Soạn Bài Ca Dao Dân Ca Lớp 7.

--- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giảng Dạy Ca Dao, Dân Ca Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 7
  • Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca
  • Một Số Đặc Điểm Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước (Chi Tiết)
  • Phân Tích Những Bài Ca Dao Hài Hước
  • Soạn bài Ca Dao dân ca lớp 7.

    Soạn bài Ca Dao dân ca lớp 7.

    1. Thể loại.

    Ca dao dân ca là chỉ thể loại trữ tình dân gian, kết hợp với lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người.

    Dân ca là những sáng tác kết hợp với lời và nhạc.

    Ca dao: bao gồm những bài thơ mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ của dân gian.

    2. Đặc trưng của thể loại ca dao, dân ca.

    Ca dao, dân ca là những lời hát và những lời thơ mang âm điệu nhẹ nhàng được nhân dân sáng tác và truyền miệng qua những lời thơ tiếng hát, nó có sức ảnh hưởng rất mạnh mẽ bởi đã được tích lũy kinh nghiệm và truyền từ đời này sang đời khác.

    Ca dao dân gian đặc trưng là sáng tác truyền miệng, đây là những điệu ca được nhân dân sáng tác qua quá trình sản xuất, nó được đức kết thành những kinh nghiệm lớn lao và sáng tác thành ca dao, dân gian.

    Những câu ca dao đó được sáng tác nhằm có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc và nó mang cho người đọc cảm giác nhẹ nhàng tình cảm, người đọc sẽ bị cuốn hút vào những tình cảm của những câu ca du dương và sâu lắng…

    Ca dao dân ca được chia thành nhiều loại: ca dao, dân ca nói về lao động sản xuất, nói về tình cảm gia đình, nói về tình yêu quê hương đất nước,…

    Những sáng tác đó rất gần gũi và gắn bó với đời sống con người trong lao động và sản xuất, nó có ý nghĩa nhắc nhở mọi người nên sống có đạo lý, và đây là những bài học được rút ra do kinh nghiệm và quá trình sống để lại.

    3. Nội dung trong dân ca phản ánh.

    Dân ca, ca dao là những thể loại rất phong phú trong tất cả các lĩnh vực nó đều phản ánh và đúc kết thành những câu ca, được lưu truyền trong nhân dân rất rộng rãi, nó có ý nghĩa vô cùng to lớn.

    Những câu ca dao, dân gian là những kinh nghiệm lịch sự của nhan dân để lại đó là những bài giáo dục về cách sống của con người, những nỗi nhớ, hay tình cảm của gia đình, những câu than thân, hay những câu ca dao tình nghĩa..

    Trong thể loại ca dao trữ tình: Hỡi cô tát nước bên đàng sao cô lại múc trăng vàng đổ đi.

    Trong ca dao về tình cảm gia đình: Công cha như núi thái sơn nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra một lòng thờ mẹ kính cha cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

    Tình cảm anh em: Anh em như thể chân tay, lá lành đùm lá rách.

    Trong thể loại: ca dao trào phúng bông đùa: Lỗ mũi mười tám gánh lông, chồng yêu chồng bảo râu rồng chồng cho.

    Ca dao lao động: Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy, cơn đằng đông vừa làm vừa chơi…

    4. Những biện pháp nghệ thuật.

    Những câu ca dao được thể hiện rất sâu sắc nó diễn tả những kinh nghiệm được đúc kết từ thế hệ này tới thế hệ khác được lưu truyền trong dân gian theo phương thức truyền miệng và được lưu truyền rất rộng rãi.

    Ca dao dân ca xuất hiện trong văn học rất gần gũi và gắn bó với đời sống của nhân dân nó có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sinh hoạt và cộng đồng của con người, các thể loại trong ca dao dân ca phong phú đa dạng nó tạo nên nhưng thể loại phong phú và hấp dẫn.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu Ca Dao, Dân Ca Lớp 7
  • Chuyên Đề Giảng Dạy Ca Dao
  • Soạn Bài Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình Lớp 7
  • Giáo Án Tự Chọn 10 Chuyên Đề 10 : Ca Dao Dân Ca
  • Soạn Bài : Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • Ca Dao Là Gì? Những Câu Ca Dao Bằng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Khoa Tiếng Anh Là Gì
  • Chùm Những Bài Ca Dao Hài Hước, Trào Phúng, Châm Biếm Đặc Sắc Nhất
  • Tuần 9. Ca Dao Hài Hước, Châm Biếm
  • Đặc Điểm Phong Cách Ngôn Ngữ Trong Ca Dao Cổ
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Cảm Gia Đình.
  • Ca dao là gì?

    Ca dao là thơ cơ dân gian của Việt Nam. Những câu ca dao này được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Nhờ đó mà người dân ghi nhớ và thường xuyên sử dụng khi giao tiếp, viết văn, thơ.

    Ca dao được thể hiện dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định. Nhưng người ta lại rất dễ ghi nhớ ca dao vì chúng được phổ theo thể lục bát. Thể loại này mang tới thanh điệu hay, đồng thời dễ thuộc, dễ lưu truyền.

    Ca dao mang rất nhiều nét nghĩa. Thông qua ca dao, người dân Việt Nam phản ánh lịch sử, nếp sống, phong tục, truyền thống, thậm chí là những sự châm biếm sâu cay.

    Ca dao chỉ đơn thuần được sáng tạo, truyền miệng bởi nhân dân. Do đó, không ai biết được nguồn gốc, tác giả ca dao là ai.

    Những câu ca dao mang rất nhiều ý nghĩa đối với truyền thống, văn hoá Việt Nam.

    Bao gồm nét nghĩa đen và nghĩa bóng

    Ca dao là những câu nói của nhân dân đúc kết từ những kinh nghiệm, có vần điệu. Người dân thường mượn hình ảnh nào đó trong dân gian, để chỉ lớp nghĩa sâu sắc hơn. Chính vì thế, ca dao luôn bao gồm cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

    Thể hiện những truyền thống văn hoá

    Ca dao là sản phẩm của nhân dân, lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ngoài ra, thông qua đó, chúng ta còn biết thêm về vần điệu, thể thơ của tiếng Việt.

    Những cách chơi từ hay mượn hình ảnh thông minh cũng góp phần thể hiện điều này rõ nét nhất.

