disease.

3. The marriage partners are directly related by blood: brother and sister with the same parents, half-brother and half-sister, or relatives within three generations.

4. Between an adoptive father or a foster mother and an adopted child.

A marriage shall be recognised and recorded in the Marriage Register, with proceedings pscribed by the State, or by the People’s Committee of the commune, ward or town where one of the prospective spouses resides.

A marriage between Vietnamese citizens abroad shall be recognised by the diplomatic mission of the Socialist Republic of Vietnam in that country.

All other marriage proceedings shall be invalid.

Marriage in violation of Article 5, 6 or 7 shall be illegal. Where a marriage person illegally entered into another marriage, his wife or her husband, his or her children, or the People’s Prosecution Office, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union or the Vietnam Federation of Trade Unions can request a People’s Court to annul such marriage.

The property of persons whose illegal marriage has been annulled shall be pided according to these principles: each party shall keep his or her personal property; common property shall be pided according to the contributions made by each side; and the legitimate rights of a man or woman who has been deceived or forced into marriage shall be protected.

The rights of their child, if any, shall be guaranteed, as in the case of a porced couple.

Husband and wife shall have equal rights and duties with respect to all aspects of family.

Husband and wife shall be obliged to be loyal, to care for and respect each other and to assist each other in all social aspects, and to practise family planning.

The husband shall have the duty to create conditions for the wife to fulfil her mother’s role.

Husband and wife shall be free to choose their respective professions and to take part in political, economic, cultural and social activities.

In choosing a domicile, the couple shall not to be forced to follow customary rules.

Common property of a married couple shall be deemed to comprise all the property acquired by each of the marriage partners, including professional and other legitimate income gained by the couple during their marriage, and the property bequeathed or given to the couple.

Property held in common by a married couple shall be for the needs of the family.

Husband and wife shall have equal rights and duties with regard to their common property. Purchase, sale, exchange, borrowing or other dealings involving property of considerable value shall require general consent between husband and wife.

Properties which were separately owned by a spouse before marriage, or solely bequeathed to him or her during their marriage, may only be included in common property, if he or she agrees.

Where a spouse dies, and there is a need to pide “the common property”, it shall be pided into two parts. The half that belongs to the deceased shall be pided in accordance with the law on inheritance.

Husband and wife shall also have the right to inherit each other’s property.

During marriage and upon request of a spouse for legitimate reasons, common property may be pided in accordance with Article 42 of this Law.

Parents shall be obliged to care for and bring up their children, and to ensure their education and healthy development in all aspects, physically, intellectually and morally.

Parents shall not show any discrimination in the treatment of their children.

Parents shall set a good example for their children and in their education in close co-operation with the school and social organisations.

Parents shall have a duty to support their mature children who are incapable of earning a living.

The children in the family shall have equal rights and duties.

Grown-up children living with their parents shall have the right to choose their profession and participate in political, economic, cultural and social activities.

Children shall have the right to own property.

Children under the age of 16 or over living with their parents shall contribute to the family’s livelihood, and contribute part of their earnings to meet the family’s needs.

Parents shall repsent their adolescent children before the law.

Parents shall manage the property of adolescent children.

Parents shall pay compensation for damage caused by illegal acts by their children under 16. Where parents are unable to do so, and the child owns property, an equivalent part of his property shall be taken for compensation. Minors aged 16 or over must pay compensation out of their own means for damage caused by their illegal acts. If they are unable to do so, the parents shall pay compensation.

The father or mother who have committed an offence on account of violating the body or dignity of a child, or serious ill-treatment of child, may be deprived by the People’s Court of the right to keep, educate or repsent the child or to manage his or her property for a period from one to five years. The Court may reduce this period depending on changes in the attitude of the parents.

The father or mother mentioned above shall be bound to contribute towards supporting or educating the child.

Grandparents shall be bound to support and educate under-age grandchildren if they become orphans. Vice versa, grandchildren who have grown-up shall have a duty to support their grandparents, if the latter have no surviving children. Brothers and sisters whose parents have died shall be obliged to assist one another.

A child born or conceived in lawful wedlock shall be the common child of a couple. Where a request has been made for determination of parenthood, other evidence shall be produced.

The person regarded as the father or mother of a child may make a request for determination that the child is not his or hers.

A person not declared to be the father or mother of a child may make a request for determination that the child is his or hers.

Recognition of a child born out of wedlock shall be attested and recorded in the Birth Register by the People’s Committee of the commune, city ward or town where the child resides.

A child born out of wedlock may ask to be recognised as somebody’s child, even when such person has already died.

The mother, father, or foster-parents may request the determination of parentage of a child born out of wedlock, if the child is still under age.

The People’s Prosecution Office, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions may request the determination of parentage of a child born out of wedlock who is still under age.

A child born out of wedlock who has been recognised by his father or mother or by the People’s Court shall have the same rights and duties as a child born in lawful wedlock.

All disputes related to recognition of a child, or of the father or mother shall be settled by the People’s Court at the child’s place of residence.

Adoption of a child shall be for the purpose of maintaining paternal and filial ties between the adopting and adopted persons, in which the adolescent child is ensured of good care and education.

The rights and duties of an adopting person and adopted child shall be the same as those of parents and children defined in Articles 19 to 25 of this Law.

Only persons of 15 years old or under may be adopted. A person over 15 years of age maybe adopted where he or she is an invalid soldier or a disabled person, or if the adopting person is old and lonely.

The adopting person shall be at least twenty years older than the adopted child.

Adoption of a child shall require the agreement of the prospective parents, and of both parents or foster-parents of the adopted. If the adopted child is 9 years old or over, his own consent shall also be required.

Adoption of a child shall be recognised and recorded in the Family Register by the People’s Committee of the commune, city ward or town where adopting or adopted person resides.

The State and society shall encourage the adoption of orphans.

The rights enjoyed by a child as an orphan of a soldier shall be respected after his adoption.

The adoption of a child may be annulled, if the adopting or the adopted person, or both, committed serious offences against each other’s dignity, or other acts which have ended the affection binding the adopting and adopted persons.

The annulment of an adoption shall be decided by the People’s Court at the request of the adopting or adopted person. Where the adopted child is still under age, the parents or foster-parents of the child, the People’s Court, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions may request the annulment of such adoption.

When a spouse or both of them apply for a porce, the People’s Court shall investigate and seek the reconciliation of the couple.

When both husband and wife want a porce and cannot be reconciled, the People’s Court, after securing evidence that both parties are acting of their own free will, shall grant a porce. When only the husband or wife asks for porce, and reconciliation attempts have failed, the matter will be brought to the People’s Court. If it is found that the situation is serious, that the couple can no longer live together and the purpose of marriage cannot be achieved, the People’s Court shall grant a porce.

When the wife is pgnant, the husband may sue for porce only one year after the birth of the child.

This provision shall not apply to the wife’s request for porce.

When porced, the couple’s property is pided according to an agreement between the two parties, which is to be recognised by the People’s Court. If the two parties cannot come to an agreement, the People’s Court will decide.

The pision of property of the porcees shall be in accordance with the following:

a- Personal property shall be kept by the owner;

b- Common property of the couple shall be into two parts, taking into consideration the situation of the property, the specific situation of the family and contributions by each party;

c- Where a couple is still living with the whole family and their own property cannot be determined, the husband or wife shall receive part of the family property, in proportion to his or her contributions to the pservation and enlargement of the common property and to the family’s livelihood. Work in the family is regarded as production work;

d- The rights of the wife and under-age children, and production and professional interests shall be protected in the pision of property.

When porced, if either party is needy and asks for support, the other party shall give support according to his or her abilities.

The amount and duration of support shall be agreed by the two parties. If no agreement can be reached, the People’s Court shall decide.

Where circumstances change, a person who receives or gives support may ask for a change in the amount or duration of support. If the person receiving the support marries another person, the support shall be stopped.

The porcees shall have rights and duties vis-à-vis their common children.

In consigning the couple’s child or children to the care of either of the porcees for guardianship, the children’s interests in every aspect shall be taken into account. In principle, nursing infants shall be consigned to the care of their mothers.

The person who becomes guardian of the children shall have the right and duty to care for them and contribute towards the cost of their support and education. If he or she delays or evades the contributions, the People’s Court may order a deduction from his or her income, or order him or her to make the contributions.

Changes may be made in the interests of the children, if necessary, in guardianship or in contributions towards the cost of their support and education.

The purpose of guardianship to ensure the care, education and guarantee of the interests of an under-age child whose parents have died or are still living but unable to carry out their duties.

Parents may choose a person as a guardian for their own under-age child. If they cannot do so, relatives may choose a foster parent.

The choice of foster parent shall be recognised by the People’s Committee of the commune, city ward or town.

Where the choice of foster parent for an under-age child cannot be made by the parents or relatives, it shall be made by a responsible government authority or social organisations.

A citizen who becomes a foster parent shall be least 21 years old, and have good behaviour and the practical pconditions for fulfilling his responsibilities.

The citizen or organisation becoming a foster parent shall have the following rights and duties:

a- To care for and bring up the foster child;

b- To manage the property of the foster child;

c- To repsent the foster child before the law and defend his interests.

The guardian or foster parents shall be under the supervision of the People’s Committee of the commune, city ward or town.

Relatives of foster child, the People’s Prosecution Office, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions, may ask the People’s Committee of the commune, city ward or town to replace foster parents who do not fulfil responsibilities or do serious damage to the interests of the foster child.

Guardianship shall end where the foster child is returned to his or her original parents, is adopted by another person, or reaches the age of 18.

In marriage between a Vietnamese citizen and a foreigner, each party shall comply with the provisions of the marriage law of his or her country.

When marriage between a Vietnamese citizen and foreigner takes place in Vietnam, the foreigner shall also comply with the provisions of Article 5, 6 and 7. Marriage procedures shall be determined by the Council of Ministers.

Matters regarding relations between the husband and wife, property, parenthood, annulment of marriage, porce, child adoption and guardianship between a Vietnamese citizen and a foreigner shall be regulated by Council of State Decrees.

Where there is an Agreement on legal assistance regarding marriage and family between Vietnam and the other country, the provisions of that Agreement shall be applied.

With regard to minority ethnic groups, the Council of State on the basis of this Law, and taking into account the specific conditions, shall issue appropriate regulations.

The Council of Ministers, the People’s Supme Court, and the Head of the People’s Supme Prosecution Office shall have the responsibility, within the scope of their respective competence, to issue instructions on the implementation of this Law.

The Vietnam Fatherland Front, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions shall contribute to strict implementation of this Law.

This Law replaces the 1959 Marriage and Family Law.

FOR THE NATIONAL ASSEMBLY

CHAIRMAN

Nong Duc Manh

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên chúng tôi bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

【#6】Quy Định Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng

-Đứng vềphía cán bộmà nói, tham ô là: Ăn c ắp c ủa công làm của tư Đụckhoétcủa nhân dân Ănbớt củabộ đ ội. -Đứng vềphía nhân dân mà nói, tham ô là:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1LuậtPhòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 – viết tắt Luật PCTN):”

quy định tại khoản 1 Điều 2Luật PCTN:” pháp luật hiện tại định nghĩa tài sản tham nhũng phải là tài sản của người Thứ hai, Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng”. Theo quy định này, để kết luận tài sản của một người nào đó có được do tham nhũng thì phải chứng minh được rằng người đó đã có hành vi tham nhũng. Hay nói cách khác, Chính từ quy định bất cập này nên muốn thu hồi tài sản thì trước hết phải xác định được người đó có hành vi tham nhũng không? V ề lý thuyết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS), để hoàn thành một qui trình từ khi điều tra, truy tố đến lúc xét xử sơ thẩm vụ án phải mất từ 363 ngày đến 1.008 ngày tùy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, với chừng ấy thời gian đến khi bản án có hiệu lực pháp luật thì mọi chuyện đã quá muộn, tài sản tham nhũng đã bị tẩu tán, nhiều tài sản do đối tượng chiếm đoạt đã được chuyển hóa thành tài sản của người thân và chuyển dịch ra nước ngoài. Khi phát hiện ra dấu hiệu của đối tượng tham nhũng, Cơ quan điều tra tiến hành khởi tố, bắt tạm giam thì tài sản đã được tẩu tán trước đó không thể thu hồi được, đến khâu thi hành án đã bị kết án về hành vi tham nhũng. Nhưng từ khi phát hiện đến tiến hành các hoạt động điều tra vụ án tham nhũng là một quá trình dài và trong thời gian đó, nghi can cũng như người thân của họ đã kịp tẩu tán tài sản. Việc tẩu tán lại vô cùng dễ dàng khi mà Nhà nước chưa thể kiểm soát được tài sản, thu nhập của toàn xã hội. bị cáo, bị án trở thành kẻ trắng tay! Chẳng hạn, Dương Chí Dũng – cựu Cục trưởng cục Hàng hải Việt Nam. Thiệt hại được xác định trong vụ án gần 367 tỉ đồng. Theo bản án phúc thẩm, các bị cáo Dương Chí Dũng, Mai Văn Phúc mỗi người phải nộp khoản tiền đền bù thiệt hại là 110 tỉ đồng. Trước đó, Cơ quan điều tra có kê biên 3 ngôi nhà của bị cáo Dũng ở thành phố Hà Nội, còn Mai Văn Phúc bị kê biên ngôi nhà ở đường Lê Quý Đôn (TP.Hạ Long, Quảng Ninh). Như vậy, số tài sản thu hồi của Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc là quá nhỏ so với số tiền mỗi người phải thi hành án là 110 tỉ đồng. Trường hợp khác, vụ án tham nhũng tại Công ty Cho thuê tài chính II, Vũ Quốc Hảo – nguyên Tổng Giám đốc công ty Cho thuê tài chính II bị tuyên án tử hình. Tổng giá trị thiệt hại do hành vi phạm tội của Vũ Quốc Hảo và 10 đồng phạm gây ra trong vụ án này là 531,8 tỉ đồng, trong đó tham ô 79,9 tỉ đồng, lừa đảo 60,9 tỉ đồng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại 3,9 tỉ đồng. Dù thiệt hại vô cùng lớn nhưng Cơ quan điều tra chỉ mới thu hồi 5,8 tỉ đồng cùng 4 căn nhà và 1 thửa đất. Điều đó cho thấy, cái yếu trong thu hồi TSTN là do quy định của pháp luật hiện hành lĩnh vực phòng, chống tham nhũng chưa phù hợp, phạm vi điều chỉnh còn quá hẹp ” Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham nhũng. Theo kinh nghiệm của Singapo, quy định trong

Thứ ba, theo quy định về các tội phạm về tham nhũng (Từ Điều 278 đến Điều 284, Mục A Chương XXI BLHS), như vậy, để có cơ sở quy kết trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi tham nhũng thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đối tượng phạm tội có mục đích vụ lợi, mà để chứng minh được yếu tố vụ lợi thì lại quá khó nên thực tế phát hiện, xét xử án tham nhũng không nhiều, do vậy chỉ dừng lại điều tra, truy tố và xét xử về tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại Điều 165 BLHS. Đây cũng là bất cập. Nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, chẳng một ai dại dột gì lại thực hiện hành vi cố ý làm trái… để người khác hưởng lợi, còn mình thì bị coi là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài xử lý của pháp luật hình sự! Chẳng hạn, mỗi chiếc điện kế điện tử có giá trên thị trường 200.000 đồng/chiếc, nhưng lại bỏ tiền mua với giá 400.000 đồng/chiếc; Trường hợp khác, một chiếc ụ nổi có giá 1.000.000 USD nhưng lại ký kết hợp đồng với bên bán với giá mua 9.000.000 USD thì chắc chắn rằng không một ai tin rằng người đi mua ngớ ngẩn đến mức độ như thế, để rồi người khác hưởng lợi, bản thân người cố ý làm trái đó không hưởng lợi? Hành vi này theo quy định pháp luật của một số nước trong khu vực của ta, như Thái Lan, Singapo đều coi đương nhiên là tham nhũng, mà cơ quan chức năng không phải chứng minh có hay không mục đích vụ lợi. Có lẽ, đây là kẽ hở của pháp luật về lĩnh vực này, cũng cần nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp với tình hình thì mới nâng cao được hiệu quả trong phát hiện và xử lý tham nhũng.

Thứ tư, về kê khai tài sản thu nhập theo quy định tại Điều 45 Luật PCTN:

“Các loại tài sản phải kê khai bao gồm: 1. Nhà, quyền sử dụng đất; 2. Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên; 3. Tài sản, tài khoản ở nước ngoài; 4. Thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật.”

Hàng năm, tất cả các đối tượng phải nghiêm túc tiến hành kê khai tài sản theo quy định tại Điều 44 Luật PCTN, đây là cơ sở để cơ quan, tổ chức và người dân giám sát tài sản của đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của Luật PCTN. Nghĩa là, Nhà nước thực hiện quyền kiểm soát, nhằm minh bạch hóa tài sản, thu nhập của đối tượng bằng hình thức kê khai, nhưng thực tế không hiệu quả mấy cho việc ngăn chặn, phát hiện tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng. Nên vấn đề quan trọng là phải xây dựng được cơ chế để kiểm soát được tài sản, thu nhập của toàn xã hội. Khi đó đối tượng tham nhũng nếu chuyển tài sản đi đâu, cho ai thì cơ quan có trách nhiệm đều biết. Thực tế từ các vụ án tham nhũng lớn xảy ra trong thời gian qua, có ý kiến cho rằng, nên mở rộng đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản thì mới góp phần hạn chế và ngăn chặn được tình trạng đối tượng tham nhũng tẩu tán tài sản cho người thân, như: Bố, mẹ, con cái thành niên – những người vốn không nằm trong diện phải kê khai theo quy định tại Điều 44 Luật PCTN và Điều 7 Nghị định 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập. Theo quan điểm của người viết, tuy thực tế trên là có nhưng suy cho cùng việc mở rộng đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản, kiểm soát thu nhập như trên không phải là giải pháp tối ưu, nên sẽ không mấy hiệu quả. Bởi đối tượng phạm tội tham nhũng biết rất rõ những quy định cấm của pháp luật, nên một khi có ý định tẩu tán tài sản thì đâu nhất thiết cứ phải chuyển cho Bố, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc đã thành niên, mà bằng nhiều cách họ có thể chuyển cho những đối tượng “thân cận” của mình. Hơn nữa, nếu càng mở rộng đối tượng kê khai tài sản lại càng khó khăn cho việc xác minh tài sản khi cần thiết, mà về lâu dài cần phải tính đến việc Nhà nước kiểm soát được thu nhập của toàn xã hội, bằng việc ban hành Luật Đăng ký tài sản, có như vậy mới thật sự có hiệu quả kiểm soát tài sản phát sinh đáng ngờ do tham nhũng.