    Lưu truyền lại kinh nghiệm dân gian

    Người dân Việt Nam từ xa xưa đã có hiểu biết về những hiện tượng tự nhiên. Họ lưu giữ và truyền lại cho nhau từ đời này sang đời khác. Cho nên, có thể nói, ca dao là hình thức lưu truyền lại kinh nghiệm vô cùng hiệu quả.

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau – Courtesy costs nothing

    Hoạn nạn mới biết bạn hiền – A friend in need is a friend indeed

    Anh em xa không bằng láng giềng gần – A stranger nearby is better than a far-away relative

    Bắt cá hai tay, tuột ngay cả cặp – If you run after two hares you will catch neither

    Cười người hôm trước hôm sau người cười – He who laughs today may weep tomorrow

    Giàu đổi bạn, sang đổi vợ – Honour charges manners

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Cây Hoa Sen Trong Bài Ca Dao “tát Nước Đầu Đình”
  • Cây Cầu ” Dải Yếm ” Bắc Qua Dòng Sông ” Một Gang ” Trong Ca Dao
  • Ca Dao Là Tiếng Nói Tình Cảm Của Con Người
  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao
  • Ca Dao, Dân Ca Là Gì ? Nêu Các Thể Thơ Ta Thường Bắt Gặp Trong Ca Dao, Dân Ca Và Cho Thí Dụ Minh Họa
  • Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Bài Ca Dao Than Thân Thân Em
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa (Chi Tiết)
  • Tuần 9. Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Đặc Trưng Kết Cấu Ca Dao Trữ Tình
  • 1. Khái niệm

    – Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian.

    – Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự.

    2. Đặc điểm của ca dao

    – Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm…

    – Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…).

    II. RÈN KĨ NĂNG

    1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau:

    – Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa.

    – Nội dung yêu thương tình nghĩa:

    + Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.

    + Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ).

    2. Về các bài 1, 2

    a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.

    b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng:

    – Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?).

    – Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa.

    3. Về bài 3

    a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:

    Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. – Ai làm bầu bí đứt dây

    Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng.

    Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…

    b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ ( mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.

    c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    4. Về bài 4

    Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.

    Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa ( khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.

    Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.

    Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.

    Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

    5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, là ngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình.

    Hai ta cách một con sông

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang

    Cách nhau có một con đầm

    Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc lá ngang Đố ngư­ời bên ấy bư­ớc sang cành trầm

    Gần đây mà chẳng sang chơi

    Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em…

    Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao:

    Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như­ những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nh­ưng đều có giá trị thẩm mĩ cao.

    Ở bài ca dao dư­ới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) như­ng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hư­ớng đến chàng trai (ngư­ời ở phía bên kia).

    6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao ( gừng cay – muối mặn).

    Muốigừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

    Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách ( Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.

    7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là:

    – Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như…

    – Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn…

    – Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai…

    – Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở.

    – Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).

    Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả.

    8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”:

    – Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày – Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa – Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu – Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày – Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.

    Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:

    – Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh : thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.

    – Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.

    – Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

    9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn:

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Phân Biệt Thành Ngữ Với Tục Ngũ
  • Cận Cảnh Độ Nguy Hiểm Của Loài Cá Ăn Thịt Người Piranha
  • Thơ Trào Phúng Là Gì ?
  • Tiền Và “triết Đạo Cà Phê Trung Nguyên”
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Công (Public Policy) Là Gì? Đặc Trưng
  • Khái Niệm Chính Sách Tiền Tệ
  • Khái Niệm Và Công Cụ Của Chính Sách Tiền Tệ
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Chính Sách Tiền Tệ Trong Việc Kiểm Soát Lạm Phát
  • Khái Niệm Về Chính Sách Của Tiền Tệ
  • 1. Tóm tắt nội dung bài học

    • Khái niệm về ca dao
    • Những đặc trưng cơ bản về ca dao (nội dung và nghệ thuật)
    • Nội dung của các bài ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa trong SGK thể hiện nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ.
    • Nghệ thuật dân gian đã tô đậm thêm vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong các câu ca dao.

    2.

    Hướng dẫn học bài

    Câu 1: Bài 1, 2

    a) Hai lời than thân đều mở đầu bằng Thân em như… với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thấn là ai và thân phận họ như thế nào?

    • Hai lời than thân đều mở đầu bằng “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi:
    • Cả hai lời than thân đều của người con gái chưa có chồng. Thân phận của họ chỉ là những người bình thường, thua kém trong xã hội, cho nên mới chờ đợi sự may rủi của cuộc đời (không biết vào tay ai), cũng như cầu mong mọi người thấu hiểu cho thực chất bên trong (ngọt bùi), chứ không căn cứ vào vẻ bề ngoài (như củ ấu).

    b) Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại mang sắc thái riêng được diễn tả bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau. Anh (chị) cảm nhận được gì qua mỗi hình ảnh? (Chú ý mối liên hệ giữa tấm lụa đào với phất phơ giữa chợ biết vào tay ai; giữa ruột trong thì trắng với vỏ ngoài thì đen).

    Trong nỗi đau đó, ta vẫn thấy nét đẹp của họ. Đó là nét đẹp gì và nó được ẩn chứa trong lời than thân như thế nào?

      Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại có những sắc thái riêng, được diễn ra bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau:

    Bài 1:

    • “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” có ý nghĩa biểu thị nỗi đau của ngưòi con gái đẹp (được ví như tấm lụa đào) không biết sẽ phải lấy người chồng như thế nào? Đây cũng là nỗi đau của những thân phận con người bị rẻ rúng, bị coi như món hàng, đem ra để mua bán, đổi chác (Ghi chú: Với những hoàn cảnh giao tiếp nhất định, nội dung câu ca dao trên được hiểu như đã phân tích, vẫn có thể hiểu nó theo cách khác: Lời hát của người con gái kiêu kì đang thách thức các chàng trai).
    • Nét đẹp của người con gái trong câu ca này mang màu sắc sang trọng, cao quý, kiêu kì (được ví như tấm lụa đào).

    Bài 2: “Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

    • Nỗi đau của người con gái lại được biểu hiện trong hoàn cảnh không được đánh giá đúng mức chỉ vì hình thức bên ngoài xấu xí (như củ ấu). Sự trái ngược giữa hình thức với nội dung “Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen” khiến cho cô gái bị hiểu nhầm (Tuy nhiên, cũng có thể hiểu đâu là một cách nói khiêm nhường cốt để nhấn mạnh vẻ đẹp bên trong).
    • Nét đẹp của cô gái trong bài ca này chủ yếu nhấn mạnh vẻ đẹp nội tâm.