Thứ năm, ở nước ta thời gian qua tuycác cơ quan chức năngchưa được phát hiện nhưng không phải là không có tình trạng hối lộ phi vật chất (tình dục, thông tin về dự án, quy hoạch,…). Đây là vấn đề cần phải quan tâm. Thực tiễn cuộc sống vốn rất phong phú và đa dạng cho nên hành vi hối lộ, tham nhũng phi vật chất ngày nay rất đa dạng và có khi lợi ích đem lại còn lớn rất nhiều so với hối lộ vật chất. Chẳng hạn, như hối lộ thông tin về dự án, về quy hoạch. Nhờ được hối lộ thông tin mà các đối tượng biết được giá đất trên thị trường sẽ biến động theo chiếu hướng nào; hoặc có trường hợp bỏ ra hàng trăm nghìn, hàng triệu đô la mua vé sang tận Braxin xem các trận đá bóng World cup để tặng cho cán bộ; hối lộ về tình dục, hối lộ cho quan chức đi nước ngoài tham quan, nghỉ mát… Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay qua nghiên cứu thấy rằng các tội phạm tham nhũng quy định trong BLHS, mà theo đó, yếu tố vụ lợi được hiểu là những lợi ích về vật chất, chứ không phải bao gồm cả lợi ích về tinh thần. Do vậy, cũng cần tính tháo gỡ vướng mắc này để có cơ chế xử lý phù hợp hơn.

Từ thực tiễn trên, người viết đề xuất mấy kiến nghị sau:

Một là,

từ phân tích trên cho thấy cần thiết phải định nghĩa lại tài sản tham nhũng, mà theo đó, “Tài sản tham nhũng có nguồn gốc từ tham nhũng”, bỏ cụm từ”Hai là, từ hành vi “. Mở rộng khái niệm thu hồi TSTN như các nước đang thực hiện là hết sức cần thiết. Có mở rộng khái niệm thì mới có cơ chế để các cơ quan chức năng ngăn chặn việc tẩu tán TSTN ngay từ khi có dấu hiệu tham nhũng. Theo đó cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra có quyền đề nghị các cơ quan chức năng niêm phong, kê biên, phong tỏa tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng ngay từ đầu, chứ không nhất thiết phải đợi đến khi có bản án của Tòa án

Ba là, t ham khảo kinh nghiệm của Singapo trong xây dựng Luật Chống tham nhũng. Mà theo đó, t h

-Trong sửa đổi Luật PCTN sắp tới, vấn đề tham nhũng phi vật chất, như vấn đề hối lộ tình dục, hối lộ thông tin dự án,…cần được kịp thời bổ sung vào một cụ thể hơn và cần phải quy định rõ hơn cả trong Luật PCTN và BLHS, đó là yếu tố vụ lợi là lợi ích vật chất và tinh thần, nếu có được sự nhất quán với nhau như thế sẽ tạo ra cơ chế xử lý thuận lợi hơn, chứ không phải như quy định trong BLHS hiện hành cứ “vụ lợi” phải là vật chất, tính ra tiền hết nên việc xử lý là khó khăn.

Bốn là , để chống tham nhũng có hiệu quả Nhà nước có cơ chế để kiểm soát tài sản, thu nhập toàn xã hội thông qua các công cụ quản lý, nhất là thuế. Tiến tới mọi khoản chi giá trị lớn, sự hình thành tài sản có giá trị của bất kỳ ai trong xã hội cũng phải được giải thích rõ nguồn gốc. Cần thiết phải xây dựng Luật Đăng ký tài sản, tạo thuận lợi, minh bạch để bất cứ tài sản nào có đăng ký cũng được tham gia thị trường một cách dễ dàng, an toàn. Mặt khác, qua đó Nhà nước kiểm soát được sự biến động, nguồn gốc tài sản, phòng ngừa tẩu tán tài sản, rửa tiền từ hoạt động tội phạm trong đó có tham nhũng, hỗ trợ cho việc thu hồi tài sản tham nhũng.

Năm là, Th.S Lê Văn Sua

【#7】Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014

Số: 52/2014/QH13

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật hôn nhân và gia đình.

Chương I

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

2. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.

4. Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng.

5. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

6. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

7. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

8. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này.

9. Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

10. Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

11. Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.

12. Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ.

13. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.

14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

15. Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

16. Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

17. Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.

18. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

19. Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.

20. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.

21. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.

22. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

23. Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

24. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.

1. Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.

2. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình. Các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình theo sự phân công của Chính phủ. Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan khác thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hóa; kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên gia đình. Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ.

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Điều 7. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình

1. Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng.

2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.

Chương II

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

Điều 10. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:

a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Điều 11. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

1. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

4. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 12. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước.

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Chương III

Mục 1: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ NHÂN THÂN

Điều 17. Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng

Điều 18. Bảo vệ quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng

Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Điều 20. Lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng

Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.

Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng

Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.

Điều 22. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng

Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.

Điều 23. Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Mục 2: ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

Điều 25. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh

2. Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Mục 3: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

Điều 28. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.

2. Các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.

3. Chính phủ quy định chi tiết về chế độ tài sản của vợ chồng.

Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

2. Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

3. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.

Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Điều 36. Tài sản chung được đưa vào kinh doanh

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 39. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Điều 41. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật này.

2. Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật này. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.

Điều 42. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.

Điều 49. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản.

2. Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận được áp dụng theo quy định tại Điều 47 của Luật này.

Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này.

Chương IV

Mục 1: LY HÔN

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 52. Khuyến khích hòa giải ở cơ sở

Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này.

Điều 63. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn

Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Mục 2: HÔN NHÂN CHẤM DỨT DO VỢ, CHỒNG CHẾT HOẶC BỊ TÒA ÁN TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT

Điều 65. Thời điểm chấm dứt hôn nhân

Hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.

Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.

Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Điều 67. Quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về

1. Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

2. Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:

a) Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;

b) Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Chương V

Mục 1: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ GIỮA CHA MẸ VÀ CON

Điều 68. Bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con

1. Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

3. Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc.

Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

4. Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình.

5. Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.

Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Điều 72. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.

3. Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.

Điều 73. Đại diện cho con

1. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.

2. Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 74. Bồi thường thiệt hại do con gây ra

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 75. Quyền có tài sản riêng của con

1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.

2. Con từ đủ 15 tuổi trở lên sống chung với cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nếu có thu nhập.

3. Con đã thành niên có nghĩa vụ đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của Luật này.

Điều 76. Quản lý tài sản riêng của con

1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.

3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 77. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.

3. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.

Điều 78. Quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi

1. Cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

Trong trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Tòa án thì quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha đẻ, mẹ đẻ và con đã làm con nuôi của người khác được thực hiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

3. Quyền, nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt. Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ không còn hoặc không có đủ điều kiện để nuôi con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi và chỉ định người giám hộ cho con theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 79. Quyền, nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng

1. Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật này.

2. Con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Luật này.

Điều 80. Quyền, nghĩa vụ của con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng

Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật này.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Điều 87. Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

1. Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

2. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây:

a) Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;

b) Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;

c) Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

3. Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Mục 2: XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Điều 89. Xác định con

1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Điều 90. Quyền nhận cha, mẹ

1. Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

2. Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha.

Điều 91. Quyền nhận con

1. Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.

2. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.

Trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

Điều 93. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.

2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.

3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.

4. Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật này.

Điều 94. Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.

Điều 95. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng đang không có con chung;

c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

4. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 96. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ (sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ) và vợ chồng người mang thai hộ (sau đây gọi là bên mang thai hộ) phải có các nội dung cơ bản sau đây:

b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật này;

d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

2. Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.

Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

Điều 97. Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

2. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

3. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

4. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

5. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

Điều 98. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

2. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

5. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

1. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.

2. Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật dân sự.

Điều 100. Xử lý hành vi vi phạm về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ

Các bên trong quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vi phạm điều kiện, quyền, nghĩa vụ được quy định tại Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự.

Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Điều 102. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

1. Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này.

2. Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này:

a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Chương VI

Điều 103. Quyền, nghĩa vụ giữa các thành viên khác của gia đình

2. Trong trường hợp sống chung thì các thành viên gia đình có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động tạo thu nhập; đóng góp công sức, tiền hoặc tài sản khác để duy trì đời sống chung của gia đình phù hợp với khả năng thực tế của mình.

3. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong xã hội cùng tham gia vào việc giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

Điều 104. Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

2. Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Điều 105. Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em

Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Điều 106. Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con và những người được quy định tại Điều 104 và Điều 105 của Luật này hoặc còn nhưng những người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Chương VII

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 109. Nhiều người cùng cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người

Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người thì những người này thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 112. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em

Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 113. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật này.

2. Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 114. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

1. Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

2. Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 118. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;

2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;

4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;

6. Trường hợp khác theo quy định của luật.

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Điều 120. Khuyến khích việc trợ giúp của tổ chức, cá nhân

Nhà nước và xã hội khuyến khích tổ chức, cá nhân trợ giúp bằng tiền hoặc tài sản khác cho gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, túng thiếu.

Chương VIII

Điều 121. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế.

4. Chính phủ quy định chi tiết việc giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và bảo đảm thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Điều 122. Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

2. Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật này.

Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng.

2. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Điều 125. Công nhận, ghi chú bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về hôn nhân và gia đình

1. Việc công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài có yêu cầu thi hành tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Chính phủ quy định việc ghi vào sổ hộ tịch các việc về hôn nhân và gia đình theo bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam hoặc không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam; quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài.

Điều 126. Kết hôn có yếu tố nước ngoài

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

2. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Điều 128. Xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89, Điều 90, khoản 1, khoản 5 Điều 97, khoản 3, khoản 5 Điều 98 và Điều 99 của Luật này; các trường hợp khác có tranh chấp.

Điều 129. Nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng tuân theo pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú. Trường hợp người yêu cầu cấp dưỡng không có nơi cư trú tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng là công dân.

2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu cấp dưỡng của người quy định tại khoản 1 Điều này là cơ quan của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú.

Chương IX

Điều 131. Điều khoản chuyển tiếp

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.

2. Đối với vụ việc về hôn nhân và gia đình do Tòa án thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa giải quyết thì áp dụng thủ tục theo quy định của Luật này.

3. Không áp dụng Luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình trước ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 132. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 133. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.

Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014.

No. 52/2014/QH13

Hanoi, June 26, 2014

ON MARRIAGE AND FAMILY

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam; The National Assembly promulgates the Law on Marriage and Family.

Chapter I

Article 1. Scope of regulation

This Law pscribes the marriage and family regime, legal standards for conduct by family members; responsibilities of inpiduals, organizations, the State and society in the building and consolidation of the marriage and family regime.

Article 2. Fundamental principles of the marriage and family regime

1. Voluntary, progressive and monogamous marriage in which husband and wife are equal.

2. Marriage between Vietnamese citizens of different nationalities or religions, between religious and non-religious people, between people with beliefs and people without beliefs, and between Vietnamese citizens and foreigners shall be respected and protected by law.

3. To build prosperous, progressive and happy families; family members have the obligation to respect, attend to, care for, and assist one another; to treat children without discrimination.

4. The State and society and families shall protect and support children, elderly people and persons with disabilities in exercising marriage and family rights; assist mothers in properly fulfilling their lofty motherhood functions; and implement family planning.

5. To perpetuate and promote the Vietnamese nation’s fine cultural traditions and ethics on marriage and family.

Article 3. Interptation of terms

In this Law, the terms below are construed as follows:

1. Marriage means the relation between husband and wife after they get married.

2. Family means a group of persons closely bound together by marriage, blood ties or raising relations, thus giving rise to obligations and rights among them as pscribed in this Law.

3. Marriage and family regime means all provisions of law on marriage, porce; rights and obligations between husband and wife, parents and children, and among other family members; support; identification of parents and children; marriage and family relations involving foreign elements and other matters related to marriage and family.

4. Marriage and family practices means rules of conduct with clear contents on rights and obligations of parties in marriage and family relations, which are repetitive over a long period of time and widely accepted in an area, a region or a community.

5. Getting married means a man and a woman’s establishment of the husband and wife relation according to the provisions of this Law on marriage conditions and registration.

6. Illegally marriage means a man and a woman’s marriage already registered at a competent state agency in which either or both of them violate(s) the marriage conditions pscribed in Article 8 of this Law.

7. Cohabitation as husband and wife means a man and a woman’s organization of their living together and consideration of themselves as husband and wife.

8. Underage marriage means getting married when one or both partners has or have not reached the marriage age pscribed at Point a, Clause 1, Article 8 of this Law.

9. Forcing marriage or porce means threatening, intimidating spiritually, maltreating, ill-treating, demanding property or another act to force a person to get married or to porce against his/her will.

10. Obstructing marriage or porce means threatening, intimidating spiritually, maltreating, ill-treating, demanding property or another act to obstruct the marriage of a person eligible to get married under this Law or to force a person to maintain the marriage relation against his/her will.

11. Sham marriage means making use of a marriage for the purpose of immigration, residence or naturalization in Vietnam or a foreign country; for enjoying pferential regimes of the State or for another purpose other than that of building a family.

12. Demanding property in marriage means making excessive material demand and considering it a marriage condition in order to obstruct a voluntary marriage between a man and a woman.

13. Marriage period means the duration of existence of the husband and wife relation, counting from the date of marriage registration to the date of marriage termination.

14. Divorce means termination of the husband and wife relation under a court’s legally effective judgment or decision.

15. Sham porce means making use of a porce to shirk property obligations or violate the policy and law on population or for another purpose other than that of terminating a marriage.

16. Family members include husband, wife; natural parent, adoptive parent, stepfather, stepmother, parent-in-law; natural child, adopted child, stepchild, child-in-law; full sibling, paternal half-sibling, maternal half-sibling, brother- or sister-in law of full sibling, paternal half-sibling or maternal half-sibling; paternal grandparent, maternal grandparent; paternal grandchild, maternal grandchild; blood paternal aunt, maternal aunt, paternal uncle, maternal uncle, niece and nephew.

17. People of the same direct blood line are those in the consanguineous relationship in which a person gives birth to another in a successive order.

18. Relatives within three generations are people born of the same stock with parents constituting the first generation; full siblings, paternal half-siblings and maternal half-siblings constituting the second generation; and children of paternal aunts, maternal aunts, paternal uncles, maternal uncles constituting the third generation.

19. Next of kin include people with marriage relation or raising relation, people of the same direct blood line and relatives within three generations.

20. Essential needs means ordinary needs for food, clothing, accommodation, learning, medical care and other ordinary needs which are indispensable in the life of each person and family.

21. Giving birth with assisted reproductive technology means giving birth through artificial insemination or in vitro fertilization.

22. Altruistic gestational surrogacy means a pgnancy carried voluntarily for non-commercial purpose by a woman for a couple of whom the wife is unable to carry a pgnancy and give birth even if assisted reproductive technology is applied. The voluntary gestational carrier is impgnated and gives birth through the transfer into her uterus of an embryo created by in vitro fertilization from the ovule of the wife and sperm of the husband.

23. Commercial gestational surrogacy means a pgnancy carried by a woman for another person through assisted reproductive technology for enjoying economic or other benefits.

24. Support means an act whereby a person has the obligation to contribute money or other kinds of property to meet the essential needs of another person who does not live together with but has marriage, blood or raising relation with the former and is a minor or an adult who has no working capacity and no property to support himself/herself, or meets with financial difficulties as pscribed by this Law.

25. Marriage and family relation involving foreign elements means the marriage and family relation in which at least one partner is a foreigner or an overseas Vietnamese or in which partners are Vietnamese citizens but the bases for establishing, changing or terminating that relation are governed by a foreign law, or that relation arises abroad or the property related to that relation is located abroad.

Article 4. The State’s and society’s responsibilities for marriage and family

1. The State shall adopt policies and measures to protect marriage and family and create conditions for males and females to establish voluntary, progressive, monogamous marriage in which husband and wife are equal; build prosperous, progressive and happy families fulfilling all of their functions; intensify the dissemination and popularization of and education about the law on marriage and family; and mobilize people to abolish backward marriage and family customs and practices and promote fine traditions, customs and practices embodying the identity of each nationality.

2. The Government shall perform the unified state management of marriage and family. Ministries and ministerial-level agencies shall perform the state management of marriage and family as assigned by the Government. People’s Committees at all levels and other agencies shall perform the state management of marriage and family in accordance with law.

3. Agencies and organizations shall educate and mobilize their cadres, civil servants, public employees, laborers and members as well as every citizen to build cultured families; promptly conciliate family discords and protect the lawful rights and interests of family members. Schools shall coordinate with families in educating about, disseminating and popularizing the marriage and family law among young generations.

Article 5. Protection of the marriage and family regime

1. Marriage and family relations established and implemented in accordance with this Law shall be respected and protected by law.

2. The following acts are prohibited:

a/ Sham marriage or sham porce;

b/ Underage marriage, forcing a person into marriage, deceiving a person into marriage, obstructing marriage;

c/ A married person getting married to or cohabitating as husband and wife with another person, or an unmarried person getting married to or cohabitating as husband and wife with a married person;

d/ Getting married or cohabitating as husband and wife between people of the same direct blood line; relatives within three generations; adoptive parent and adopted child; or former adoptive parent and adopted child, father-in-law and daughter-in-law, mother-in-law and son-in-law, or stepparent and stepchild;

dd/ Demanding property in marriage;

e/ Forcing a person into porce; deceiving a person into porce; obstructing porce;

g/ Giving birth with assisted reproductive technology for commercial purpose, commercial gestational surrogacy, pnatal sex selection, cloning;

h/ Domestic violence;

2. All acts of violating the marriage and family law shall be handled strictly in accordance with law.

Agencies, organizations and inpiduals have the right to request a court or another competent agency to take measures to promptly stop and handle violators of the marriage and family law.

3. The honor, dignity, pstige, privacy and other privacy rights of parties shall be respected and protected in the course of settlement of marriage and family-related cases and matters.