    Câu 2: Bài 3

    a) Cách mở đầu bài ca dao này có gì khác với hai bài trên? Anh (chị) hiểu từ “ai” trong câu “Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!” như thế nào?

      Bài ca dao này không mở đầu trực tiếp như hai bài thơ trên mà dùng lối nói đưa đẩy, gợi cảm hứng. Cách mở đầu này thường xuất hiện trong ca dao với hình thức: “Trèo lên cây bưởi hái hoa…”, “Trèo lên cây gạo cao cao…”. Nếu hình thức “Thân em như…” là nỗi đau về thân phận người phụ nữ thì hình thức “Trèo lên…” là nỗi đau vì tình duyên lở dở, thường là lời của chàng trai.

    b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững, thuỷ chung. Điều đó được nói lên bằng một hệ thống so sánh, ẩn dụ như thế nào? Vì sao các tác giả dân gian lại lấy những hình ảnh của thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tình nghĩa của con người?

      “Ai” là đại từ phiếm chỉ hàm ý chỉ những thế lực cản trở tình duyên đôi lứa. Câu hỏi tu từ bật ra như lời ai oán, xót xa cho số phận. Tình duyên không thành nhưng tình nghĩa của người con trai vẫn trước sau không thay đổi. Tình nghĩa đó được ví như mặt trời, mặt trăng, các vì sao từ xưa đến nay vẫn thế. Nhân vật trữ tình đã lấy hình ảnh thiên nhiên, vũ trũ là cái to lớn, vĩnh hằng để nói lên tình nghĩa con người bền vững, thủy chung.

    c) Phân tích để làm rõ vẻ đẹp của câu cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” (xem kĩ chú thích)

      Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    Câu 3: Bài 4: Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung – nhất là thương nhớ người yêu – vậy mà trong bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm. Đó là nhơ thủ pháp gì và thủ pháp đó đã tạo được hiệu quả nghệ thuật như thết nào (phân tích thêm cách gieo vần trong thể thơ bốn tiếng của bài ca dao)?

    • Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.
    • Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.
    • Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.
    • Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.
    • Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

    Câu 4: Bài 5: Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao, nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp độc đáo của hình ảnh nghệ thuật này (có thể so sánh với những hình ảnh chiếc cầu khác trong ca dao về tình yêu).

      Đây là một câu ca dao rất đẹp, giàu chất thơ. Nó là sự thổ lộ tình yêu của người con gái một cách ý nhị. Hình ảnh chiếc cầu là một chi tiết xuất hiện nhiều trong ca dao như : “Cô kia cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”. “Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu”. Xưa nay, ước mong được ở gần nhau là ước mơ chính đáng của các đôi lứa yêu nhau. Ca dao đã thể hiện ước mong đó một cách sâu sắc, duyên dáng. Cô gái ước mong “sông rộng một gang” để “bắc cầu dải yếm” cho chàng sang chơi. Hình ảnh chiếc cầu giải yếm mãnh liệt và cũng là một ý tưởng táo bạo của cô gái.

    Câu 5: Bài 6: Vì sao khi nói đến tình nghĩa của con người, ca sao lại dùng hình ảnh muối – gừng? Phân tích ý nghĩa biểu tượng và giá trị biểu cảm của hình ảnh này trong bài ca dao và tìm thêm một số câu ca dao khác có sử dụng hình ảnh muối – gừng để minh hoạ.

    • Khi nói đến tình nghĩa, ca dao Việt Nam đã dùng hình ảnh muối và gừng bởi hai phẩm vật này có những nét đặc trưng giống với tình cảm con ngưòi. Gừng là loại có vị cay để lại dư vị (không giống như các loại có vị cay khác như ớt, quế…) muốn cũng là một loại có vị mặn có hậu (dễ chịu về sau). Nói chung cả hai vị đều rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người, và chúng đều mang đặc điểm chung là có dứ vị dễ chịu. Điều đó thích hợp để ví với tình cảm có trước có sau, sâu nặng, mặn mà…
    • Phân tích ý nghĩa biểu trưng của gừng và muối trong bài ca dao:

    Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày Có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa

    • Muối mặn, gừng cay biểu trưng cho nghĩa tình mặn nồng.
    • Ba năm, chín tháng biểu trưng cho sự bền lâu, vĩnh cửu.
    • Ba vạn sáu ngàn ngày tức 100 năm, .biểu trưng cho suốt cuộc đời, cũng có nghĩa là vĩnh hằng.

    Câu 6: Qua chùm ca dao đã học, anh (chị) thấy những biệtn pháp nghệ thuật nào thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có nét gì khác so với nghệ thuật thơ của văn học viết?

    • Tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn).
    • Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.
    • Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn.
    • Một số câu ca dao có biểu tượng muối – gừng:

    “Tay nâng chén muối, đĩa gừng Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau”

    hay

    “Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay, Đạo nghĩa cang thường chớ đổi từng ngày Dẫu làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày, ta cũng theo nhau”.

    3. Hướng dẫn luyện tập:

    Câu 1: Tìm 5 bài ca dao mở đầu bằng thân em như… và phân biệt sắc thái ý nghĩa của chúng

    Câu 2: Tìm thêm những bài ca dao nói về nỗi nhớ người yêu, về cái khăn để thấy bài Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống của các bài ca dao đó lại vừa có vị trí đặc biệt, độc đáo riêng. Từ đó, lí giải ý nghĩa câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm: “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (trích Trường ca mặt đường khát vọng)

    Câu 1:

    Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”:

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày “ Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa “ Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu “ Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày “ Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.”

      Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:

      • Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh: thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.
      • Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.
      • Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

    Câu 2: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than” “Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên” “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Đêm quên giấc ngủ, ngày mơ tiếng cười”. “Nhớ anh em chỉ nằm dài Cơm ăn thì nghẹn, nước mắt chảy hoài không khô” “Trông anh đã mấy thu tròn, Khăn lau nước mắt đã mòn con ngươi”. “Nhớ chàng như bút nhớ nghiên Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông”. “Nhớ chàng như vợ nhớ chồng Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây”.