Article 6. Application of the Civil Code and other relevant laws

For cases not pscribed by this Law, provisions of the Civil Code and other laws related to marriage and family relations may apply to marriage and family relations.

Article 7. Application of marriage and family practices

1. For cases not pscribed by law or not agreed by involved parties, fine practices which embody the identity of each nationality, are not contrary to the principles pscribed in Article 2 and do not involve prohibited acts pscribed in this Law may apply.

2. The Government shall detail Clause 1 of this Article.

Chapter II

Article 8. Conditions for getting married

1. A man and a woman wishing to marry each other must satisfy the following conditions:

a /The man is full 20 years or older, the woman is full 18 years or older;

b/ The marriage is voluntarily decided by the man and woman;

c/ The man and woman do not lose the civil act capacity;

d/ The marriage does not fall into one of the cases pscribed at Points a, b, c and d, Clause 2, Article 5 of this Law.

2. The State shall not recognize marriage between persons of the same sex.

Article 9. Marriage registration

1. A marriage shall be registered with a competent state agency in accordance with this Law and the law on civil status.

A marriage which is not registered under this Clause is legally invalid.

2. A porced couple who wish to re-establish their husband and wife relation shall register their re-marriage.

Article 10. Persons having the right to request annulment of illegal marriage

1. A person who is forced or deceived into a marriage has, as pscribed by the civil procedure law, the right to request by himself/herself, or propose a person or an organization pscribed in Clause 2 of this Article to request, a court to annul his/her illegal marriage due to violation of Point b, Clause 1, Article 8 of this Law.

2. The following persons, agencies and organizations have, as pscribed by the civil procedure law, the right to request a court to annul an illegal marriage due to violation of Point a, c or d, Clause 1, Article 8 of this Law;

a/ The spouse of a married person who gets married to another person; parent, child, guardian or another at-law repsentative of a person who gets married illegally;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

3. When detecting an illegal marriage, other persons, agencies or organizations have the right to propose an agency or organization pscribed at Point b, c, or d, Clause 2 of this Article to request a court to annul such marriage.

Article 11. Handling of illegal marriage

1. A court shall handle illegal marriage in accordance with this Law and the civil procedure law.

2. In case at the time of a court’s settlement of a request for annulment of an illegal marriage, both partners fully satisfy the marriage conditions pscribed in Article 8 of this Law and request recognition of their marriage relation, the court shall recognize that relation. In this case, the marriage relation shall be established from the time both partners fully satisfy the marriage conditions as pscribed by this Law.

3. A court’s decision annulling an illegal marriage or recognizing a marriage relation shall be sent to the agency having registered that marriage for recording in the civil status register; to the two partners of the illegal marriage; and to related persons, agencies and organizations as pscribed by the civil procedure law.

4. The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding this Article.

Article 12. Legal consequences of the annulment of illegal marriage

1. When an illegal marriage is annulled, the two partners of such marriage shall stop their husband and wife relation.

2. The rights and obligations of parents and children shall be settled according to provisions on rights and obligations of parents and children upon porce.

3. Property relations, obligations and contracts between the parties shall be settled according to Article 16 of this Law.

Article 13. Handling of ultra vires marriage registration

For a marriage which is registered ultra vires, a competent state agency shall, upon request, withdraw and cancel the marriage certificate in accordance with the civil status law and request two partners to re-register their marriage with a competent state agency. In this case, the marriage relation shall be established on the date of the pvious marriage registration.

Article 14. Settlement of consequences of men and women cohabiting as husband and wife without marriage registration

1. A man and woman eligible for getting married under this Law who cohabit as husband and wife without registering their marriage have no rights and obligations between husband and wife. Rights and obligations toward their children, property, obligations and contracts between the partners must comply with Articles 15 and 16 of this Law.

2. For a man and woman who cohabit as husband and wife under Clause 1 of this Article and later register their marriage in accordance with law, their marriage relation shall be established from the time of marriage registration.

Article 15. Rights and obligations of parents and children for men and women cohabiting as husband and wife without marriage registration

Rights and obligations between a man and woman cohabiting as husband and wife and their children must comply this Law’s provisions on rights and obligations of parents and children.

Article 16. Settlement of property relations and obligations and contracts between men and women cohabiting as husband and wife without marriage registration

1. Property relations, obligations and contracts between a man and woman cohabiting as husband and wife without marriage registration shall be settled under the partners’ agreement. In case there is no agreement, they shall be settled in accordance with the Civil Code and other relevant laws.

2. The settlement of property relations must ensure lawful rights and interests of women and children. Housework and other related work to maintain the cohabitation shall be regarded as income-generating labor.

Chapter III

Section 1. PERSONAL RIGHTS AND OBLIGATIONS

Article 17. Equality in rights and obligations between husband and wife

Husband and wife are equal, having equal rights and obligations in all family affairs and in the performance of citizens’ rights and obligations pscribed in the Constitution, this Law and relevant laws.

Article 18. Protection of personal rights and obligations of husband and wife

Personal rights and obligations of husband and wife pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws shall be respected and protected.

Article 19. Husband and wife attachment

1. Husband and wife have the obligations to love, be faithful to, respect, attend to, care for, and help each other and share family work.

2. Unless otherwise agreed by them or due to requirements of their occupations, work or study, or participation in political, economic, cultural or social activities or for another plausible reason, husband and wife have the obligation to live together.

Article 20. Selection of domicile of husband and wife

The domicile of husband and wife shall be selected as agreed by themselves without being bound by customs, practices or administrative boundaries.

Article 21. Respect for honor, dignity and pstige of husband and wife

Husband and wife have the obligation to respect, pserve and protect each other’s honor, dignity and pstige.

Article 22. Respect for the right to freedom of belief and religion of husband and wife

Husband and wife have the obligation to respect each other’s right to freedom of belief and religion.

Article 23. Rights and obligations to study, work and take part in political, economic, cultural and social activities

Husband and wife have the right and obligation to create conditions for each other to select professions; study and raise their educational levels and professional qualifications and skills; and take part in political, economic, cultural and social activities.

Section 2. REPRESENTATION BETWEEN HUSBAND AND WIFE

Article 24. Bases for determination of repsentation between husband and wife

1. The repsentation between husband and wife in establishing, making and terminating transactions shall be determined in accordance with this Law, the Civil Code and other relevant laws.

2. Husband and wife may authorize each other to establish, make or terminate transactions which, as pscribed by this Law, the Civil Code and other relevant laws, shall be agreed upon by both spouses.

3. A spouse may repsent the other when the latter loses his/her civil act capacity while the former is eligible to act as the guardian or when the latter has his/her civil act capacity restricted while the former is designated by a court to act as the at-law repsentative of his her spouse, unless the latter is required by law to perform by himself/herself related rights and obligations.

When a spouse loses his/her civil act capacity and the other requests a court to settle porce, the court shall designate another person to repsent the partner who has lost his/her civil act capacity for settlement of porce in accordance with the Civil Code’s provisions on guardianship.

Article 25. Repsentation between husband and wife in business relations

1. When husband and wife jointly run a business, unless otherwise agreed by the husband and wife before taking part in the business relation or otherwise pscribed by this Law and other relevant laws, the spouse directly involved in the business relation is the lawful repsentative of the other in that relation.

2. In case husband and wife put their common property into business activities, Article of this Law shall apply.

Article 26. Repsentation between husband and wife in case only one spouse is named in the ownership or use right certificate of common property

1. Repsentation between husband and wife in establishing, making and terminating transactions related to their common property with ownership or use right certificates on which only one spouse is named must comply with Articles 24 and 25 of this Law.

2. In case the spouse named in the property ownership or use right certificate establishes, makes and terminates on his/her own a transaction with a third party in contravention of this Law’s provisions on repsentation between husband and wife, that transaction is invalid, unless the interests of the third party in good faith are protected as pscribed by law.

Article 27. Joint liability of husband and wife

1. Husband and wife shall take joint liability for transactions pscribed in Clause 1, Article 30, which are made by either of them, or other transactions made in conformity with provisions on repsentation of Articles 24, 25 and 26, of this Law.

2. Husband and wife shall take joint liability for the obligations pscribed in Article of this Law.

Section 3. MATRIMONIAL PROPERTY REGIME

1. Husband and wife have the right to choose to apply the statutory or agreed property regime.

The statutory matrimonial property regime is pscribed in Articles 33 thru 46 and Articles 59 thru 64 of this Law.

The agreed matrimonial property regime must comply with Articles 47, 48, 49, 50 and 59 of this Law.

2. Articles 29, 30, 31 and 32 of this Law shall apply regardless of the property regime chosen by husband and wife.

3. The Government shall stipulate in detail the matrimonial property regime.

1. Husband and wife have equal rights and obligations in the creation, possession, use and disposition of their common property without discrimination between housework labor and income-generating labor.

2. Husband and wife have the obligation to ensure conditions for meeting their family’s essential needs.

3. When the performance of property rights and obligations of husband and wife infringes upon lawful rights and interests of the wife, husband, their family or other persons, compensation shall be paid.

Article 30. Rights and obligations of husband and wife to meet their family’s essential needs

1. Husband and wife have the right and obligation to make transactions to meet their family’s essential needs.

2. When husband and wife have no common property or their common property is not enough to meet their family’s essential needs, they shall contribute their separate property according to their financial capacity.

The establishment, making and termination of transactions related to the home being the sole domicile of husband and wife shall be agreed by both of them. In case the home is under the separate ownership of the husband or wife, the owner has the right to establish, make and terminate transactions related to that property but shall ensure domicile for the couple.

1. In transactions with third parties in good faith, the spouse who is the holder of the bank or securities account shall be regarded as the person having the right to establish and make transactions related to that property.

2. In transactions with third parties in good faith, the spouse who is possessing a movable asset which is not required by law to be registered for ownership shall be regarded as the person having the right to establish and make transactions related to that asset in case the Civil Code pscribes protection of third parties in good faith.

1. Common property of husband and wife includes property created by a spouse, incomes generated from labor, production and business activities, yields and profits arising from separate property and other lawful incomes in the marriage period; except the case pscribed in Clause 1, Article 40 of this Law; property jointly inherited by or given to both, and other property agreed upon by husband and wife as common property.

The land use rights obtained by a spouse after marriage shall be common property of husband and wife, unless they are separately inherited by, or given to a spouse or are obtained through transactions made with separate property.

2. Common property of husband and wife shall be under integrated common ownership and used to meet family needs and perform common obligations of husband and wife.

3. When exists no ground to prove that a property in dispute between husband and wife is his/her separate property, such property shall be regarded as common property.

Article 34. Registration of ownership and use rights for common property

1. For a common property which is required by law to be registered for ownership or use, both spouses shall be named in the ownership or use right certificate, unless otherwise agreed by the couple.

2. In case only one spouse is named in the property ownership or use right certificate, transactions related to such property must comply with Article 26 of this Law. Any dispute related to that property shall be settled under Clause 3, Article 33 of this Law.

Article 35. Possession, use and disposition of common property

1. The possession, use and disposition of common property shall be agreed by husband and wife.

2. The disposition of the following common property shall be agreed in writing by husband and wife:

a/ Real estate;

b/ Movable assets which are required by law to be registered for ownership;

c/ Assets which are the major income-generating source for the family.

When husband and wife reach agreement on either spouse’s use of common property for business activities, this spouse has the right to make transactions related to that common property on his/her own. This agreement shall be made in writing.

Husband and wife have the following common property obligations:

1. Obligations arising from transactions established under their agreement, obligations to pay damages under their joint liability as pscribed by law;

2. Obligations performed by a spouse in order to meet the family’s essential needs;

3. Obligations arising from the possession, use and disposition of common property;

4. Obligations arising from the use of separate property for maintaining and developing common property or for generating major incomes for the family;

5. Obligations to pay damages caused by their children as pscribed by the Civil Code;

6. Other obligations as pscribed by relevant laws.

Article 38. Common property pision during the marriage period

1. During the marriage period, except the case pscribed in Article 42 of this Law, husband and wife have the right to reach agreement on pision of part or whole of common property. If they fail to reach agreement, they have the right to request a court to settle it.

2. An agreement on common property pision shall be made in writing. This agreement shall be notarized at the request of husband and wife or as pscribed by law.

3. At the request of a spouse, a court shall settle the common property pision according to Article 59 of this Law.

1. The effective time of a common property pision shall be agreed by husband and wife and stated in the written agreement. If such time is not stated in the written agreement, it is the date of making the agreement.

For pided property whose transactions must be under a certain form as pscribed by law, the common property pision takes effect on the time the pision agreement complies with the form pscribed by law.

For common property pided by a court, the pision takes effect on the legally effective date of the court’s judgment or decision.

Property rights and obligations between husband and wife and a third party which arise before the effective time of common property pision remain legally effective, unless otherwise agreed by involved parties.

When common property of husband and wife is pided, unless otherwise agreed by husband and wife, pided property and yields or profits arising from separate property of each spouse after common property pision are separate property of each spouse. The unpided property portion remains common property of husband and wife.

The agreement between husband and wife pscribed in Clause 1 of this Article shall not change property rights and obligations pviously established between them and a third party.

1. After common property is pided during the marriage period, husband and wife have the right to agree to terminate the effect of such pision. The form of agreement must comply with Clause 2, Article 38 of this Law.

2. From the effective date of the agreement between husband and wife pscribed in Clause 1 of this Article, the determination of common property and separate property of husband and wife must comply with Articles 33 and 43 of this Law. Unless otherwise agreed by husband and wife, the property portion pided to the husband or wife remains his/her separate property.

3. Unless otherwise agreed by the parties, property rights and obligations arising before the termination of the effect of common property pision remain effective.

4. In case common property is pided during the marriage period under an effective court judgment or decision, the agreement on termination of the effect of common property pision shall be recognized by the court.

Article 42. Invalidated common property pision during the marriage period

Common property pision during the marriage period shall be invalidated when:

1. It seriously harms the family’s interests; or lawful rights and interests of minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves;

2. It aims to shirk the following obligations:

a/ Raising and support obligations;

b/ Damages payment obligations;

c/ Payment obligations when declared bankrupt by a court;

d/ Debt payment obligations;

dd/ Tax payment obligations or other financial obligations toward the State;

e/ Other property obligations as pscribed by this Law, the Civil Code and other relevant laws.

Article 43. Separate property of husband and wife

1. Separate property of a spouse includes property owned by this person before marriage; property inherited by or given separately to him/her during the marriage period; property pided to him/her under Articles 38,39 and 40 of this Law; property to meet his/her essential needs and other property under his/her ownership as pscribed by law.

2. Property created from separate property of a husband or wife is also property of his/ her own. Yields and profits arising from separate property during the marriage period must comply with Clause 1, Article 33, and Clause 1, Article 40, of this Law.

1. A spouse has the right to possess, use and dispose of his/her separate property, and to merge or refuse to merge separate property into common property.

2. When a spouse cannot manage his/her separate property himself/herself and does not authorize another person to manage it, the other spouse has the right to manage such property. The property management must ensure benefits for the property owner.

3. Each spouse’s separate property obligations shall be performed with his/her separate property.

4. When yields or profits from separate property of a spouse constitute the family’s sole livelihood, the disposition of such property is subject to the other spouse’s consent.

A spouse has the following separate property obligations:

1. The obligations he/she has before marriage;

2. The obligations arising from the possession, use and disposition of his/her separate property, other than the obligations arising from the pservation, maintenance and repair of his/her separate property under Clause 4, Article 44 or Clause 4, Article 37 of this Law;

3. The obligations arising from transactions established and made by himself/herself not for meeting the family’s needs;

4. The obligations arising from his/her illegal acts.

1. Separate property of a spouse shall be merged into common property according to the agreement between the husband and wife.

2. For property merged into common property whose transactions are required by law to be under a certain form, the merger agreement must ensure that form.

3. Unless otherwise agreed by husband and wife or pscribed by law, obligations related to separate property already merged into common property shall be performed with common property.

For a married couple that selects the agreed property regime, this agreement shall be made in writing before their marriage and be notarized or certified. The agreed matrimonial property regime shall be established on the date of marriage registration.

Article 48. Basic contents of an agreement on the matrimonial property regime

1. The basic contents of an agreement on the property regime include:

a/ Property determined as common property and separate property of the husband and wife;

b/ Rights and obligations of the husband and wife toward common property, separate property and related transactions; property to meet the family’s essential needs;

c/ Conditions, procedures and principles of property pision upon termination of the property regime;

d/ Other related contents.

2. For matters arising in the implementation of the agreed property regime which have not been agreed or unclearly agreed by husband and wife, Articles 29, 30, 31 and 32 of this Law and corresponding provisions of the statutory property regime shall apply.

1. Husband and wife have the right to modify their agreement on the property regime.

2. The form of modification of the agreement on the property regime must comply with Article 47 of this Law.

Article 50. Invalidated agreement on the matrimonial property regime

1. An agreement on the matrimonial property regime shall be declared to be invalid by a court when:

a/ It fails to meet the conditions on effect of transactions pscribed the Civil Code and other relevant laws;

b/ It violates Article 29, 30, 31 or 32 of this Law;

c/ Its contents seriously infringe upon the rights to be supported and inherit and other lawful rights and interests of parents, children and other family members.

2. The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding Clause 1 of this Article.

Chapter IV

Section 1. DIVORCE

1. Husband or wife or both has or have the right to request a court to settle their porce.

2. A parent or another next of kin of a spouse has the right to request a court to settle a porce when the spouse is unable to perceive and control his/her acts due to a mental disease or another disease and is concurrently a victim of domestic violence caused by his/her spouse which seriously harms his/her life, health or spirit.

3. A husband has no right to request a porce when his wife is pgnant, gives birth or is nursing an under-12-month child.

The State and society shall encourage grassroots-level conciliation when a husband or wife requests a porce. The conciliation must comply with the law on grassroots-level conciliation.

1. A court shall accept porce petitions in accordance with the civil procedure law.

2. For a couple who has not registered their marriage but requests a porce, the court shall accept the case and declare non-recognition of their spousal relationship under Clause 1, Article 14 of this Law; and shall settle any children- or property-related requests according to Articles 15 and 16 of this Law.

Article 54. Conciliation at court

After accepting a porce petition, a court shall conduct conciliation in accordance with the civil procedure law.