      Ca dao có hình ảnh chiếc khăn:

    “Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa” “Nhớ khi khăn mở, trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình” “Cầm lược thì nhớ tới gương Cầm khăn nhớ túi, đi đường nhớ nhau” “Ước gì anh hóa ra hoa Để em nâng lấy rồi mà cài khăn”. “Khăn đào vắt ngọn cành mơ Mình xuông đằng ấy, bao giờ mới lên”. “Em về anh mượn khăn tay Gói câu tình nghĩa lâu ngày sợ quên”. “Khăn rằn quấn cổ hay hay Thấy em ôm ốm mình dây anh thương liền”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Than Thân
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Hài Hước, Châm Biếm
  • Ca Dao Là Gì? I. Giới Thiệu Chung Về Ca Dao 1.thuật Ngữ Và Khái Niệm…
  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Việt Nam Trường Thpt Vũng Tàu
  • Giáo Án Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Ngữ Văn 10
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Giáo Án Theo Chủ Đề Dạy Học: Ca Dao (Ngữ Văn 10)
  • ✅ Ý Nghĩa Câu Ca Dao “bầu Ơi Thương Lấy Bí Cùng, …”
  • ✅ Ý Nghĩa Câu Ca Dao Bầu Ơi Thương Lấy Bí Cùng (Bài 2)
  • Ca Dao Là Tâm Hồn Dân Tộc
  • Câu 2: Các bài 2,3,4: Tiếng cười trong ba bài ca dao có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹo riêng của mỗi bài ca dao.

    Khác với bài ca dao 1 là tiếng cười tự trào, tự vui với những hoàn cảnh, tâm sự của chính mình; thì bài ca dao 2,3,4 là tiếng cười phê phán những loại người khác nhau với những thói hư, tật xấu đáng cười trong xã hội.

    +Nội dung: Chế giễu loại đàn ông yếu đuối, dù có sức khỏe nhưng những hành động và việc làm lại không đáng. Có thể có những người yếu đuối về thể chất, nhưng không ai yếu đến mức chỉ gánh nổi hai hạt vừng mà vẫn phải khom lưng chống gối (có nghĩa là đang cố gắng hết sức).

    Nhờ biện pháp đối lập, nói quá, tiếng cười sâu sắc đã được tạo nên đầy sảng khoái.

    + Nội dung: Chế giễu loại đàn ông lười nhác, không có ý chí trong cuộc sống. Hình ảnh người đàn ông “ngồi bếp sờ đuôi con mèo” thể hiện sự lười nhác, thụ động, chỉ biết ngồi ở xó nhà, ăn bám vợ.

    Câu ca dao sử dụng biện pháp sự đối lập giữa “chồng người” với “chồng em”, vừa mang ý nghĩa phê phán sâu sắc, vừa thể hiện sự hài hước.

    + Nội dung: Chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên nhưng lại không hề nhận ra những điểm xấu đó của mình. Sự liệt kê các điểm xấu cả về hình thức và tính cách đã thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên nhưng ưa nịnh, đỏng đảnh – một loại người không hiếm gặp trong xã hội.

    Câu ca dao sử dụng biện pháp phóng đại và những hình ảnh liên tưởng phong phú.

    Câu 3: Những biện pháp nghệ thuật nào thường được sử dụng trong ca dao hài hước.

    Qua các bài ca dao trên , có thể thấy ca dao hài hước thường sử dụng những biện pháp nghệ thuật như sau:

    + Lối nói cường điệu hóa, khoa trương, phóng đại, sự tương phản đối lập.

    + Sử dụng các hình ảnh hài hước, chi tiết hàm chứa ý nghĩa.

    + Cách nói hóm hỉnh, ý nhị, sâu sắc nhưng vẫn gần gữi với lời ăn tiếng nói hằng ngày.

    + Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

    Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, những tiếng cười đặc sắc trong ca dao – tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tự cười mình) và tiếng cười châm biếm, phê phán – thể hiện tâm hồn lạc quan, yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan của người bình dân.

    Câu 1: Nêu cảm nghĩ thật của mình về lời thách cưới của cô gái: Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Qua đó, anh (chị) thấy tiếng cười tự trào của người dân lao đông trong cảnh nghèo đáng yêu, đáng trân trọng như thế nào?

    + Sau những dự định về sính lễ của chàng trai, cô gái đưa ra sự trả lời ý nhị với các bày tỏ đầy thông minh, kín đáo về sự bằng lòng với tình yêu mà mình đã chọn:

    Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    + Tiếp đó, cô gái thách cưới:

    Người ta thách lợn thách gà

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.

    + Lời thách cưới của cô gái khiến ta vừa có chút cảm thương cho sự nghèo khó của gia đình, nhưng lại vừa trân trọng vì sự thông minh, hóm hỉnh và cảm thông trong cách nói hài hước của cô.

    + Đằng sau sự bàn tính về chuyện thách cưới – dẫn cưới là sự thật về việc thách cưới nặng nề của người xưa.

    + Qua đó, ta thấy được tiếng cười tự trào của người dân lao đông trong cảnh nghèo thật đáng yêu, đáng trân trọng. Nó vừa thể hiện sự lạc quan của con người trước hoàn cảnh sống còn nhiều khó khăn, nhưng đồng thời cũng biểu hiện sự thông minh, sắc xảo, hóm hỉnh của những tiếng cười lao động.

    Câu 2: Tìm các bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà, nghiện ngập rượu chè, tệ nạn tảo hôn, đa thê, phê pháp thầy bói thầy cúng, thầy phù thủy trong xã hội cũ.

    -Phê phán thói lười nhác

    Ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà Bồng bồng cõng chồng đi chơi, Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng. Chị em ơi! Cho tôi mượn cái gàu sòng, Để tôi tát nước, múc chồng tôi lên.

    -Phê phán thầy bói, thầy cúng:

    Bói cho một quẻ trong nhà Con heo bốn cẳng, con gà hai chân

    -Phê phán thói rượu chè, cờ bạc:

    Hết tiền, đã có mẹ cu bán hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Giáo Viên Chủ Nhiệm Ra Tiếng Anh Và Những Cần Biết
  • Học Từ Vựng Siêu Nhanh, Siêu Dễ Với 10 Tips Sau Đây
  • 56 Thuật Ngữ Tiếng Anh Xuất Nhập Khẩu Thông Dụng Nhất
  • Thạch Cao Tiếng Anh Là Gì ? Từ Vựng Tiếng Anh Về Thạch Cao Trang Trí Nhà
  • Dịch Và Giới Thiệu Văn Học / Thiếu Khanh
  • Giáo Án Bài Ca Dao Hài Hước

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Đầy Đủ Nhất
  • Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 7 Chuyên Đề Ca Dao
  • Chuyên Đề Dạy Ca Dao N.văn 7
  • Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • 2. Kĩ năng 3. Thái độ, phẩm chất 1. Giáo viên 2. Học sinh

    Sĩ số: ………………………………..

    2. Kiểm tra bài cũ 3. Bài mới

    Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

    Hoạt động 2. Hình thành kiến thức mới

    GV Hd hs tìm hiểu phần tiểu dẫn trong sgk.

    – Nhắc lại khái niệm về ca dao?

    I. Tìm hiểu chung:

    1. Khái niêm (SGK/ 18)

    – Phân loại (3 loại).

    ? Nêu đặc điểm của ca dao hài hước?

    – Đặc điểm của ca dao hài hước:

    + Nội dung:

    . Tiếng cười tự trào là tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động, dù họ phải sống trong cảnh nghèo khổ.

    .Tiếng cười mua vui, giải trí thể hiện niềm lạc quan của họ trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan.

    + Nghệ thuật:

    . Hư cấu, dựng cảnh tài tình.

    . Chọn lọc những chi tiết điển hình.

    . Cường điệu phóng đại, dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc…để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh.

    GV cho hs đọc văn bản.

    Hs đọc diễn cảm các bài ca dao. Gv hướng dẫn hs đọc:

    HS đọc: Yêu cầu:

    Bài 1: Hình thức đối đáp nam nữ, giọng vui tươi, dí dỏm mang âm hưởng đùa cợt.

    – Bài 1: Ca dao hài hước tự trào (tự cười mình).

    → Mục đích: mua vui, biểu hiện tinh thần lạc quan.

    Bài 2, 3, 4: giọng vui, dí dỏm, chế giễu, nhấn mạnh các từ ” làm trai, chồng em, chồng người, chồng yêu” và các động từ.

    – Bài 2, 3, 4: Ca dao hài hước châm biếm, phê phán.

    → Mục đích: mua vui, châm biếm, phê phán cái xấu.

    ? Cả 4 bài ca dao đều thuộc loại ca dao hài hước nhưng có thể phân loại cụ thể ntn?

    GV hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản CA DAO HÀI HƯỚC

    – GV chia nhóm cho HS:

    Bài ca dao số 1 được viết theo hình thức nào?

    – Viết theo thể đối đáp giữa chàng trai và cô gái (2 nhân vật trữ tình).

    *Lời chàng trai về lễ vật dẫn cưới:

    + Cách nói khoa trương, phóng đại: Dẫn voi- dẫn trâu- dẫn bò → lễ vật sang trọng.

    + Cách nói giả định: “toan dẫn” → là cách nói thường gặp của các chàng trai nghèo đang yêu ngày xưa.

    + Cách nói đối lập:

    → Chàng trai là người cẩn thận, biết quan tâm và tôn trọng gia tộc nhà cô gái. Đồng thời, chàng còn là người khéo léo, có lí, có tình, dễ tạo được sự cảm thông của mọi người và nhất là của cô gái.

    + Cách nói giảm dần:

    voi → trâu → bò → chuột.

    + Chi tiết hài hước “Miễn là có thú bốn…”

    → Tiếng cười bật lên, vì:

    + Lễ vật của anh “sang trọng”, khác thường quá, cũng là loài “thú bốn chân” ngang tầm với voi, trâu, bò.

    + Chàng trai khéo nói quá.

    + Gia cảnh thực của chàng trai: rất nghèo. +Tính cách của chàng trai: cẩn thận, chu đáo, khéo léo, dí dỏm, ưa trào lộng.

    + GV: Diễn giảng: Đây là lối đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó mang đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc

    Nhóm 2:

    Em hiểu gì về nghĩa của từ “sang” trong lời đánh giá của cô gái về lễ vật dẫn cưới của chàng trai? Đó là lời đánh giá trang trọng hay là lời biểu lộ tấm lòng bao dung của cô gái cùng chung cảnh ngộ với chàng trai?

    * Lời cô gái:

    – Lời đánh giá về lễ vật dẫn cưới của chàng trai:

    Sang → có giá trị cao.

    → đàng hoàng, lịch sự.

    → Tấm lòng bao dung của cô gái cùng chung cảnh ngộ với chàng trai.

    Nhóm 3

    Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dí dỏm, đáng yêu là nhờ vào những yếu tố nghệ thuật nào?

    – Cách nói về lễ vật thách cưới:

    + Cách nói đối lập:

    “Một nhà khoai lang” có 2 cách hiểu:

    + số lượng bằng một nhà.

    + cả nhà, cả họ nhà khoai lang (củ to, củ nhỏ, củ rím, củ hà,…)

    – Nêu cảm nhận về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo? (họ cười điều gì? cười ai? ý nghĩa của tiếng cười?)

    Lễ vật “một nhà khoai lang” vừa khá lớn lại vừa thật bình dị mà khác thường của lề vật thách cưới của gia đình cô gái làm bật lên tiếng cười.

    + GV: Cảm nhận về tiếng cười của người lao động thông qua hành động dẫn cưới và thách cưới của người xưa trong bài ca dao? Liên hệ với cuộc sống hôm nay?

    + HS: Trao đổi và trả lời

    Lời giải thích của cô gái về việc sử dụng lễ vật thách cưới:

    Củ to- mời làng.

    Củ nhỏ- họ hàng ăn chơi.

    Củ mẻ- con trẻ ăn chơi.

    Củ rím, củ hà- lợn, gà ăn.

    → Sự đảm đang, tháo vát, tình cảm đậm đà của cô gái nghèo với họ hàng, gia đình, làng xóm.

    → Cuộc sống sinh hoạt hoà thuận, nghĩa tình trong nhà ngoài xóm của nhân dân lao động.

    + Cách nói giảm dần: Củ to → củ nhỏ → củ mẻ → củ rím → củ hà.

    → Tính hất trào lộng, đùa vui.

    → Là lời thách cưới khác thường, vô tư, thanh thản, tràn đầy lòng lạc quan yêu đời.

    + GV: + HS: Trao đổi và trả lời

    + GV Diễn giảng: Dù trong cảnh nghèo người dân lao động vẫn luôn lạc quan, yêu đời, đám cưới nghèo mà vẫn vui, vẫn hóm hỉnh.

    Người bình dân đã tìm thấy niềm vui thanh cao của mình ngay trong cảnh nghèo

    → vẻ đẹp tâm hồn của người lao động.