Article 55. Divorce by mutual consent

When both spouses request a porce, a court shall recognize the porce by mutual consent if seeing that the two are really willing to porce and have agreed upon the property pision, looking after, raising, care for and education of their children on the basis of ensuring the legitimate interests of the wife and children. If the spouses fail to reach agreement or have reached an agreement which -fails to ensure the legitimate interests of the wife and children, the court shall settle the porce.

Article 56. Divorce at the request of one spouse

1. When a spouse requests a porce and the conciliation at a court fails, the court shall permit the porce if it has grounds to believe that a spouse commits domestic violence or seriously infringes upon the rights and obligations of the husband or wife, which seriously deteriorates the marriage and makes their common life no longer impossible and the marriage purposes unachievable.

2. When the spouse of a person who is declared missing by a court requests a porce, the court shall permit the porce.

3. For request for a porce under Clause 2, Article 51 of this Law, a court shall permit the porce if it has grounds to believe that the domestic violence committed by one spouse seriously harms the life, health or spirit of the other.

1. The marriage relation shall terminate on the date a court’s porce judgment or decision takes legally effective.

2. The court that has settled a porce shall send the legally effective porce judgment or decision to the agency registering such marriage for recording in the civil status register; the porced partners; and other persons, agencies and organizations as pscribed by the Civil Procedure Code and other relevant laws.

The looking after, care for, raising and education of children after porce must comply with Articles 81, 82, 83 and 84 of this Law.

1. The settlement of property shall be agreed upon by the concerned parties in case of applying the statutory matrimonial property regime. If they fail to reach agreement thereon, at the request of a spouse or both, a court shall settle it according to Clauses 2, 3, 4 and 5 of this Article and Articles 60, 61, 62, 63 and 64 of this Law.

In case of applying the agreed matrimonial property regime, the settlement of property upon porce must comply with such agreement. In case the agreement is insufficient or unclear, the settlement must comply with corresponding provisions of Clauses 2, 3, 4 and 5 of this Article and Articles 60, 61, 62, 63 and 64 of this Law.

2. Common property shall be pided into two, taking into account the following factors:

a/ Circumstances of the family, husband and wife;

b/ Each spouse’s contributions to the creation, maintenance and development of common property. The housework done in the family by a spouse shall be regarded as income-generating labor;

c/ Protecting the legitimate interests of each spouse in their production, business and career activities to create conditions for them to continue working to generate incomes;

d/ Each spouse’s faults in the infringement of spousal rights and obligations.

3. Common property of husband and wife shall be pided in kind, if impossible to be pided in kind, common property shall be pided based on its value. The partner who receives the property in kind with a value bigger than the portion he/she is entitled to receive shall pay the value difference to the other.

4. Separate property of a spouse shall be under his/her ownership, except for separate property already merged into common property in accordance with this Law.

A spouse who requests pision of separate property which has been merged into or mixed with common property shall be paid for the value of his/her property contributed to common property, unless otherwise agreed by husband and wife.

5. The lawful rights and interests of the wife, minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves shall be protected.

6. The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding this Article.

1. Property rights and obligations of husband and wife toward a third party remain effective after porce, unless otherwise agreed by husband and wife and that party.

2. When a dispute arises over property rights and obligations, the settlement of such dispute must comply with Articles 27, 37 and 45 of this Law and the Civil Code.

1. When a couple living with their family get a porce, if their property cannot be determined separately from the common property of the family, the husband or wife is entitled to pision of part of the family’s common property based on the couple’s contributions to the creation, maintenance and development of the family’s common property as well as to the common life of the family. The couple shall reach agreement with their family on their portion pided from the family’s common property. If they fail to reach agreement thereon, they may request settlement by a court.

2. For a couple living with their family whose property can be determined separately from the family’s common property, upon porce, such property portion of the couple shall be deducted from the family’s common property for pision under Article 59 of this Law.

1. Land use rights being separate property of a spouse remain under his/her ownership upon porce.

2. The pision of land use rights being common property of husband and wife upon porce shall be pided as follows:

a/ For agricultural land under annual crops or aquaculture, if both partners have the need and conditions to directly use the land, the land use rights shall be pided under their agreement. If they fail to reach agreement thereon, they may request a court to settle it according to Article 59 of this Law.

When only one partner has the need and conditions to directly use the land, that partner may continue to use the land but shall pay to the other the portion of the land use right value the latter is entitled to;

b/ When husband and wife share the right to use agricultural land under annual crops or aquaculture with their household, upon porce, the couple’s portion of the land use right shall be separated and pided under Point a of this Clause;

c/ For agricultural land under perennial trees, forestry land for forestation or residential land, the land use rights shall be pided according to Article 59 of this Law;

d/ The pision of the rights to use land of other categories must comply with the land law.

3. For husband and wife living with their family and sharing no land use rights with the latter, upon porce, the interests of the partner who has no land use rights and does not continue to live with the family shall be settled according to Article 61 of this Law.

A house which is separate property of a spouse and has been put to common use remains under his/her ownership upon porce. In case the other partner has accommodation difficulties, unless otherwise agreed by the partners, he/she has the right to stay at the house for 6 months at most from the date of termination of the marriage relation.

A spouse who is carrying out business activities related to common property has the right to receive that property and shall pay the other the property value that the latter is entitled to, unless otherwise pscribed by the business law.

A marriage is terminated from the time of death of a spouse.

In case a court declares a spouse to be dead, the time of termination of the marriage is the date of death stated in the court’s judgment or decision.

1. When a spouse is dead or declared to be dead by a court, the other shall manage common property, unless another person is designated to manage the estate under his/her testament or the heirs agree to designate another person to manage the estate.

2. When there is a request for pision of the estate, unless the couple has reached agreement on the property regime, common property of husband and wife shall be pided into two. The property portion of the spouse who is dead or declared to be dead by a court shall be pided in accordance with the inheritance law.

3. In case the pision of the estate would seriously affect the life of the living spouse and the family, this spouse has the right to request a court to restrict the pision of the estate in accordance with the Civil Code.

4. Unless otherwise pscribed by the business law, property of husband and wife used for business activities shall be settled according to Clauses 1, 2 and 3 of this Article.

1. When a court issues a decision to cancel the declaration of death of a person and that person’s spouse has not got married to another person, their marriage relation shall be restored from the time of their marriage. In case there is a court’s decision permitting a porce under Clause 2, Article 56 of this Law, this decision remains legally valid. In case the spouse of that person has got married to another person, the marriage relation established later is legally effective.

2. The property relation between the person declared to be dead who returns and his spouse shall be settled as follows:

a/ If their marriage is restored, the property relation shall be restored on the effective date of the court’s decision canceling the declaration of death of the person who is the husband or wife. The property acquired by his/her spouse from the effective date of the court’s decision declaring death of the husband or wife to the effective date of the court’s decision canceling such declaration is separate property of that spouse;

b / If their marriage is not restored, property created before the effective date of the court’s decision declaring death of the husband or wife which has not been pided shall be settled as for property pision upon porce.

1. The rights and obligations of parents and children under this Law, the Civil Code and other relevant laws shall be respected and protected.

2. Children who are born regardless of their parents’ marital status all have the same rights and obligations toward their parents pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws.

3. Adopted children and adoptive parents shall have rights and obligations of parents and children pscribed in this Law, the Adoption Law, the Civil Code and other relevant laws.

4. All agreements between parents and children related to personal and property relations must not harm the lawful rights and interests of minor children, adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves and parents who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves.

1. To love, and respect opinions of, their children; to attend to the study and education of their children to ensure their healthy physical, intellectual and moral development in order to become dutiful children of the family and useful citizens of the society.

2. To look after, raise, care for, and protect the lawful rights and interests of their minor children and adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves.

3. To act as the guardian of or repsent in accordance with the Civil Code their minor children or adult children who have lost their civil act capacity.

4. Not to discriminatorily treat their children due to their gender or the marital status of the parents; not to abuse the labor of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity; not to incite or force their children to act against law or social ethics.

1. To be loved and respected by their parents and perform and enjoy their lawful personal and property rights and interests in accordance with law; to study and be educated; to be entitled to healthy physical, intellectual and moral development.

2. To love, respect, show gratitude and dutifulness to and support their parents, to pserve the honor and good traditions of their family.

3. For minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves, to live with their parents, to be looked after, nursed and cared for by their parents.

For minor children, to do housework suitable to their age and not in contravention of the law on protection, care for and education of children.

4. For adult children, to select at their free will professions and places of residence, to study and raise their educational level and professional qualifications and skills; to participate in political, economic, cultural and social activities according to their aspirations and abilities. When living with their parents, to do housework and participate in working, production and income-generating activities to ensure the common life of the family; to contribute their incomes to meeting the family’s needs suitable to their capacity.

5. To enjoy property rights corresponding to their contributions to the family’s property.

1. Father and mother have equal obligation and right to jointly care for and raise their minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have-no working capacity and no property to support themselves.

2. Children have the obligation and right to care for and support their parents, especially when their parents lose their civil act capacity, are sick, become old and weak or have disabilities. For a family with several children, these children shall together care for and support their parents.

Article 72. Obligation and right to educate children

1. Parents have the obligation and right to educate their children, attend to and create conditions for their study.

Parents shall create conditions for their children to live in a happy and harmonious family environment; set good examples for their children in every aspect; and closely collaborate with schools, agencies and organizations in educating their children.

2. Parents shall guide their children in selecting professions; respect their children’s rights to select professions and participate in political, economic, cultural and social activities.

3. When facing difficulties which cannot be solved by themselves, parents may request concerned agencies and organizations to assist them in educating their children.

Article 73. Repsentation for children

1. Parents are repsentatives at law of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity, except when the children have other persons to be their guardians or repsentatives at law.

2. A parent has the right to make transactions on his/her own to meet essential needs of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves.

3. Transactions related to real estate or movable assets with registered ownership or use rights or property used for business activities of minor children or adult children who have lost their civil act capacity must obtain their parents’ consent.

4. Parents shall take joint responsibility for making transactions related to their children’s property pscribed in Clauses 2 and 3, this Article and as pscribed by the Civil Code.

Article 74. Compensation for damage caused by children

Parents shall pay compensation for damage caused by their minor children or adult children who have lost their civil act capacity in accordance with the Civil Code.

1. Children have the right to have their own property which includes property separately inherited by or given to them, incomes from their work, yields and profits arising from their own property and other lawful incomes. Property created from children’s own property is also their own property.

2. If they have incomes, children who are full 15 years or older and live with their parents have the obligation to attend to the family’s common life and make contributions to meeting the family’s essential needs.

3. Adult children have the obligation to contribute their incomes to meeting the family’s essential needs according to Clause 4, Article 70 of this Law.

1. Children aged full 15 or older may themselves manage or ask their parents to manage their own property.

2. Property of children who are under 15 or children who have lost their civil act capacity shall be managed by their parents. Parents may authorize other persons to manage their children’s own property. Unless otherwise agreed by parents and children, children’s own property managed by their parents or other persons shall be given to them when they are full 15 years or older or have fully restored their civil act capacity.

3. Parents shall not manage their children’s own property when their children are under the guardianship of other persons as pscribed by the Civil Code; or when the persons giving or bequeathing under testament property to their children have designated other persons to manage such property, or in other cases as pscribed by law.

4. In case parents are managing property of their minor children or adult children who have lost their civil act capacity and their children are assigned to other guardians, the children’s property shall be delivered to the guardians for management under the Civil Code.

1. Parents or guardians who manage under-15 children’s own property have the right to dispose of such property in the interests of the children and shall take into account the children’s desire if they are full 9 years or older.

2. Children aged between full 15 and under 18 have the right to dispose of their own property other than real estate, movable assets with registered ownership and use rights or property used for business activities the disposal of which is subject to written consent of their parents or guardians.

3. Guardians of adult children who have lost their civil act capacity may dispose of the latter’s own property.

1. An adoptive parent and his/her adopted child have the rights and obligations of parents and children pscribed in this Law from the time the adoption relationship is established under the Adoption Law.

In case of termination of an adoption under a court’s decision, the rights and obligations of an adoptive parent toward his/her adopted child shall terminate from the legally effective date of the court’s decision.

2. The rights and obligations of natural parents and their children who have been adopted by other persons must comply with the Adoption Law.

3. The rights and obligations of natural parents and their children shall be restored from the time the adoption relationship terminates. When they no longer have natural parents or their natural parents cannot afford to raise minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves, a court shall settle the adoption termination and designate guardians for the children in accordance with the Civil Code.

1. A step parent has the rights and obligations to look after, raise, care for and educate stepchildren who live with him or her according to Articles 69, 71 and 72 of this Law.

2. A stepchild has the rights and obligations to care for and support his/her step parent who lives with him or her according to Articles 70 and 71 of this Law.

In case a daughter- or son-in-law lives with her/his parents-in-law, all parties have the rights and obligations to respect, attend to, care for, and assist one another according to Articles 69, 70, 71 and 72 of this Law.

1. After a porce, parents still have rights and obligations to look after, care for, raise and educate minor children or adult children who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves in accordance with this Law, the Civil Code and other relevant laws.

2. Husband and wife shall reach agreement on the person who directly raises their children and on his and her obligations and rights toward their children after porce. If they fail to reach agreement, the court shall appoint either of them to directly raise the children, taking into account the children’s benefits in all aspects. If a child is full 7 years or older, his/ her desire shall be considered.

3. A child under 36 months of age shall be directly raised by the mother, unless the mother cannot afford to directly look after, care for, raise and educate the child or otherwise agreed by the parents in the interests of the child.

1. The parent who does not directly raise a child shall respect the child’s right to live with the person who directly raises him/her.

2. The parent who does not directly raise a child shall support this child.

3. After porce, the person who does not directly raise a child has the right and obligation to visit and care for this child without being obstructed by any person.

1. The parent directly raising a child has the right to request the person not directly raising this child to fulfill the obligations pscribed in Article 82 of this Law and request this person and family members to respect his/her right to raise the child.

2. The parent directly raising a child and family members may not obstruct the person not directly raising the child from visiting, caring for, raising and educating this child.

1. At the request of a parent or a person or an organization pscribed in Clause 5 of this Article, a court may decide to change the person directly raising a child.

2. Change of the person directly raising a child shall be settled when there is one of the following grounds:

a/ The parents agrees on change of the person directly raising a child in the interests of this child;

b/ The person directly raising the child no longer has sufficient conditions to directly look after, care for, raise and educate the child.

3. Upon change of the person directly raising a child aged full 7 or older, this child’s desire shall be taken into account.

4. When seeing that both parents fail to have sufficient conditions to directly raise a child, a court shall decide to assign this child to a guardian in accordance with the Civil Code.

5. When there is the ground pscribed at Point b, Clause 2 of this Article, in the interests of a child, the following persons, agencies or organizations have the right to request change of the person directly raising this child:

a/ Next of kin;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

Article 85. Restrictions on parents’ rights toward their minor children

1. A parent shall have his/her rights toward a minor child restricted when:

a/ He/she is convicted of one of the crimes of intentionally infringing upon the life, health, dignity or honor of this child or commits acts of seriously breaching the obligations to look after, care for, raise and educate children;

b/ He/she disperses property of the child;

d/ He/she incites or forces the child to act against law or social ethics.

2. On ạ case-by-case basis, a court shall itself, or at the request of the persons, agencies or organizations pscribed in Article 86 of this Law, issue a decision disallowing a parent to look after, care for and educate a child or manage the child’s own property or act as the child’s repsentative at law for between 1 and 5 years. The court may consider shortening this period of time.

1. A parent or guardian of a minor child has, as pscribed by the civil procedure law, the right to request a court to restrict a parent’s rights toward this child.

2. The following persons, agencies and organizations have, as pscribed by the civil procedure law, the right to request a court to restrict a parent’s rights toward a minor child:

a/ Next of kin;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

3. When detecting a parent committing violations of Clause 1, Article 85 of this Law, other persons, agencies and organizations have the right to request the agencies and organizations pscribed at Points b, c and d, Clause 2 of this Article to propose a court to restrict this parent’s rights toward the minor child.

1. When a parent has his/her rights toward a minor child restricted by a court, the other parent shall exercise the rights to look after, raise, care for and educate this child, manage the child’s own property and acts as the child’s repsentative at law.

2. A guardian shall be assigned to look after, care for and educate a minor child and manage the child’s own property in accordance with the Civil Code and this Law in the following cases:

a/ Both parents have their rights toward the minor child restricted by a court;

b/ The parent who does not have his/her rights toward the minor child restricted does not have sufficient conditions to perform the rights and obligations toward the child;

c/ A parent has the rights toward the minor child restricted and the other parent of the child has not been identified yet.

3. A parent who has the rights toward a minor child restricted by a court shall still perform the obligation to support this child.

Section 2. IDENTIFICATION OF PARENTS AND CHILDREN

1. A child who is born or conceived by the wife during the marriage period is the common child of the husband and wife.

A child who is born within 300 days from the time of termination of a marriage shall be regarded as a child conceived by the wife during the marriage period.

A child who is born before the date of marriage registration and recognized by his/her parents is the common child of the husband and wife.

2. When a parent does not recognize a child, he/she must have evidence and such non- recognition shall be determined by a court.

Article 89. Identification of children

1. A person who is not recognized as the parent of a person may request a court to identify that the latter is his/her child.

2. A person who is recognized as the parent of a person may request a court to identify that the latter is not his/her child.

1. A person has the right to recognize his/her parent even in case the parent has died.

2. An adult may recognize his/her parent without consent of the other parent.

Article 91. Right to recognize children

1. A parent has the right to recognize his/her child even in case this child has died.

2. A married person may recognize his/her child without consent of his/her spouse.

When a person who requests identification of his/her parent or child dies, his/her next of kin has the right to request a court to identify the parent or child for him/her.

1. When a wife gives birth to a child with assisted reproductive technology, the identification of parents must comply with Article 88 of this Law.

2. A single woman who gives birth to a child with assisted reproductive technology is the mother of that child.

3. No parent-child relationship shall arise between a person who donates sperm, egg or embryo and the child born with assisted reproductive technology.

4. The identification of parents in case of altruistic gestational surrogacy must comply with Article 94 of this Law.

A child born in case of altruistic gestational surrogacy is the common child of the husband and wife who ask for such gestational surrogacy from the time this child is born.