    Tiểu kết

    – Nghệ thuật: lối nói khoa trương, phóng đại; lối nói giảm dần; lối nói đối lập.

    – Bài ca dao trên là tiếng cười tự trào về cảnh nghèo của người lao động. Đằng sau tiếng cười là thái độ phê phán hủ tục thách cưới nặng nề ngày xưa.

    – Ý nghĩa :

    + Thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, vượt lên cuộc sống khốn khó.

    + Triết lí nhân sinh đẹp: đặt tình nghĩa cao hơn của cải.

    + GV: Tiếng cười trong 3 bài ca dao này có khác gì so với bài 1?

    + HS: Trao đổi và trả lời: – Tiếng cười trào lộng khác hẳn bài ca dao 1. Nếu ở bài 1 tiếng cười chủ yếu làm vui cửa vui nhà thì tiếng cười ở 3 bài ca dao này chủ yếu là phê phán.

    – Tiếng cười trào lộng: tiếng cười phê phán

    + GV: Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội? Nhằm mục đích gì? Với thái độ ra sao?

    + HS: Trao đổi và trả lời

    – Đối tượng: những kẻ làm trai, những đức ông chồng vô công rỗi nghề và cả những ông chồng coi vợ mình cái gì cũng đẹp, cũng đáng yêu.

    – Mở đầu bằng môtíp quen thuộc: Làm trai cho đáng nên trai.

    – Đối lập:

    – Lẽ thường: Làm trai phải có sức trai khoẻ mạnh, giữ vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa vững chắc cho vợ con, phải là “Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên”, “Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”,…

    + GV: Nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân qua bài ca dao? Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp riêng của bài ca dao?

    + HS: Trao đổi và trả lời

    – Hình ảnh phóng đại, đối lập:

    → Tiếng cười bật lên giòn giã.

    – Làm trai cho đáng nên trai

    Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào.

    – Làm trai cho đáng nên trai

    Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng.

    – Làm trai cho đáng nên trai

    Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài tan.

    + GV: Nghệ thuật đặc sắc trong bài ca dao này là gì? Nhằm thể hiện nội dung gì?

    Tiểu kết: Bài ca dao châm biếm, phê phán những anh chàng yếu đuối, không đáng sức trai, vô tích sự.

    + GV: Những nét nghệ thuật tiêu biểu trong những bài ca dao hài hước trên là gì?

    + HS: Trao đổi và trả lời

    1 .Nghệ thuật

    – Hư cấu, dựng cảnh tài tình.

    – Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình với những chi tiết có giá trị khái quát cao.

    – Cường điệu, phóng đại, tương phản, đối lập.

    – Dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc, tạo ra được những bức tranh hài hước, hóm hỉnh mà có ý giễu cợt sâu sắc

    + GV: Những cảm nhận, ấn tượng sâu sắc của cá nhân về tiếng cười và ý nghĩa của nó trong ca dao?

    2. Ý nghĩa văn bản

    Tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh của người lao động Việt Nam trong ca dao – dân ca.

    GV yêu cầu HS làm bài tập 1, 2 trang 92.

    GV chuẩn xác kiến thức.

    * Bài tập 1 trang 92: Tiếng cười tự trào của người nông dân đáng yêu ở chỗ

    – Không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, vui và thích thú trong lời thách cưới.

    – Lời thách cưới thật khác thường, chỉ là khoai lang mà vô tư, hồn nhiên, thanh thản nói lên tâm hồn lạc quan, yêu đời của người lao động.

    * Bài 2 trang 92 :

    (1) “Cái cò là cái cò kỳ

    Ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà”

    (2) “Sớm mai đi chợ Gò Vấp

    Mua một sấp vải

    Đem về con hai nó cắt,

    Con ba nó may,

    Con tư nó đột,

    Con năm nó viền,

    Con sáu đơm nút,

    Con bảy vắt khuy,

    Anh bước cẳng đi,

    Con tám níu, con chín trì.

    Ôi giời ơi! Sao em để vậy, còn gì áo anh !

    ( 3 ) ” Bói cho một quẻ trong nhà

    Con heo bốn cẳng, con gà hai chân

    4. Củng cố 5. Dặn dò

    – Học, hoàn thành bài tập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Ôn Tập Lớp 7 Môn Ngữ Văn
  • Văn Mẫu Lớp 7 Đề 2: Phân Tích Bài Ca Dao “thương Thay Thân Phận Con Tằm”
  • Ca Dao Là Gì? I. Giới Thiệu Chung Về Ca Dao 1.thuật Ngữ Và Khái Niệm
  • Máy Đo Lực Kéo Đứt Cometech (Material Testing Machine) 0978.260.025
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Máy Đo Lực Kéo Chi Tiết
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Hay Nhất
  • Tuần 8. Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • ‘cà Phê Đạo’ Của Người Việt
  • Ca Dao Trào Phúng Việt Nam
  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Bài 1, 2a) Hai lời than thân đều mở đầu bằng Thân em như… với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ như thế nào? b) Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại mang sắc thái riêng được diễn tả bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau. Anh (chị) cảm nhận được gì qua mỗi hình ảnh? (Chú ý mối liên hệ giữa tấm lụa đào với phất phơ giữa chợ biết vào tay ai; giữa ruột trong thì trắng với vỏ ngoài thì đen).Trong nỗi đau đó, ta vẫn thấy nét đẹp của họ. Đó là nét đẹp gì và nó được ẩn chứa trong lời than thân như thế nào?

    a)Hai bài ca dao đều có hình thức mở đầu là cụm từ “Thân em như…” với một âm điệu ngậm ngùi, xót xa. Từ đó có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang trong độ tuổi xuân thì. Tuy họ có phẩm chất tốt đẹp, đáng trân trọng nhưng lại bất hạnh khi không được nâng niu, yêu thương. Họ không tự quyết định được tương lai, hạnh phúc của mình. Họ khát khao, chờ mong hạnh phúc nhưng cuối cùng vẫn lại phải gửi gắm hạnh phúc ấy cho số phận định đoạt.

    b)Cả hai bài ca dao đều nói đến thân phận chìm nổi, long đong lận đận của những người phụ nữ trong xã hội xưa, tuy nhiên mỗi bài lại mang một sắc thái tình cảm riêng biệt:

    -Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (“như tấm lụa đào”). Nhưng bi kịch là người phụ nữ ấy lại không thể nào tự chọn lấy tương lai của mình (“phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”). Nhân vật rơi vào một nỗi đau đớn đó là khi họ bước vào tuổi xuân đẹp nhất của cuộc đời, tự nhận thức mình là một người có sắc đẹp thì lại ngay lập tức họ nghĩ đến thân phận của mình, rồi sẽ lênh đênh về nơi nào, phương trời nào. Vì vậy mà họ cảm thấy chơi vơi mất phương hướng trước cuộc đời.