Article 95. Conditions for altruistic gestational surrogacy

1. Altruistic gestational surrogacy shall be based on the voluntariness of involved parties and established in writing.

2. Husband and wife have the right to ask for a person’s gestational surrogacy when they fully meet the following conditions:

a/ The wife is certified by a competent health organization as unable to carry a pgnancy and give birth even with assisted reproductive technology;

b/ The couple has no common child;

c/ The couple has received health, legal and psychological counseling.

3. A gestational carrier must fully satisfy the following conditions:

a/ She is a next of kin of the same line of the wife or husband who asks for gestational surrogacy;

b/ She has given birth and is permitted for gestational surrogacy only once;

c/ She is at a suitable age and is certified by a competent health organization as eligible for gestational surrogacy;

d/ In case she is married, she obtains her husband’s written consent;

dd/ She has received health, legal and psychological counseling.

4. Altruistic gestational surrogacy must not contravene the law on giving birth with assisted reproductive technology.

5. The Government shall detail this Article.

Article 96. Agreement on altruistic gestational surrogacy

1. An agreement on altruistic gestational surrogacy between husband and wife who ask for gestational surrogacy (below referred to as gestational surrogacy requesting party) and husband and wife who give gestational surrogacy (below referred to as gestational carrier party) must contain the following basic contents:

a/ Full information on the gestational surrogacy requesting party and the gestational carrier party according to the related conditions pscribed in Article 95 of this Law;

b/ Commitment to fulfill the rights and obligations pscribed in Articles 97 and 98 of this Law;

c/ Settlement of consequences in case of occurrence of obstetrical incidents; support for ensuring reproductive health for the gestational carrier during the period of pgnancy and delivery, child recognition by the gestational surrogacy requesting party, rights and obligations of both parties in case the child has not been delivered to the gestational surrogacy requesting party and other related rights and obligations;

d/ Civil liabilities in case one or both parties breach commitments under the agreement.

2. An agreement on gestational surrogacy shall be made in writing and notarized. In case the couple requesting gestational surrogacy or the couple giving gestational surrogacy authorizes the other to make the agreement, such authorization shall be made in writing and notarized. Authorization to a third party is legally invalid.

In case an agreement on gestational surrogacy between the gestational carrier party and the gestational surrogacy requesting party is made concurrently with the agreement between them and the health establishment conducting the birth giving with assisted reproductive technology, this agreement must be certified by a competent person of this health establishment.

1. A gestational carrier and her husband have the rights and obligations as parents in reproductive health care and care for and nursing of the child until this child is delivered to the gestational surrogacy requesting party; and shall deliver the child to the gestational surrogacy requesting party.

2. A gestational carrier shall comply with the Ministry of Health’s regulations on examination and screening for detecting and treating fetal abnormalities and defects.

3. A gestational carrier is entitled to the maternity regime as pscribed by the labor and social insurance laws until the child is delivered to the gestational surrogacy requesting party.

When the duration from the date of giving birth to a child to the date of delivering that child is less than 60 days, a gestational carrier is still entitled to the maternity regime for full 60 days. The child born from gestational surrogacy shall not be counted into the number of children under the policy on population and family planning.

4. The gestational carrier party has the right to request the gestational surrogacy requesting party’s support and care for reproductive health.

In the interest of her life or health or for fetal development, a gestational carrier has the right to on the number of embryos and continuation or discontinuation of the pgnancy in accordance with the laws on reproductive health care and giving birth with assisted reproductive technology.

5. When the gestational surrogacy requesting party refuses to receive the child, the gestational carrier party has the right to request a court to oblige the former to receive that child.

1. The gestational surrogacy requesting party shall pay actual expenses for ensuring reproductive health according to the Ministry of Health’s regulations.

2. Rights and obligations of the altruistic gestational surrogacy requesting party toward their child shall arise from the time the child is born. The mother requesting gestational surrogacy is entitled to the maternity regime in accordance with the labor and social insurance laws from the time of receiving her child to the time the child is full 6 months.

3. The gestational surrogacy requesting party may not refuse to receive their child. A gestational surrogacy requesting party that delays receipt of his/her child or breaches the child nursing and caring obligations shall support this child in accordance with this Law and be handled in accordance with relevant laws. If causing damage to the gestational carrier party, he/she shall pay damages. In case the gestational surrogacy requesting party dies, the child is entitled to inheritance of the former’s estate in accordance with law.

4. A child born from gestational surrogacy and other members of the family of the gestational surrogacy requesting party have the rights and obligations pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws.

5. When the gestational carrier party refuses to deliver the child, the gestational surrogacy requesting party has the right to request a court to oblige the former to deliver the child.

1. The court is competent to settle disputes over giving birth with assisted reproductive technology and gestational surrogacy.

2. When both husband and wife being the gestational surrogacy requesting party die or lose their civil act capacity before the child is delivered to them, the gestational carrier party has the right to raise this child. If the gestational carrier party refuses to raise the child, the guardianship and support for the child must comply with this Law and the Civil Code.

Parties involving in giving birth with assisted reproductive technology and gestational surrogacy that violate conditions, rights and obligations pscribed in this Law shall be handled for civil, administrative or penal liabilities depending on the nature and severity of their violations.

1. The civil status registry is competent to identify parents and children in accordance with the civil status law in case there is no dispute.

2. The court is competent to identify parents and children in case there is a dispute or the person requested for being identified as parent or child has died and in the case pscribed in Article 92 of this Law.

A court’s decision identifying a parent or child shall be sent to the civil status registry for recording in accordance with the civil status law; to parties involved in the parent and child identification; and to related persons, agencies and organizations as pscribed by the civil procedure law.

1. An adult parent or child with civil act capacity has the right to request the civil status registry to identify his/her child or parent in the case pscribed in Clause 1, Article 101 of this Law.

2. A parent or child, as pscribed by the civil procedure law, has the right to request a court to identify his/her child or parent in the case pscribed in Clause 2, Article 101 of this Law.

3. The following persons, agencies and organizations, as pscribed by the civil procedure law, have the right to request a court to identify the parent(s) of a minor child or an adult child who has lost his/her civil act capacity; or identify the child for a minor parent or a parent who has lost his/her civil act capacity in the case pscribed in Clause 2, Article 101 of this Law:

a/ Parent, child, guardian;

b/ The state management agency in charge of families;

c/ The state management agency in charge of children;

d/ The women’s union.

1. Family members have the right and obligation to care for, look after, assist and respect one another. Lawful personal and property rights and interests of family members pscribed in this Law, the Civil Code and other relevant laws shall be protected by law.

2. Family members that live together have the obligations to participate in housework and income-generating activities; contribute their efforts, money or other properties to maintaining family life suitable to their actual capabilities.

3. The State shall adopt policies to create conditions for familial generations to, care for look after, and assist one another for the purpose of pserving and upholding the fine traditions of Vietnamese families; shall encourage inpiduals and organizations in the society to jointly participate in pserving and upholding the fine traditions of Vietnamese families.

1. Paternal grandparents and maternal grandparents have the right and obligation to look after, care for and educate their grandchildren, lead exemplary lives and set good examples for their children and grandchildren; for minor grandchildren, adult grandchildren who have lost their civil act capacity or have no working capacity and no property to support themselves and no raising people as pscribed in Article 105 of this Law, paternal grandparents and maternal grandparents have the obligation to raise these grandchildren.

2. Grandchildren have the obligation to respect, care for and support their paternal grandparents and maternal grandparents; for paternal grandparents or maternal grandparents who have no children to raise them, their adult grandchildren have the obligation to raise them.

Siblings have the right and obligation to love, care for and assist one another; in case they no longer have parents or their parents have no conditions to look after, raise, care for and educate their children, they have the right and obligation to raise one another.

Aunts, uncles, nieces and nephews have the right and obligation to love, care for and assist one another; have the right and obligation to raise one another in case those who need to be raised no longer have parents, children and people pscribed in Articles 104 and 105 of this Law or still have these people but these people have no conditions to perform their raising obligation.

Article 107. Support obligation

1. The support obligation shall be performed between parents and children; among siblings; between paternal grandparents, maternal grandparents and grandchildren; between aunts, uncles and nieces, nephews; and between husband and wife in accordance with this Law.

The support obligation can be neither replaced by another obligation nor transferred to other people.

2. In case persons having the support obligation shirk this obligation, at the request of the persons, agencies or organizations pscribed in Article 119 of this Law, courts shall compel these persons to perform the support obligation in accordance with this Law.

In case a person has the obligation to support many persons, the supporting person and supported .persons shall reach agreement on methods and levels of support suitable to the actual income and ability of the supporting person and essential needs of supported persons; if failing to reach agreement, they may request a court to settle it.

In case many persons have the obligation to support one person or many persons, they shall agree mutually upon methods and levels of contribution suitable to the actual income and ability of each supporting person and the essential needs of the supported person(s); if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

Parents who do not live with their children or live with their children but violate the support obligation have the obligation to support minor children and adult children who have no working capacity and no property to support themselves.

Article 111. Support obligation of children toward parents

Adult children who do not live with their parents have the obligation to support their parents who have no working capacity and no property to support themselves.

Article 112. The support obligation among siblings

In case they no longer have parents or their parents have no working capacity and no property to support their children, adult elder siblings who do not live together with their younger siblings have the obligation to support their minor siblings who have no property to support themselves or adult younger siblings who have no working capacity and no property to support themselves; adult younger siblings who do not live together with their elder siblings have the obligation to support their elder siblings who have no working capacity and no property to support themselves.

Article 113. Support obligation between paternal grandparents, maternal grandparents and grandchildren

1. Paternal grandparents and maternal grandparents who do not live with their grandchildren have the obligation to support their minor grandchildren or their adult grandchildren who have no working capacity, no property to support themselves and have no one to support them as pscribed in Article 112 of this Law.

2. Adult grandchildren who do not live together with their paternal grandparents and maternal grandparents have the obligation to support their paternal grandparents and maternal grandparents who have no working capacity, no property to support themselves and have no one else to support them as pscribed by this Law.

Article 114. Support obligation among aunts, uncles and nieces, nephews

1. Aunts, uncles who do not live with their nieces, nephews have the obligation to support their minor nieces, nephews or their adult nieces, nephews who have no working capacity, no property to support themselves and have no one else to support them as pscribed by this Law.

2. Adult nieces, nephews who do not live with their aunts, uncles have the obligation to support their aunts, uncles who have no working capacity, no property to support themselves and have no one else to support them as pscribed by this Law.

When porced, if the party facing financial difficulties requests maintenance for plausible reasons, the other party has the obligation to provide maintenance according to his/her ability.

1. The support level shall be agreed upon by the person with the support obligation and the supported person or the latter’s guardian on the basis of the actual income and ability of the person with the support obligation and the essential needs of the supported person; if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

2. When there is a plausible reason, the support level may change. The change of the support level shall be agreed upon by the parties; if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

Article 117. Support method

Support may be provided on a monthly, quarterly, biannual, annual or one-off basis.

In case the person with the support obligation falls into a difficult financial circumstance, thus being unable to perform his/her support obligation, the parties may reach agreement to change the method of support or temporarily cease the support; if they fail to reach agreement, they may request a court to settle it.

The support obligation shall terminate in the following cases:

1. The supported person has become adult and has working capacity or property to raise himself or herself;

2. The supported person is adopted;

3. The supporting person directly raises the supported person;

4. The supporting or supported person dies;

5. The supported person re-marries after porce;

6. Other cases pscribed by law.

Article 119. Persons having the right to request performance of the support obligation

1. The supported person, his/her parent or guardian has the right in accordance with the civil procedure law to request a court to force the person who fails to voluntarily perform the support obligation to perform such obligation.

2. The following inpiduals, agencies or organizations have the right in accordance with the civil procedure law to request a court to force the person who fails to voluntarily perform the support obligation to perform such obligation:

a/ Next of kin;

b/ State management agencies in charge of families;

c/ State management agencies in charge of children;

d/ Women’s unions.

3. Other inpiduals, agencies and organizations have the right, when detecting acts of shirking the performance of the support obligation, to request the agencies or organizations pscribed at Points b, c and d, Clause 2 of this Article to request a court to force the people who fail to voluntarily perform the support obligation to perform such obligation.

Article 120. Encouragement of assistance from organizations and inpiduals

The State and society shall encourage organizations and inpiduals to provide assistance in cash or kind to families and inpiduals in extremely difficult and needy circumstances.

Chapter VIII

1. In the Socialist Republic of Vietnam, marriage and family relations involving foreign elements shall be respected and protected in accordance with Vietnamese law and treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party.

2. In their marriage and family relations with Vietnamese citizens, unless otherwise provided by Vietnamese law, foreigners in Vietnam have the same rights and obligations like Vietnamese citizens.

3. The Socialist Republic of Vietnam State shall protect lawful rights and interests of Vietnamese citizens abroad in their marriage and family relations in accordance with Vietnamese law, the host country’s law and international laws and practices.

4. The Government shall detail the settlement of marriage and family relations involving foreign elements in order to protect lawful rights and interests of the parties and guarantee the implementation of Clause 2, Article 5 of this Law.

Article 122. Application of laws to marriage and family relations involving foreign elements

1. Unless otherwise provided by this Law, the legal provisions of the Socialist Republic of Vietnam concerning marriage and family are applicable to marriage and family relations involving foreign elements.

In case a treaty to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party contains provisions different from those of this Law, the provisions of such treaty pvail.

2. In case this Law and other legal documents of Vietnam refer to the application of a foreign law, such foreign law shall apply, provided such application does not contravene the fundamental principles laid down in Article 2 of this Law.

In case a foreign law refers back to the Vietnamese law, Vietnam’s marriage and family law shall apply.

3. In case a treaty to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party refers to the application of a foreign law, such foreign law shall apply.

Article 123. Competence to settle cases and matters of marriage and family involving foreign elements

1. The competence to register civil status related to marriage and family relations involving foreign elements must comply with the law on civil status.

2. The competence to settle cases and matters of marriage and family involving foreign elements at court must comply with the Civil Procedure Code.

3. District-level People’s Courts of localities where Vietnamese citizens reside are competent to cancel illegal marriages, settle porce cases, disputes over the rights and obligations of husband and wife, parents and children, recognition of parents, children, child adoption and guardianship between Vietnamese citizens residing in border areas and citizens of neighboring countries living in areas bordering on Vietnam in accordance with this Law and other Vietnamese laws.

Article 124. Consular legalization of papers and documents on marriage and family

Papers established, granted or certified by competent foreign agencies for use in the settlement of cases and matters of marriage and family shall be consularly legalized, except cases eligible for exemption from consular legalization under treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party or on the principle of reciprocity.

Article 125. Recognition and writing of judgments and decisions of foreign courts and competent foreign agencies on marriage and family

1. The recognition of judgments and decisions on marriage and family of foreign courts with request for enforcement in Vietnam must comply with the Civil Procedure Code.

2. The Government shall pscribe the writing in civil status registers of matters of marriage and family according to judgments and decisions of foreign courts without request for enforcement in Vietnam or without request for non-recognition in Vietnam; and decisions on marriage and family of other competent foreign agencies.

Article 126. Marriage involving foreign elements

1. For marriages between Vietnamese citizens and foreigners, each party shall comply with his/her country’s law on marriage conditions; if their marriage is conducted at a competent Vietnamese state agency, the foreigner shall also comply with this Law’s provisions on marriage conditions.

2. Marriages between foreigners permanently residing in Vietnam at competent Vietnamese agencies must comply with this Law’s provisions on marriage conditions.

Article 127. Divorce involving foreign elements

1. Divorce between a Vietnamese citizen and a foreigner or between two foreigners permanently residing in Vietnam shall be settled at a competent Vietnamese agency in accordance with this Law.

2. In case a partner being a Vietnamese citizen does not permanently reside in Vietnam at the time of request for porce, the porce shall be settled in accordance with the law of the country where the husband and wife permanently co-reside; if they do not have a place of permanent co-residence, the Vietnamese law shall apply.

3. The settlement of a porced couple’s immovables in a foreign country must comply with the law of the country where such immovables are located.

Article 128. Identification of parents and children involving foreign elements

1. Vietnamese civil status registration agencies are competent to settle the identification of parents and children without any disputes between Vietnamese citizens and foreigners or between Vietnamese citizens at least one of whom settles abroad, or between foreigners at least of one of whom permanently resides in Vietnam in accordance with the law on civil status.

2. Competent Vietnamese courts shall settle the identification of parents and children involving foreign elements in the cases pscribed in Clause 2 of Article 88, Articles 89, Article 90, Clauses 1 and 5 of Article 97, Clauses 3 and 5 of Article 98, and Article 99 of this Law; and other cases involving disputes.

Article 129. Support obligation involving foreign elements

1. The support obligation must comply with the law of the country where the requester for support resides. In case the requester for support has no place of residence in Vietnam, the law of the country of his/her citizenship shall apply.

2. Agencies competent to settle written requests for support of the persons pscribed in Clause 1 of this Article are agencies of the country of residence of the requester. ‘

Article 130. Application of the agreed matrimonial property regime; settlement of consequences of the co-living of men and women as husband and wife without marriage registration involving foreign elements

In case of receiving requests for settlement of the application of the agreed matrimonial property regime; or relations of men and women co-living as husband and wife without marriage registration involving foreign elements, competent Vietnamese agencies shall apply the provisions of this Law and other relevant Vietnamese laws to settle these requests.

Article 131. Transitional provisions

1. Marriage and family relations established before this Law takes effect shall be settled in accordance with the law on marriage and family applicable at the time of establishment.

2. For cases and matters of marriage and family received by courts before this Law takes effect but not yet settled by the courts, the procedures pscribed in this Law shall apply.

3. This Law shall not be applied to lodging protests according to cassation or review trial procedures with regard to cases and matters which courts have settled in accordance with the law on marriage and family effective before the effective date of this Law.

Article 132. Effect

This Law takes effect on January 1, 2021.

Marriage and Family Law No. 22/2000/QH10 ceases to be effective on the date this Law takes effect.

Article 133. Detailing and implementation guidance

The Government shall detail articles and clauses as assigned in this Law.

The Supme People’s Court shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Supme People’s Procuracy and the Ministry of Justice in, guiding articles and clauses as assigned in this Law.

This Law was passed on June 19, 2014, by the VIIIth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at it’s 7th session.-

Địa chỉ:

17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM

Điện thoại:

(028) 3930 3279 (06 lines)

E-mail:

in f [email protected]

【#8】Lgbt Là Gì Trên Facebook? 7 Điều Thú Vị Về Cộng Đồng Lgbt

Lgbt là một khái niệm thuật ngữ xuất hiện trên Facebook hoặc các mạng xã hội, truyền thông, báo chí một cách rộng rãi. Lgbt là viết tắt của các từ cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender) trong tiếng Anh.

LGBT là chữ viết tắt của từ gì trong tiếng Anh?

Những năm gần đây khi nghe đến chuyển giới, les hay những từ nhạy cảm như bê đê không còn là điều mới mẻ, bị cộng đồng hắt hủi nữa, bởi nhờ có chính sách mới của Nhà nước cũng như sự đồng cảm của cả cộng đồng mà những người này đã có thể hòa đồng hơn, sống hòa nhập hơn.

Và từ đó cộng đồng người này được gọi chung dưới cái tên LGBT. Vậy LGBT là gì, nó có ảnh hưởng hay có những đặc điểm gì? Cùng WikiDinhNghia tìm hiểu và giải đáp qua bài viết “Tìm hiểu về cộng đồng LGBT là gì” dưới đây bạn nhé!

Lgbt là một cụm từ được viết tắt từ các từ Lesbian, Gay, Bisexual và Transgender lấy các chữ cái đầu ghép lại mà thành. Lgbt có thể hiểu là cộng đồng những người đồng tính. Lgbt còn là tên của các nhóm, cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender).

Lgbt là gì, Lgbt là tên gọi dành cho một cộng đồng thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá dựa trên thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và bản dạng giới tính.

Thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c của con người được chia thành 3 loại chủ yếu: dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái, còn theo bản dạng giới thì phân thành: người chuyển giới và người không chuyển giới. Trong đó, Lgbt là cộng đồng những người thuộc các thiên hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội.

Cộng đồng Lgbt là gì trên facebook, các trang truyền thông, báo chí?

Xã hội rất đa dạng người và giới tính của mỗi người cũng vậy, có người họ làm nam nhưng con người bên trong là nữa, tương tự họ là nữ giới nhưng mạnh mẽ và muốn trở thành nam giới.

Và Lgbt không còn chỉ một người hay một vài người mà dùng cho một cộng đồng, cộng đồng của những người muốn sống thật với con người bên trong của mình, người ta thường hay gọi là cộng đồng Lgbt tức là cộng đồng người đồng tính.

Ý nghĩa Lgbt – Life Gets Better Together

Hoặc có những người họ có suy nghĩ tích cực, chủ động hòa đồng, ủng hộ cộng đồng này, họ thường dịch “Lgbt” theo một nghĩa khác tốt đẹp hơn “Life Gets Better Together” dịch ra là cuộc sống nên trở nên tốt đẹp với nhau. Nghĩa là cuộc sống này sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi mọi người hòa nhập với nhau, không kỳ thị hay phân biệt.

Thuật ngữ Lgbt không phải là một từ chính thống trong pháp lý nhưng được nhóm người này chấp nhận và sử dụng rộng rãi (đặc biệt là những nước sử dụng tiếng Anh).

Và trong thời gian vừa qua chắc hẳn mọi người thấy mạng xã hội Facebook có trào lưu dùng hình đại diện hoặc khung hình có nền 6 màu, điều này xuất hiện như một hiện tượng xã hội, chắc hẳn đang khiến bạn đọc thắc mắc đó là gì và có ý nghĩa như thế nào? Qua tìm hiểu WikiDinhNghia đưa ra lời giải đáp như sau.

Cờ lục sắc Lgbt gồm những màu nào và ý nghĩa ra sao?

Việc sử dụng hình nền hay khung viền hình đại diện trên mạng xã hội với 6 màu tương ứng với ý nghĩa về màu sắc:

  • Màu đỏ – dũng khí
  • Màu cam – nhận thức và khả năng
  • Màu vàng – thách thức
  • Màu xanh lá – sự khích lệ và phấn đấu
  • Màu xanh dương – hy vọng, sự chia sẻ, giúp đỡ và đấu tranh
  • Màu tím – sự thống nhất và hòa hợp.

Và được xem như là lá cờ, biểu tượng của cộng đồng Lgbt, 6 màu này được sử dụng chung cho cả cộng đồng LGBT, ngoài ra mỗi cộng đồng nhỏ trong LGBT lại có một biểu tượng riêng biệt, chẳng hạn như:

Cờ riêng của mỗi cộng đồng nhỏ trong Lgbt là gì?

  • Cờ của cộng đồng người toàn tính (Pansexual) gồm 3 màu: hồng – vàng – xanh da trời.
  • Cờ của cộng đồng song tính (Bisexual) gồm 3 màu: hồng – tím – xanh dương
  • Cờ của người vô tính (Asexual) gồm 4 màu: đen – xám – trắng – tím than
  • Cờ của cộng đồng người chuyển giới (Transgender) gồm 3 gam màu chia thành 5 dải màu, cụ thể như sau: xanh da trời- hồng- trắng- hồng- xanh da trời.

Phong trào này là do vào ngày 26/06/2015 vừa qua, Mỹ đã thông qua điều luật cho phép việc kết hôn những người đồng tính trên khắp cả nước Mỹ. Điều này đã có một sự không nhỏ và có thể được chứng minh như Ông chủ Facebook đã tham gia hưởng phong trào đó cùng với cộng đồng Lgbt qua việc thay đổi hình đại diện của mình có nền là cờ lục sắc 6 màu.

CEO của Apple là Tim Cook đã cùng các nhân viên của mình xuống đường để ủng hộ cho sự kiện này. Ngoài ra còn có người dân khắp đất nước cũng như nhiều quốc gia khác đồng thực hiện hưởng ứng.

Ở Việt Nam đông đảo các bạn trẻ cũng hưởng ứng bằng việc sử dụng hình nền đại diện có nền cờ lục sắc. Trước đây ở Việt Nam cũng có phong trào do cộng đồng Lgbt khởi xướng là “Tôi đồng ý” cũng được sự ủng hộ của rất nhiều người.

Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta việc kết hôn đồng tính, hay chuyển giới mãi đến năm 2014 mới được xóa bỏ theo Nghị Định tháng 10 năm 2013 của Nhà nước, được nhà nước công nhận là hợp pháp.

Biểu tượng lá cờ 7 màu của cộng đồng Lgbt có ý nghĩa gì?

Đọc đến đây chắc hẳn bạn đọc đang thắc mắc là phần trên là 6 màu xong xuống nội dung này là 7 màu là như thế nào khảo không ạ. Nguyên nhân là do trong thực tế, người ta sử dụng biểu tượng không có màu chàm và màu lam được thay bằng màu xanh cyan.

Do vậy mà biểu tượng cũng như lá cờ của cộng đồng Lgbt còn 6 màu. Còn trên lý thuyết là bao gồm 7 màu của cầu vồng gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím (red, orange, yellow, green, blue, indigo, violet). Mang ý nghĩa, tượng trưng cho tính cách, cá tính cũng như giới tính và đặc điểm của cộng đồng này.

Những người Lgbt nổi tiếng, quyền lực trên Thế Giới hiện nay

  • Greta Garbo (1905-1990)
  • Ruth Benedict (1887-1948)
  • Roberta Cowell (1918-2011)
  • Lili Elbe (1882-1931)
  • Gertrude Stein (1874-1946)
  • Marlene Dietrich (1901-1992)
  • Jane Addams (1860-1935)
  • Emily Dickinson (1830-1886)
  • Rosa Bonheur (1822-1899)
  • Frida Kahlo (1907-1954)
  • Chị em nhà Wachowski
  • Mary Kay Henry
  • RuPaul Charles
  • Tammy Baldwin
  • Anthony Romero
  • Ryan Murphy
  • Jill Soloway
  • Ellen DeGeneres
  • Anderson Cooper
  • Rachel Maddow
  • Stephen Fry
  • Ian McKellen
  • Elton John
  • Boy George
  • Billie Jean King
  • Và còn rất nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa.

Những khái niệm, thuật ngữ định nghĩa về cộng đồng LGBT là gì?

Đồng tính luyến ái nữ (Les là gì hay Lesbian là gì?)

Đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính, là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c hoặc việc yêu đương hay quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c giữa những người cùng giới tính với nhau, trong một hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài.

Với vai trò là một thiên hướng tính dục, chủ yếu và duy nhất đối với người cùng giới tính. Đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, hoặc hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c. Nó cũng là đánh giá thực về một cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này.

Trong thang liên tục dị tính – đồng tính (Thang Kinsey), đồng tính luyến ái cùng với dị tính luyến ái và song tính luyến ái được chia thành ba dạng chủ yếu của thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c con người.

Khi một biến thể có bản chất bình thường và tích cực của tính dục con người, không phải là một bệnh hay sự lệch lạc tâm lý và đặc biệt không phải là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng tâm lý tiêu cực.

Với sự đồng tình, chấp nhận từ cộng đồng cũng như từ phía Chính Phủ, nhiều người đồng tính nam, đồng tính nữ và đã đang sống trong mối quan hệ gắn kết, lâu dài. Thông qua các hình thức điều tra dân số mới nhận thấy con số đã có sự thay đổi tích cực, tạo điều kiện cho việc bộc lộ, công khai xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân của họ.

Nếu dựa trên những khía cạnh tâm lý thiết yếu thì những mối quan hệ này có thể hiểu là tương đương với các mối quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c khác giới, không có nhiều sự khác biệt.

Đồng tính luyến ái đã từng được ngưỡng mộ cũng như lên án trong suốt quá trình phát triển nhân loại được lịch sử ghi lại, tùy thuộc vào hình thức của nó và nền văn hóa mà nó diễn ra.

Từ cuối thế kỷ XIX đã có một phong trào trên phạm vi toàn cầu về xu hướng tăng khả năng bộc lộ, công khai thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân ở người đồng tính, công nhận pháp lý các quyền lợi hợp pháp cho những người đồng tính.

Trong đó có quyền kết hôn và các hình thức kết hợp dân sự, quyền nhận con nuôi và làm cha mẹ ở người đồng tính, các quyền liên quan đến việc làm, phục vụ trong quân đội, tiếp cận bình đẳng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự ra đời của luật chống bắt nạt để bảo vệ trẻ vị thành niên đồng tính đã được diễn ra và lan rộng trong suốt một thời gian dài.

Và không chỉ ở Con người, các nhà nghiên cứu khoa học về động vật chỉ ra hành vi đồng tính cũng rất phổ biến trong thế giới tự nhiên, được quan sát và ghi nhận ở khoảng 1.500 loài động vật.

Đồng tính luyến ái nam (Gay) là gì?

Có thể do thời đại đổi mới, nên suy nghĩ cũng tích cực hơn. Như trước đây những người nam bị thu hút về mặt tâm hồn và thể xác bởi con trai chứ không phải con trai, họ muốn là con gái, bị gọi dưới cái tên nghe không mấy dễ chịu là “Bê đê”.

Nhưng sau này, những cái tên như “bóng”, “Bóng kín, bóng hở”, “3D” hay “Gay” là 1 những từ chỉ nhóm người này. Thường với Nam mà là nữ thì gọi như vậy, còn với Nữ mà là nam thì họ hay gọi là “Les” hơn.

Giống như một mối quan hệ giữa con gái và con trai, mối quan hệ giữa hai con trai cũng bao gồm cả những rung động về mặt cảm xúc, tình cảm chứ không chỉ là hấp dẫn về thể xác như nhiều người lầm tưởng.

Không thể biết được một người là Gay hay không chỉ dựa trên bề ngoài đầu tóc, cách ăn mặc, đi đứng nói năng, … của họ. Vì có những “Gay” nam tính (Male) nhưng cũng có những “Gay” nữ tính (Bot). Tùy theo cách mà họ muốn thể hiện, với con người mà họ hướng tới thôi.

Song tính luyến ái (Bisex hay bisexual là gì?)

Song tính luyến ái hay lưỡng giới (tiếng Anh: bisexual) là mối quan hệ hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c của một người với cả hai giới tính nam và nữ. Là với người song tính luyến ái họ có thiên hướng với cả người cùng giới tính và khác giới tính với mình về mặt tình cảm, cảm xúc, hoặc cả t.ì.n.h d.ụ.c.

Lưỡng giới cũng chỉ sự công nhận về mặt cá nhân và xã hội đối với những người như vậy. Song tính luyến ái, cùng với đồng tính luyến ái và dị tính luyến ái là ba thiên hướng tính dục chính.

Những người không bị hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c với cả nam lẫn nữ thì ngược lại và được xếp vào nhóm còn lại tròn thang đo đồng tính, được gọi là vô tính (asexual).

Theo nghiên cứu của Alfred Kinsey về t.ì.n.h d.ụ.c loài người vào giữa thế kỷ 20, nhiều người không chỉ là dị tính luyến ái hoặc đồng tính luyến ái mà nằm giữa hai loại này. Kinsey đánh giá sự hấp dẫn và thể hiện t.ì.n.h d.ụ.c trên một thang 7 điểm bắt đầu từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái).

Theo nghiên cứu của Kinsey, phần lớn dân số thuộc loại từ 1 đến 5 (giữa dị tính luyến ái và đồng tính luyến ái). Mặc dù phương pháp của Kinsey đã từng bị chỉ trích, thang đo này vẫn được sử dụng rộng rãi để đánh giá sự liên tục của t.ì.n.h d.ụ.c loài người.

Tuy nhiên, các thuật ngữ bisexual (song tính luyến ái), heterosexual (dị tính luyến ái) và homosexual (đồng tính luyến ái) chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ 19 mặc dù Song tính luyến ái cũng như các trạng thái của giới tính đã được thấy trong nhiều xã hội khác nhau trong lịch sử trước đó và trong thế giới loài vật thông qua các tài liệu lịch sử.

Người chuyển giới (Transsexual/Transgender là gì)

Người chuyển giới (tiếng Anh: Transgender) hay còn gọi là hoán tính, là trạng thái tâm lý giới tính của một người không phù hợp với giới tính của cơ thể. Chẳng hạn, một người sinh ra với cơ thể nam nhưng cảm nhận giới tính mình là nữ hoặc một người sinh ra với cơ thể nữ nhưng lại cảm nhận giới tính của mình là nam.

Cảm nhận này không phụ thuộc vào việc người đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa. Và họ được gọi là người đã phẫu thuật chuyển giới khi họ nhờ tới sự can thiệp của y học chuyển giới theo giới tính mà họ mong muốn. Họ có thể thuộc nhóm t.ì.n.h d.ụ.c dị tính, đồng tính hoặc song tính luyến ái.

Một số khác có thể xem xét định hướng t.ì.n.h d.ụ.c thông thường không đầy đủ hoặc không áp dụng đối với họ. Người chuyển giới là nhóm người hoàn toàn độc lập với thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c.

Những người chuyển giới được mô tả là những người khi sinh ra đã mang sẵn một giới tính sinh học (dựa vào cơ quan s.i.n.h d.ụ.c để phân biệt), nhưng tâm lý của những người này cảm nhận rằng giới tính của họ không giống với giới tính mà thể xác của họ đang có.

Không phải tất cả những người chuyển giới đều muốn thay đổi cơ thể họ, mặc dù một số khác thì cảm thấy mong muốn điều này. Tuy nhiên, hầu hết những người chuyển giới đều mong muốn có thể hòa nhập với cộng đồng và có một vai trò trong xã hội phù hợp với giới tính mà tâm lý của họ tự xác định.

Thuật ngữ liên quan tới các dạng giới tính khác

– Asexual (Người vô tính – Nonsexuality) là gì?

Asexual (người vô tính) là những người không hoặc hiếm khi bị hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c với bất kỳ nhóm giới tính nào. Họ dường như thờ ơ với mọi quan hệ tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c trong xã hội. Người vô tính còn có tên gọi khác là Nonsexuality.

– Pansexual (Toàn tính luyến ái – Omnisexual) là gì?

Pansexual (toàn tính luyến ái) vẫn còn là khái niệm khá mới trong cộng đồng LGBT hiện nay. Toàn tính luyến ái được hiểu là những người bị cuốn hút bởi cái đẹp hoặc bất kỳ ai mang tới cảm xúc cho họ, mà không hề quan tâm tới giới tính người đó ra sao.

Toàn tính luyến ái khác với song tính đó là họ có xu hướng hấp dẫn với toàn bộ các giới tính khác nhau mà không chỉ giới hạn ở 2 (song tính). Toàn tính luyến ái còn có tên gọi khác là Omnisexual.

– Demisexual (Người khuyết tính) là gì?

Demisexual (người khuyết tính) hiểu đơn giản là những người ban đầu không có bất kỳ sự cuốn hút đối với giới tính nào.

Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó, có một người xuất hiện, không quan trọng là giới tính nào, mang đến tình cảm cho họ, tạo cho họ một sợi dây cảm xúc thân thuộc, chặt chẽ, có thể hiểu là “rung động”, thì họ bị cuốn hút bởi người này. Người khuyết tính có thể coi là nằm lưng chừng giữa người toàn tính và người vô tính.

– Người dị tính (Queer) là gì?

Người dị tính (Queer) là thuật ngữ chỉ những người thuộc giới tính thứ 3 nói chung. Bao gồm toàn bộ người đồng tính, người vô tính, người toàn tính, song tính, khuyết tính…

Thuật ngữ khác liên quan tới LGBT

Nếu có cơ hội tiếp xúc, nói chuyện hay tham gia với cộng đồng Lgbt, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy có rất nhiều điều thú vị về họ, một phần ngôn ngữ được gọi là thuật ngữ Lgbt cũng là điều khiến bạn tò mò đấy. Ví dụ như:

– “Come out” trong LGBT là gì?

“Come out” trong LGBT được hiểu là hành động công khai giới tính thực của mình đối với xã hội sau khi người đó đã trải qua 1 quá trình tìm hiểu khám phá.

– Chứng sợ đồng tính (Homophobia) là gì?

Chứng sợ đồng tính (Homophobia)là ám chỉ những người có định kiến sâu sắc đối với những người đồng tính, dị tính nói chung. Đa phần những người này có thái độ tiêu cực, bài trừ, miệt thị… đối với cộng đồng LGBT.

– Hội chứng sợ người chuyển giới (Transphobia) là gì?

Như cái tên của nó đã nói lên tất cả. Đây là nhóm người mang cảm giác ám ảnh, ghê sợ đối với những người chuyển giới hay hành động chuyển giới. Có thể đối với những giới tính khác họ vẫn cảm thấy bình thường nhưng riêng chuyển giới mang tới cho nhóm người này sự bài xích vô cùng lớn.

“Gei” trong LGBTđược hiểu là bản thân người con gái hoặc một nhóm con gái thích một hoặc một nhóm con gái khác. Nếu như Gay là chỉ Nam x Nam thì Gei là cách nói vui chỉ Nữ x Nữ.

Một số khái niệm thông dụng khác trong cộng đồng LGBT

Ngoài LGBT, nếu bạn muốn tiếp xúc và tìm hiểu kỹ hơn về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới, nhất định bạn phải hiểu thêm về những thuật ngữ trong cộng đồng này để thuận tiện hơn trong giao tiếp cũng như kết bạn làm quen. Ví dụ như:

SB là gì? SB cứng, Sb mềm nghĩa là gì?

SB là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Soft Butch”- là loại trong Les. SB gồm 2 loại SBM (SB mềm) và SBC (SB cứng).

SB mềm: là những người có tính khí giống con trai, và luôn nghĩ mình là con trai. Nhưng khi thể hiện ra bên ngoài vẫn giống con gái và chỉ yêu thích con gái.

SB cứng là những les có phong cách, dáng vẻ, cử chỉ và cách ăn mặc như con trai. Nếu chỉ nhìn về bên ngoài thì bạn sẽ không biết đó là một cô gái.

Trans guys là từ dùng để chỉ một người là con gái nhưng khi nhìn vào thì không ai có thể phân biệt được vì bề ngoài giống hệt con trai.

Fem là viết tắt của từ Femme – les yểu điệu, là những người có hình dáng, cử chỉ và cách biểu hiện ra bên ngoài giống hệt một người con gái bình thường, nhưng chỉ yêu thích con gái.

Tom chính là từ viết tắt của Tomboy. Những người này có cá tính, cách ăn mặc, ngoại hình và cách thể hiện giống với con trai – khá giống với SB cứng.

Tuy nhiên, họ không hoàn toàn là les 100% vì hiện nay nhiều bạn nữ thích phong cách tomboy và thể hiện ra bên ngoài sự mạnh mẽ của mình mà thôi.

SB và Trans guys khác nhau như thế nào?

Có phải khi đọc xong SB cứng và Trans khiến bạn thắc mắc hai tên gọi này đều chỉ nhóm người giống nhau phải không? Vậy thì bạn sẽ có câu trả lời ở ngay đây.

Thực ra cả SB và Trans đều là những người có cơ thể ở dạng nữ nhưng thể hiện hành động và phong cách giống một người con trai. Nhưng nếu xét về mặt bản chất thì đây là hai khái niệm chỉ những dạng người khác nhau. Cụ thể như sau:

Tính cách: Nếu so sánh về mặt tính cách, cử chỉ thì Trans thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả SB cứng.

Nhìn nhận về cơ thể: Trans luôn mong muốn và gần như tìm mọi cách để biến mình thành một người con trai.

Trong khi đó, SB cũng mong muốn trở thành một người đàn ông, nhưng họ không hề ghét những đặc điểm nữ tính của mình; thậm chí những bạn SB mềm còn thể hiện ra vẻ ngoài không khác gì những cô nàng khác.

Gay là một từ thường xuyên bị sử dụng một cách nhầm lẫn. Trên thực tế, “gay” chính là từ chỉ người đồng tính, không chỉ riêng đồng tính nam

Bot hay Bottom hay thụ đều là những từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái bị động trong việc quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c. Có thể hiểu đơn giản là những người nằm dưới- đóng vai trò “vợ”.

Ngoài ra, với những bạn yêu thích nền văn hóa Nhật Bản, bot còn được biết với tên gọi “uke”. Đôi khi người ta cũng gọi những bạn bot thuần là “thuần 0”.

Ngược lại với bot, top hay công đều là từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái chủ động trong quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c – những người nằm trên, đóng vai trò “chồng”.

Tương tự như bot trong tiếng Nhật được gọi là “uke” thì top trong tiếng Nhật được gọi là “seme”. Nếu bot thuần được gọi là “thuần 0” thì top sẽ được gọi là “thuần 1”.

Nếu trong cộng đồng đồng tính có những người chuyên ở vai top hoặc bot thì cũng sẽ có những người có thể thay đổi vai trò của mình giữa bot và top liên tục. Có nghĩa là, với những người này họ có thể là top, nhưng với người yêu khác họ có thể là bot. Và họ được gọi là “center”- ở giữa.

Come out có nghĩa là “lộ diện”, là khái niệm dùng để chỉ sự công khai của những người trong cộng đồng LGBT với những người khác về xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c khác biệt của mình.

Hủ là từ thường được sử dụng để chỉ những cô nàng hoặc những anh chàng thích và bị thu hút bởi những cặp đôi nam – nam hoặc nữ – nữ.

Họ không phải là người đồng tính, nhưng họ rất ủng hộ và dễ cảm thấy phấn khích với các cặp đôi đồng tính trong truyện, trên phim ảnh thậm chí ngoài đời thực.

Hủ gắn liền với các khái niệm có liên quan như:

  • Hủ nữ: cô nàng thích những cặp đôi đồng tính
  • Hủ nam: anh chàng thích các cặp đôi đồng tính
  • Đam mỹ: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nam
  • Bách hợp: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nữ.

Làm sao để nhận biết một người là đồng tính hay song tính?

Làm sao để phân biệt, nhận biết giới tính của bản thân là gì có lẽ cũng là điều băn khoăn của nhiều bạn trong giới trẻ hiện nay.

Có những trường hợp họ bình thường, họ là nam, thích nữ nhưng khi quen, tiếp xúc với những người trong cộng đồng Lgbt họ bắt đầu nghi ngờ mình là giới tính gì vì họ bắt đầu chịu ảnh hưởng từ môi trường xung quanh.

Hay như họ bị nói là “gay”, họ là con gái thích một người con trai nhưng sau đó nhận ra là người con trai đó “bóng” nên họ mong muốn mình thành con trai để yêu thương người kia… Từ đó việc bản thân là giới tính như thế nào đã cớ sự suy nghĩ, làm cách nào để biết được mình là đồng tính hay song tính.

Về cơ bản, người ta có thể không quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c mà vẫn biết xu hướng tính dục của mình thích người cùng giới, khác giới hay cả hai.

Mỗi người trong cộng đồng Lgbt dù là đồng tính, vô tính hay song tính cũng có trải nghiệm rất khác nhau. Có người biết mình là đồng tính hoặc song tính từ lâu, sau đó mới có quan hệ yêu đương, t.ì.n.h d.ụ.c.

Có người lại có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c trước (với những người cùng giới hay khác giới) rồi mới tự xác định xu hướng tính dục của mình.

Định kiến và phân biệt đối xử khiến nhiều người chối bỏ xu hướng tính dục của mình, vì thế việc nhận ra bản thân là đồng tính hay song tính có thể là một quá trình diễn ra từ từ, cũng có thể là một sự đấu tranh từ tư tưởng của bản thân đến sự mạnh mẽ bước ra thế giới bên ngoài.

Ngày kỉ niệm Lgbt của Liên Hiệp Quốc là ngày nào?

Liên Hiệp Quốc chọn ngày 17 tháng 5 hàng năm là “Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Lgbt) – IDAHO” (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia).

Ngày này được chọn để kỷ niệm sự kiện ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã “giải mã” thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và công bố loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Sự kiện 17/5 được tổ chức tại hơn 100 quốc gia, tại tất cả các khu vực trên thế giới từ năm 2004.

Sự kiện này được công nhận chính thức bởi nhiều Chính phủ và tổ chức quốc tế như Nghị viện Châu u và rất nhiều nhà chức trách địa phương. Hầu hết các cơ quan thuộc Liên Hiệp quốc cũng đánh dấu và kỷ niệm ngày này với các sự kiện cụ thể.

Các chính phủ, chính quyền các địa phương, các tổ chức nhân quyền, các doanh nghiệp và những người nổi tiếng đã có những hành động thiết thực, cụ thể ủng hộ sự kiện này…

Các quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính

Mỹ – 2021: Trước khi hôn nhân đồng tính được công nhận trên toàn nước Mỹ ngày 26/6, nhiều bang của quốc gia này đã cho phép các đôi nam hoặc nữ kết hôn như Massachusetts, New York, Washington, Hawaii, New Mexico…

Trong đó, thành phố San Francisco, Los Angeles, Miami từ lâu được xem là thánh địa của các đôi thuộc giới tính thứ 3.

Ireland, 2021: Đây là quốc gia đầu tiên trên thế giới chấp nhận hôn nhân đồng giới bằng cách trưng cầu dân ý với đa số tán thành. Tại đây, các đôi có thể thực hiện bộ ảnh cưới với những tòa lâu đài tuyệt đẹp.

Tuy nhiên, họ phải thông báo trước vài tháng về kế hoạch làm đám cưới của mình và ở lại Ireland ít nhất 15 ngày để được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Phần Lan – 2021: Quốc hội nước này đã thông qua luật hôn nhân sửa đổi cho phép các cặp đồng tính kết hôn với 105 phiếu thuận và 92 phiếu chống.

Slovenia – 2021: Tháng 3 vừa qua, quốc hội nước này cũng vừa thông qua dự luật về quyền tự do kết hôn. Dù đang chờ chữ ký của Tổng thống, dự luật này cũng cho phép các đôi thuộc cộng đồng Lgbt (đồng tính nam, nữ, song tính và chuyển giới) nhận nuôi con.

Luxembourg – 2014: Với số phiếu thuận áp đảo 54/6, đất nước này đã thông qua dự luật mở rộng quyền tự do kết hôn với các cặp đồng tính. Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettle là lãnh đạo đầu tiên trong Liên minh châu u (EU) kết hôn với người tình đồng giới.

Scotland – 2014: Đất nước này có nhiều điểm đến được xem như “thánh địa của người đồng tính”, như Glasgow, Edinburgh cùng đường bờ biển đẹp tuyệt.

Pháp – 2013: Sau khi được luật pháp chấp thuận, Vincent Autin và Bruno Boileau là đôi đồng tính đầu tiên tổ chức đám cưới ở Montpelier.

Ngoài ra, Marais và Riviera cũng là các thiên đường dành cho cộng đồng này với nhiều trải nghiệm lãng mạn trong kỳ trăng mật. Lễ hội cho người đồng tính ở Pháp thường tổ chức vào thứ 7 cuối cùng của tháng 6.

Anh – 2013: Ngoài các câu lạc bộ đêm ở London, Liverpool và Manchester cũng là những thiên đường vui chơi cho mọi người, đặc biệt là người thuộc giới tính thứ 3. Riêng Brighton còn được mệnh danh là “Thủ đô đồng tính”.

Brazil – 2013: Thành phố Rio de Janeiro cũng là địa điểm thân thiện với người đồng tính nhờ nhiều bãi biển đẹp, nhà hàng đẳng cấp và các trò vui chơi giải trí hấp dẫn cho đến đêm khuya.

Chủ nhật đầu tiên sau kỳ nghỉ Corpus Christi (thường là vào tháng 5 hoặc tháng 6), hàng triệu người sẽ tham gia lễ hội dành cho cộng đồng Lgbt ở Sao Paulo.

Uruguay – 2013: Là quốc gia thứ 3 ở Mỹ Latinh chấp nhận kết hôn đồng tính, nơi đây trở thành điểm đến an toàn và thân thiện cho cộng đồng này.

New Zealand -2013: Thông qua luật hôn nhân đồng tính chưa lâu, nhưng đất nước này từ trước đã tỏ thái độ ủng hộ khi đưa ra các khẩu hiệu thân thiện với du khách thuộc giới tính thứ 3, cũng như xây dựng một loạt nhà trọ, khách sạn dành riêng cho cộng đồng này…

Ở đây hay tổ chức các hoạt động vui chơi dành cho du khách đồng tính, trong đó nổi bật nhất là tuần lễ trượt tuyết được tổ chức ở thị trấn Queenstown vào trung tuần tháng 7 hoặc đầu tháng 8.

Đan Mạch – 2012: Ngay giữa trung tâm thủ đô Copenhagen có một quảng trường dành riêng cho người đồng tính với tên gọi “Quảng trường bình đẳng”. Nơi đây là một địa điểm tuyệt vời cho đôi tổ chức lễ thành hôn.

Liên Hiệp Quốc nêu quyền của cộng đồng Lgbt như thế nào?

Liên Hiệp quốc coi “Quyền Lgbt” (các quyền đối với cộng đồng Lgbt như: công nhận hôn nhân đồng giới đối với người đồng tính, cho phép chuyển đổi giới tính với người chuyển giới, công nhận hay cho phép nhận người Lgbt sinh con, nhận con nuôi… trong luật pháp) là vấn đề nhân quyền (quyền con người) và cần thực hiện tại các quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho biết, trong gần 80 quốc gia trên thế giới thì yêu thương một người nào đó cùng giới vẫn được coi là bất hợp pháp, và ở nhiều nước vẫn còn nhiều công dân bị từ chối quyền được sống theo bản sắc giới tính của họ.

Cùng với bất bình đẳng trong trong luật pháp, hội chứng kỳ thị và phân biệt đối xử đang hàng ngày diễn ra để từ chối những phẩm giá con người căn bản của hàng triệu người trên toàn thế giới..

Trong một cuộc họp vào tháng 5 năm 2012 của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR), Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon phát biểu: “Trong tài liệu báo cáo của OHCHR cho thấy có một sự vi phạm đáng lo ngại ở tất cả các vùng miền.

Chúng tôi thấy một hình ảnh của phân biệt đối xử, kỳ thị nhắm vào những con người chỉ vì họ là người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính hay chuyển giới. Có một sự bất công phổ biến tại những nơi làm việc, trường học và bệnh viện, có cả các cuộc tấn công, bạo lực kinh khủng, bao gồm cả tấn công t.ì.n.h d.ụ.c.

Có những người Lgbt đã bị bỏ tù, tra tấn, thậm chí bị giết. Đây là một thảm kịch lớn cho những người phải chịu đựng, và là một vết nhơ bẩn đối với lương tâm chung của chúng ta. Nó cũng là một sự vi phạm luật pháp quốc tế.”

Một báo cáo của tổ chức GLAAD ban hành vào tháng 2 năm 2011 cho thấy, 90% số người chuyển giới phải đối mặt với nạn kỳ thị tại nơi làm việc và tỷ lệ thất nghiệp gấp đôi tỷ lệ chung của dân số.

Hơn một nửa số họ đã bị sách nhiễu hoặc bị từ chối khi cố gắng tiếp cận vào các dịch vụ công cộng. Các thành viên của cộng đồng người chuyển giới cũng gặp phải sự phân biệt đối xử cao độ trong vấn đề chăm sóc sức khỏe hàng ngày.

Thực trạng LGBT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

Quyền LGBT ở Việt Nam bao gồm những gì?

Về số lượng người đồng tính ở Việt Nam, hiện nay chưa có con số thực sự chính xác vì chưa có một cuộc thống kê chính thức mang tính quy mô và toàn diện được tổ chức. Theo ước tính của bác sĩ Trần Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người (chiếm 0,09% dân số).

Một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), Việt Nam hiện đang có khoảng 1,6 triệu người đồng tính, song tính và chuyển giới ở độ tuổi 15-59.

Theo báo cáo từ tổ chức WHO của Liên hợp quốc thì khoảng 3% dân số có thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính, nếu lấy tỷ lệ này áp dụng cho Việt Nam thì hiện nay cả nước có khoảng gần 3 triệu người đồng tính.

Về số lượng người chuyển giới, năm 2021 Bộ Y tế Việt Nam cho biết đã nhận được gần 600 hồ sơ cá nhân đề xuất sửa đổi giới tính mới sau khi họ đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, quyền chuyển đổi giới tính chính thức được hợp pháp hóa tại Việt Nam sau khi Bộ luật dân sự sửa đổi 2021 cho phép chuyển đổi giới tính và thay đổi nhân thân, hộ tịch sau chuyển đổi được Quốc hội thông qua.

Từ cuối thập niên 2000, cùng với sự cởi mở hơn đối với giới LGBT ở các nước phát triển, LGBT ở Việt Nam bắt đầu được đề cập và nhìn nhận dần dần ở nhiều lĩnh vực. Cho đến nay, mặc dù hôn nhân đồng tính chưa được hợp pháp hóa, Việt Nam là nước dẫn đầu ở Đông Nam Á trong công nhận quyền lợi của LGBT.

Tuy nhiên, cũng tương tự như nhiều nước trên thế giới, nam có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c với nam ở đô thị vẫn tiếp tục là nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV, đây là một trong những thử thách lớn cho công tác tuyên truyền và các hoạt động phòng chống HIV.

Luật pháp LGBT ở Việt Nam

Tại Việt Nam hiện nay không có luật cấm quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cấm kết hôn giữa những người đồng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” từ ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Tuy nhiên, Luật 2014 vẫn quy định “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8).

Các chính quyền trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ đưa ra luật về quan hệ đồng tính. Luật Hồng Đức có đề cập đến hãm hiếp, ngoại tình, và loạn luân nhưng không nhắc gì đến đồng tính. Chính quyền thực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính trong các thuộc địa.

Mặc dù mại dâm nữ là phạm pháp, luật pháp không đề cập gì đến mại dâm nam. Tuy nhiên, những hành vi đồng tính có thể bị khởi tố dưới các tội danh như “vi phạm luân lý”. Trong những trường hợp hiếm hoi mà hành vi đồng tính bị trừng phạt, tội danh là “ngoại tình” hay “hãm hiếp”.

Từ cuối thập niên 1990, một vài đám cưới đồng tính rất hiếm hoi xuất hiện nhưng đến cuối thập niên 2010 nhiều đám cưới được tổ chức khắp các tỉnh thành. Ngày 7 tháng 4 năm 1997, hãng thông tấn Reuters đưa tin về đám cưới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh giữa hai người nam.

Tiệc cưới diễn ra tại một khách sạn với 100 khách mời, và bị nhiều người dân phản đối. Ngày 7 tháng 3 năm 1998, hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận. Sau các đám cưới này, Quốc hội thông qua quy định cấm hôn nhân đồng tính vào tháng 6 năm 1998.

Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội liệt kê đồng tính luyến ái trong các “tệ nạn xã hội” cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy.

Năm 2008, chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định quy định việc “xác định lại giới tính” đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khác với người đồng tính, những người này là do bị dị tật bẩm sinh về thể xác, cần phẫu thuật để điều chỉnh lại bộ phận bị dị tật.

Tháng 7 năm 2012, Bộ Tư pháp đưa ra đề xuất sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, trong đó có thể công nhận hôn nhân đồng tính; Việc này làm nhiều báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam có khả năng trở thành nước châu Á đầu tiên công nhận hôn nhân đồng tính.

Tại một cuộc đối thoại trực tuyến, bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết “cá nhân tôi cho rằng, việc công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính cần phải dựa trên những nghiên cứu hết sức cơ bản, những đánh giá tác động nghiêm túc trên rất nhiều khía cạnh xã hội và pháp lý như quyền tự do cá nhân, sự tương thích với văn hóa, tập quán của xã hội và gia đình Việt Nam, tính nhạy cảm, hậu quả xã hội của quy định pháp luật…

Các vấn đề này đang được nghiên cứu trong quá trình chuẩn bị dự án Luật Hôn nhân và Gia đình.”

Ngày 1 tháng 1 năm 2021, một chỉnh sửa mới từ luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, trong đó quy định sẽ không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, coi như hủy bỏ luật cấm năm 2000.

Tuy nhiên, theo Điều 8 về “Điều kiện kết hôn” có ghi “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự (sửa đổi), trong đó có quy định về chuyển đổi giới tính và các quyền, nghĩa vụ liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ đầu 2021. Điều 37, Bộ luật này quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật.

Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, Việt Nam chính thức hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính.

Những chuyện tình đồng tính Việt đẹp nhất được công khai trên truyền thông

Khi Việt Nam đã dần theo kịp xu hướng xã hội mới, tư duy và lối sống hiện đại, họ đã có cái nhìn thoáng hơn về cộng đồng LGBT. Ngày càng có nhiều người dám công khai giới tính và tìm đến hạnh phúc của cuộc đời mình.

Theo Nghị định của chính phủ năm 2013 về việc xóa bỏ những ngăn cấm và quyền hạn đối với những người đồng tính Lgbt thì năm 2021 được đánh giá là một năm khá trầm với các hoạt động của cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều câu chuyện vui, những mối tình đẹp của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên cả nước làm tốn không ít giấy mực của báo giới.

Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi)

Đầu tháng 4/2016, lễ cưới ngập tràn hạnh phúc của cặp đôi anh Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi) đã được tổ chức tại Nha Trang, Khánh Hòa.

Trải qua hơn 18 năm yêu đương với bao khó khăn, trắc trở, từ bàn tay trắng rồi cùng nhau vượt qua bao gian nan của cuộc sống, cuối cùng họ đã đến được với nhau.

Lê Vũ Phong – Nguyễn Ngọc Phong: cặp đôi hơn nhau 21 tuổi

Lê Vũ Phong là một người đàn ông 42 tuổi. Anh tình cờ gặp được người bạn đời của mình – chàng trai trẻ Nguyễn Ngọc Tuấn Phong, 21 tuổi trong một lần lướt facebook.

Hai người đã có nhiều cuộc trò chuyện qua facebook mỗi tối, nhắn tin hỏi thăm nhiều hơn rồi cùng nhau đi ăn sáng, hẹn hò…

Cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung

Ngày 30/7, đám cưới đồng tính nữ của cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung đã gây xôn xao cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

Dù đã bước sang độ tuổi cũng ít người kết hôn, kể cả với người dị tính, tại nhà hàng Quảng Bình, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đám cưới của 2 cô đã diễn ra trong sự chúc phúc của người thân, bạn bè.

Được biết, bà Nhung sinh năm 1971 còn bà Phương sinh năm 1964. Hiện bà Nhung đang sống ở Hải Phòng còn bà Phương là Việt kiều.

Sau đám cưới, hai người đã có khoảng thời gian hạnh phúc cùng nhau đi trăng mật. Đám cưới của 2 cô đã nhận được nhiều lời chúc phúc và ủng hộ của mọi người trên mạng xã hội.

“Tiến Thành x2”: Cặp đôi đồng tính cùng tên hot nhất Facebook

Cái tên Nguyễn Tiến Thành (Thành lớn) và Đặng Tiến Thành (Thành bé) được nhắc đến rất nhiều với cộng đồng LGBT trong năm 2021. Đơn giản, hai người đã có một chuyện tình đẹp và lãng mạn…

Quen nhau qua Facebook, hai chàng trai đã tiến đến với nhau như bao mối tình lãng mạn: đi ăn uống, hẹn hò, rồi tỏ tình…

Được sự ủng hộ của gia đình, cả hai đã thực sự được sống với niềm hạnh phúc mà bao người đồng tính luôn hằng tìm kiếm.

Khi được hỏi về việc có tổ chức đám cưới hay không, Thành cho biết: “Bọn mình nghĩ là yêu nhau thật lòng, nghiêm túc, sẽ nắm tay nhau lâu nhất có thể và nói với nhau rằng: “Ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt!”.

Có lẽ, đó là điều mà các cặp đôi đều luôn mong muốn trong cuộc đời này; không cần hứa hẹn gì cả nhưng hãy yêu nhau thật lâu, nắm tay nhau thật chặt vì “ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt”.

Chuyện tình lãng mạn của MC Ngọc Trang và Jay Lin

Cặp đôi của MC Ngọc Trang – Jay Lin được đánh giá là một mối tình siêu đẹp trong cộng đồng LGBT khi cả hai người đều khá nổi tiếng.

MC Ngọc Trang là gương mặt quen thuộc với nhiều khán giả của đài truyền hình Việt Nam (VTV) qua nhiều chương trình như “Vì bạn xứng đáng”, “Chìa khóa thành công – CEO”, “Mua sắm thú vị”, “Không gian nghệ thuật VTV1”, “Tạp chí đẹp”,…

Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom)

Những ngày cuối năm, cộng đồng LGBT tại Việt Nam lại ngập tràn tin vui khi được chứng kiến một đám cưới đồng tính nữa tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai; một đám cưới với tình yêu và sự chúc phúc của gia đình cả hai bên.

Tình cờ biết nhau qua mạng xã hội từ tháng 7/2015, Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom) đã tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng. Để rồi gặp nhau, hẹn hò và hiểu nhau hơn, mối tình lãng mạn của họ cũng lớn dần cho đến khi cả hai người quyết định làm đám cưới.

Từ những câu chuyện tình cảm với kết thúc có hậu trên đây có lẽ đã khiến trái tim bạn thêm phần nào đồng cảm và suy nghĩ tích cực về cộng đồng này hơn rồi phải không.

Mỗi một năm trôi qua là thêm một năm để chúng ta phát triển, thêm một năm hiện đại, cả thế giới đã công nhận cộng đồng này thì mỗi chúng ta là những bạn đọc trẻ, là tương lai của xã hội cần có cái nhìn khách quan hơn, tốt đẹp hơn.

【#9】Giới Từ Là Gì? Cách Sử Dụng Giới Từ Trong Tiếng Anh

Bạn đang tìm hiểu về và các vấn đề liên quan tới giới từ trong tiếng anh như: Phân loại giới từ, cách sử dụng cũng như vị trí của giới từ trong tiếng anh, bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức cơ bản về giới từ trong tiếng anh. Đây là 1 phần nằm trong nội dung khoá học tiếng anh dành riêng cho người mất căn bản tại cổng đào tạo trực tuyến Academy.vn.

Định nghĩa về giới từ

Giới từ là từ loại chỉ sự liên quan giữa các từ loại trong cụm từ, trong câu. Những từ thường đi sau giới từ là tân ngữ (Object), Verb + ing, Cụm danh từ …

Ví dụ:

Ta thấy rõ, ở ví dụ a., “the room” là tân ngữ của giới từ “into”. Ở ví dụ b., “the room” là tân ngữ của giới từ “in”.

Chú ý: Các bạn phải luôn phân biệt trạng từ và giới từ, vì thường khi một từ có hai chức năng đó (vừa là trạng từ và giới từ). Điều khác nhau cơ bản là Trạng từ thì không có tân ngữ theo sau.

Có thể nói việc dùng các giới từ không phải dễ, vì mỗi nước có cách dùng giới từ đặc biệt; vậy ta phải rất chú ý đến nó ngay từ lúc mới học môn ngoại ngữ đó nói chung và tiếng Anh nói riêng. Trong tiếng Anh, người ta không thể đặt ra các quy luật về các phép dùng giới từ mang tính cố định cho mỗi giới từ đó – cùng một giới từ, khi đi với từ loại khác nhau thì tạo ra nghĩa khác nhau. Vậy chúng ta nên học thuộc mỗi khi gặp phải và học ngay từ lúc ban đầu.

Sau TO BE, trước danh từ:

+ THE BOOK IS ON THE TABLE. = Quyển sách ở trên bàn.

+ I WILL STUDY IN AUSTRALIA FOR 2 YEARS. = Tôi sẽ học ở Úc trong 2 năm.

Sau động từ: Có thể liền sau động từ, có thể bị 1 từ khác chen giữa động từ và giới từ.

+ I LIVE IN HO CHI MINH CITY = Tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh.

+TAKE OFF YOUR HAT! Cởi nón của bạn ra!

+ I HAVE AN AIR-CONDITIONER, BUT I ONLY TURN IT ON IN SUMMER. = Tôi có máy lạnh, nhưng tôi chỉ bật nó lên vào mùa hè.

Sau tính từ:

+ I’M NOT WORRIED ABOUT LIVING IN A FOREIGN COUNTRY. = Tôi không lo lắng về việc sốngở nước ngoài.

+ HE IS NOT ANGRY WITH YOU. = Anh ấy không giận bạn.

Một số sai lầm thường gặp khi sử dụng giới từ trong tiếng anh

1)Suy luận từ cách dùng đã gặp trước đó :

Ví dụ :

Trước đó ta gặp : worry about : lo lắng về

2)Không nhận ra là giới từ thay đổi vì thấy cùng một danh từ:

Ví dụ:

Trước đó ta gặp : in the morning

3)Bị tiếng Việt ảnh hưởng :

Hình thức của giới từ trong tiếng anh – học tiếng anh

1)Giới từ đơn ( simple ppositions ):

Là giới từ có một chữ : in, at, on, for, from, to, under, over, with …

2)Giới từ đôi ( doubleppositions ):

Là giới từ được tạo ra bằng cách hợp 2 giới từ đơn lại :Into, onto, upon, without, within, underneath, throughout, from among … -Ex: The boy runs into the room ( thằng bé chạy vào trong phòng )

-Ex: He fell onto the road ( anh ta té xuống đường )

-Ex: I chose her from among the girls ( tôi chọn cô ấy từ trong số các cô gái )

3) Giới từ kép ( compound ppositions ):

Là giới từ được tạo thành bằng tiếp đầu ngữ a hoặc be: About, among, across , amidst, above, against, Before, behind, beside, beyond, beneath, between, below…

4) Giới từ do phân từ ( participle ppositions ):

According to ( tùy theo), during ( trong khoảng ), owing to ( do ở ), pending ( trong khi) , saving = save = except ( ngoại trừ ), notwithstanding ( mặc dù ) , past ( hơn, qua ) considering ( xét theo ) concerning/ regarding /touching ( về vấn đề, về ), excepting = except ( ngoại trừ )

-Ex: She is very intelligent, considering her age. ( xét theo tuổi thì cố ấy rất thông minh )

5) Cụm từ được dùng như giới từ: Giới từ loại này bao gồm cả một cụm từ :

-Because of ( bởi vì )

-By means of ( do, bằng cách)

-In spite of (mặc dù)

-In opposition to ( đối nghịch với )

-On account of ( bởi vì )

-In the place of ( thay vì )

-In the event of ( nếu mà )

_Ex: In the event of my not coming, you can come home.( nếu mà tôi không đến thì anh cứ về)

-With a view to ( với ý định để )

_Ex: I learn English with the view of going abroad.( tôi học TA với ý định đi nước ngoài)

-For the shake of ( vì )

_Ex: I write this lesson for the shake of your progress. ( tôi viết bài này vì sự tiến bộ của các bạn)

-On behalf of ( thay mặt cho)

_Ex: On behalf of the students in the class, I wish you good health ( thay mặt cho tất cả học sinh của lớp, em xin chúc cô được dồi dào sức khỏe)

-In view of ( xét về )

_Ex: In view of age, I am not very old. ( xét về mặt tuổi tác, tôi chưa già lắm )

-With reference to ( về vấn đề, liên hệ tới)

_Ex: I send this book to you with reference to my study.( tôi đưa bạn quyển sách này có liên hệ đến việc học của tôi. )

6) Giới từ trá hình: Đây là nhóm giới từ được ẩn trong hình thức khác:

At 7 o’clock ( o’ = of ): Lúc 7 giờ

Các loại giới từ thường gặp trong tiếng anh

1) Giời từ chỉ thời gian:

-At : vào lúc ( thường đi với giờ )

-On : vào ( thường đi với ngày )

-In : vào ( thường đi với tháng, năm, mùa, thế kỷ )

-Before: trước

-After : sau

-During : ( trong khoảng) ( đi với danh từ chỉ thời gian )

2) Giời từ chỉ nơi chốn:

-At : tại ( dùng cho nơi chốn nhỏ như trường học, sân bay…)

-In : trong (chỉ ở bên trong ) , ở (nơi chốn lớn thành phố, tỉnh ,quốc gia, châu lục…)

-On,above,over : trên

_On : ở trên nhưng chỉ tiếp xúc bề mặt.

3) Giời từ chỉ sự chuyển dịch:

-To, into, onto : dến

+to: chỉ hướng tiếp cận tới người,vật,địa điểm.

+into: tiếp cận và vào bên trong vật,địa điểm đó

+onto: tiếp cận và tiếp xúc bề mặt,ở phía ngoài cùng của vật,địa điểm

-From: chỉ nguồn gốc xuất xứ Ex: i come from vietnamese

-Across : ngang qua Ex: He swims across the river. ( anh ta bơi ngang qua sông)

-Along : dọc theo

-Round,around,about: quanh

4) Giới từ chỉ thể cách:

-With : với

-Without : không, không có

-According to: theo

-In spite of : mặc dù

-Instead of : thay vì

5) Giới từ chỉ mục đích:

-To : để

-In order to : để

-For : dùm, dùm cho

-Ex: Let me do it for you : để tôi làm nó dùm cho bạn.

-So as to: để

5) Giới từ chỉ nguyên do:

-Thanks to : nhờ ở

-Ex: Thanks to your help, I passed the exam ( nhờ sự giúp đở của bạn mà tôi thi đậu).

-Through : do, vì

-Ex: Don’t die through ignorance ( đừng chết vì thiếu hiểu biết).

-Because of : bởi vì

-Owing to : nhờ ở, do ở

-Ex: Owing to the drought,crops are short ( vì hạn hán nên mùa màng thất bát)

-By means of : nhờ, bằng phương tiện

1/about:

  • Xung quanh : Ex: I looked about her :tôi nhìn xung quanh cô ấy
  • Khắp nơi, quanh quẩn : Ex: He walked about the yard. hắn đi quanh sân.
  • Khoảng chừng Ex: It is about 3 km : độ khoảng 3km
  • Về Ex: What do you think about that? bạn nghỉ gì về điều đó?

3/At

  • Tại ( nơi chốn ) Ex: The teacher is at the desk: cô giáo đang ở tại bàn làm việc.
  • Lúc ( thời gian) Ex: I get up at 6.00 : tôi thức dậy lúc 6 giờ
  • Thành ngữ chỉ trạng thái: Ex: -At work : đang làm việc
  • At play : đang chơi
  • At oen’s prayers : đang cầu nguyện
  • At ease : thoải mái
  • At war : đang có chiến tranh
  • At peace : đang hòa bình
  • Thành ngữ chỉ chiều hướng Ex: -Rush at sb : lao về phía ai
  • Point at : chỉ vào Ex: The teacher pointed at me : cô giáo chỉ vào tôi.
  • Thành ngữ chỉ số lượng Ex: I estimated the class at 50 : tôi độ lớp học chừng 50 người.

4/BY:

  • Kế bên, cạnh Ex: I sat by her : tôi ngồi cạnh cô ấy
  • Trước Ex: You must come here by ten o’clock : bạn phải đến đây trước 10giờ.
  • Ngang qua Ex: She passed by my house : cô ấy đi ngang qua nhà tôi.
  • Bởi Ex:The cake was made by me : cái bành được làm bởi tôi.
  • Ở chổ Ex: I took her by the hand. tôi nắm tay cô ấy
  • Theo Ex: Don’t judge people by their appearances : đừng xét người theo bề ngoài.
  • Chỉ sự đo lường Ex: They sell beer by the litter : họ bán bia tính theo lít.

Một số thành ngữ:

4/FOR 6/IN

Chỉ nơi chốn:

  • Chỉ thời gian:
  • Buổi : In the moning
  • Từ tháng trở lên: in May , in spring, in 2008, in the 19th century.

Chỉ trạng thái

  • Be in debt : mắc nợ
  • Be in good health : có sức khỏe
  • Be in danger : bị nguy hiểm
  • Be in bad health : hay đau yếu
  • Be in good mood : đang vui vẻ
  • Be in tears : đang khóc

Một số thành ngữ khác

  • -In such case :trong trường hợp như thế
  • -In short, in brief : tóm lại
  • -In fact : thật vậy
  • -In other words : nói cách khác
  • -In one word : nói tóm lại
  • -In all: tổng cộng
  • -In general : nói chung
  • -In particular : nói riêng

Bài tập về giới từ trong tiếng anh

I. Chọn MỘT trong HAI giới từ trong ngoặc để điền vào chỗ trống trong mỗi câu.

II. Chọn MỘT trong BA giới từ trong ngoặc để điền vào chỗ trống trong mỗi câu.

III. Chọn MỘT trong BỐN giới từ trong ngoặc để điền vào chỗ trống trong mỗi câu.

IV. Điền vào mỗi chỗ trống một giới từ đúng.