    -Bài 2: Bài ca dao là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của người con gái (“ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen”). Không chỉ vậy, bài ca còn là lời mời mọc tha thiết của người con gái, lời mời mọc ấy thể hiện khát khao được khẳng định vẻ đẹp chân chính, cái chân giá trị ở người con gái, hãy đánh giá em từ tâm hồn bên trong chứ xin đừng nhìn vào bên ngoài mà nỡ hắt hủi ai ơi!

    Câu 2 trang 84 – SGK Ngữ Văn 10 tập 1: a) Cách mở đầu bài ca dao này có gì khác với hai bài trên? Anh (chị) hiểu từ “ai” trong câu “Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!” như thế nào? b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững, thuỷ chung. Điều đó được nói lên bằng một hệ thống so sánh, ẩn dụ như thế nào? Vì sao các tác giả dân gian lại lấy những hình ảnh của thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tình nghĩa của con người? c) Phân tích để làm rõ vẻ đẹp của câu cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” (xem kĩ chú thích)

    a)Trong ca dao, motip dùng từ “Ai” – chỉ các thế lực ép gả hoặc ngăn cản tình yêu của đôi nam nữ- thường xuất hiện nhiều lần:

    – Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lung

    Bài ca dao này, từ “Ai” cũng mang nghĩa như vậy. Ai ở đây có thể là cha mẹ, hoặc là những hủ tục cưới xin phong kiến, hay có khi là chính người tình

    b)Những hình ảnh so sánh ẩn dụ mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai khẳng định cái tình của con người, mặc dù lỡ duyên nhưng tình nghĩa vẫn bền vững, sắt son. Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật trên là chúng bất biến theo thời gian, theo sự biến đổi của vụ trụ. Tác giả dân gian lấy cái bất biến của đất trời để khẳng định tấm lòng thuỷ chung son sắt của con người, mãi mãi trường tồn không thay đổi dù có vật đổi sao dời

    c)Sao Vượt là tên gọi cổ của sao Hôm, ngôi sao này thường mọc sớm vào buổi chiều, khi nó lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì vậy mà câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” giống như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt không đổi thay và ý chí quyết tâm vượt qua rào cản tình yêu của nhân vật trữ tình. Bên cạnh đó, câu ca dao- cũng là một lời nhắn nhủ với người yêu, là khát khao mong tình yêu của chúng ta có thể đi đến bến bờ hạnh phúc

    Câu 3 trang 84 – SGK Ngữ Văn 10 tập 1: Bài 4: Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung – nhất là thương nhớ người yêu – vậy mà trong bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm. Đó là nhơ thủ pháp gì và thủ pháp đó đã tạo được hiệu quả nghệ thuật như thết nào (phân tích thêm cách gieo vần trong thể thơ bốn tiếng của bài ca dao)?

    Bài ca dao này diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm tình cảm thương nhớ của người đang yêu bằng các hình tượng nghệ thuật gần gũi: khăn, đèn, mắt

    Nếu hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá (khăn, đèn chính là cô gái), thì hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể, chỉ nhân vật trữ tình) è Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho trái tim đang nhớ thương người yêu khôn nguôi của cô gái

    Chi tiết chiếc khăn được lặp đi lặp lại nhiều lần bởi trong cuộc duyên của nữ, nó thường là vật để định tình, vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó còn là một đồ vật luôn luôn ở bên người con gái, vì thế chiếc khăn có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang bộn bề trăm mối của người con gái.

    Bên cạnh đó, nỗi nhớ thương của nhân vật trữ tình còn được thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn không tắt cũng chính là ngọn lửa tình yêu trong lòng cô gái đang thắp sáng mãnh liệt suốt đêm thâu.

    Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh mắt là cả một sự thay đổi lớn, nhân vật đi từ tâm trạng day dứt, triền mien sang khắc khoải, ngổn ngang. Đến đây cô gái đã đổi diện với lòng mình và tự hỏi: “Mắt thương nhớ ai”. Hình tượng thơ vẫn liền mạch, thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi cứ liên tục được cất lên ngày càng day dứt hơn, nhưng câu trả lời có lẽ chỉ có trong lòng cô gái, trong nỗi niềm nhớ thương dâng trào ngày một đong đầy của cô mà thôi.

    Câu 4 trang 84 – SGK Ngữ Văn 10 tập 1: Bài 5: Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao, nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp đôc đáo của hình ảnh nghệ thuật này (có thể so sánh với những hình ảnh chiếc cầu khác trong ca dao về tình yêu).

    Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu ở trong ca dao là hình ảnh ước lệ độc đáo như cành hồng, ngọn mồng tơi…và ở trong bài ca dao này là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên hiển nhiên chiếc cầu dải yếm kia cũng không có thật. Ở đây thực chất chiếc cầu này là chiếc cầu tình yêu. Bài ca dao còn độc đáo ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình như một lời mời gọi của tình yêu. Câu ca dao ấy vừa chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng thật trữ tình và ý nhị. Điểm nhấn ở đây là chiếc chiếc cầu tưởng tượng kia được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… là những vật bên ngoài chủ thể). Từ đó mà chúng ta cũng có thể nhận ra được bài ca dao như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực, khao khát yêu đương mà người con gái muốn dâng hiến cho người yêu mình. Thật là một người con gái đầy chủ động mà cũng thật khéo léo, ý nhị biết bao!

    Câu 5 trang 84 – SGK Ngữ Văn 10 tập 1: Bài 6: Vì sao khi nói đến tình nghĩa của con người, ca sao lại dùng hình ảnh muối – gừng? Phân tích ý nghĩa biểu tượng và giá trị biểu cảm của hình ảnh này trong bài ca dao và tìm thêm một số câu ca dao khác có sử dụng hình ảnh muối – gừng để minh hoạ.

    Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thuỷ chung của những con người bình dân trong ca dao. Ở đây để biểu đạt những nội dung ý nghĩa ẩn giấu dưới bài ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn)

    Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được sử dụng làm biểu tượng cho tình người trong cuộc sống – đó là tình nghĩa thuỷ chung, gắn bó sắt son không bao giờ phai nhạt

    Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thuỷ chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, gắn bó, chung lưng đấu cật, cùng chia sẻ với nhau mặn nồng ấm lạnh. Bài ca dao được viết bằng thể thơ lục bát đặc trưng nhưng lại phá cách ở câu bát (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”), câu thơ kéo dài tới 13 tiếng như một số luyến láy ngân dài, vừa tạo ra tính nhạc cho lời ca dao, lại như vừa khẳng định giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng

    Câu 6 trang 84 – SGK Ngữ Văn 10 tập 1: Qua chùm ca dao đã học, anh (chị) thấy những biện pháp nghệ thuật nào thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có nét gì khác so với nghệ thuật thơ của văn học viết?

    Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng:

    -Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như…

    -Những hình ảnh, mô típ đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn…

    -Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, củ âu gai…

    -Các mô típ về thời gian li biệt, không gian xa xôi, cách trở.

    -Thể thơ lục bát – lục bát biến thể, vãn bốn (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể)

    GHI NHỚ:

    Nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương chung thuỷ của người bình dân trong xã hội cũ được bộc lộ chân tình và sâu sắc qua chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa. Nghệ thuật dân gian đã tô đậm thêm vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong các câu ca.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bán Đảo Cà Mau Giữa Đôi Dòng Mặn
  • Xây Dựng Đề Án Phát Triển Kinh Tế Vùng Và Tiểu Vùng Bán Đảo Cà Mau: Để Bạc Liêu Trở Thành Trung Tâm Của Vùng
  • Nguoi Me Trong Ca Dao
  • Tổng Hợp Tục Ngữ Dân Gian Việt Nam Hay Nhất
  • Tổng Hợp Ca Dao Việt Nam
  • Soạn Bài Lớp 10: Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 10 Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 16. Ôn Tập Tác Phẩm Trữ Tình
  • Giải Thích Khái Niệm Than Thân, Châm Biếm
  • Dàn Ý Phân Tích Những Câu Hát Châm Biếm
  • Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Cadao2 Ppt
  • Soạn Bài Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • Soạn bài lớp 10: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì I

    Soạn bài: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

    Soạn bài lớp 10: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm của ca dao và ý nghĩa của những câu ca dao than thân, cao dao yêu thương tình nghĩa quê hương, đất nước giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình.

    Soạn bài lớp 10: Ca dao hài hước Soạn bài lớp 10: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày

    CA DAO THAN THÂN

    VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm ca dao

    Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian.

    Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự.

    2. Đặc điểm của ca dao

    Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm…

    Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…).

    II. RÈN KĨ NĂNG 1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau:

    Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa.

    Nội dung yêu thương tình nghĩa:

    • Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.
    • Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ).

    2. Về các bài 1, 2

    a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.

    b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng:

    • Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?).
    • Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa.

    3. Về bài 3

    a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:

    Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…

    b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai). Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.

    c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    4. Về bài 4

    Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.

    Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.

    Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.

    Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.

    Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

    5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, là ngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình.

    Cách nhau có một con đầmGần đây mà chẳng sang chơi

    Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu

    Sợ rằng chàng chả đi cầu

    Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em… 7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là:

    Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”:

    Cành trầu lá dọc lá ngang9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn: Đêm qua ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Buồn trông chênh chếch sao mai

    Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

    Đố người bên ấy bước sang cành trầm

    Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao:

    Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nhưng đều có giá trị thẩm mĩ cao.

    Ở bài ca dao dưới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) nhưng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hướng đến chàng trai (người ở phía bên kia).

    6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn).

    Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

    Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.

    • Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như…
    • Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn…
    • Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai…
    • Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở.
    • Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).

    Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả.

    Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:

    • Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh: thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.
    • Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.
    • Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Nhất
  • Quản Lý Chất Thải Rắn Và Chất Thải Y Tế
  • Mức Độ Ảnh Hưởng Của Chất Lượng Dịch Vụ Y Tế Đến Sự Hài Lòng Của Bệnh Nhân Nội Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược
  • Tổng Quản Về Quản Lý Chất Lượng Trong Y Tế
  • Vật Chất Và Ý Thức
  • Phân Tích Những Bài Ca Dao Hài Hước

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Một Thể Loại Văn Học Ca Dao
  • Về Qui Hoạch Thủy Lợi Bán Đảo Cà Mau
  • Nguy Cơ Nghèo Hóa Bán Đảo Cà Mau: Đừng Biến Thủy Lợi Thành Thủy Hại
  • Tóm Tắt, Phân Tích Thể Loại, Tác Phẩm
  • Tiền Và “triết Đạo Cà Phê Trung Nguyên”
  • Dàn ý + Bài văn mẫu Phân tích những bài ca dao hài hước lớp 10 hay

    Phân tích những bài ca dao hài hước là tài liệu văn mẫu lớp 10 hay được chúng tôi sưu tầm. Hy vọng phần nào đã giúp các em trong việc nắm rõ nội dung văn bản trước khi bắt đầu vào viết bài. Chúc các em học tốt môn Ngữ văn 10.

    Phân tích những bài ca dao hài hước – Ngữ văn 10

    Dàn ý Phân tích những bài ca dao hài hước

    I. Mở bài

    Giới thiệu về ca dao: Là thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc diễn tả đời sống nội tâm của con người.

    Giới thiệu về chùm ca dao hài hước: Tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam nhằm tạo ra tiếng cười, phê phán những thói hư, tật xấu.

    II. Thân bài 1. Tiếng cưới tự trào, vui tươi hóm hỉnh (bài 1) * Lời dẫn cưới của chàng trai:

    Sử dụng biện pháp liệt kê, chàng trai đưa ra một loạt vật dẫn cưới: voi, trâu bò, chuột béo.

    Lối nói khoa trương, cường điệu, phóng đại: Chàng trai định dẫn cưới bằng những lễ vật rất có giá trị.

    → Chàng trai đang tưởng tượng về một lễ cưới linh đình, sang trọng. Đó là ước mơ của những chàng trai thôn quê về một ngày vu quy sung túc.

    Cách nói giảm dần từ voi – trâu – bò và cuối cùng dừng lại ở con chuột béo: Tái hiện lại hành trình từ tưởng tượng đến trở về với hiện thực của chàng trai.

    Thủ pháp tương phản đối lập được sử dụng tài tình, khéo léo để nói về hiện thực: Dẫn voi – quốc cấm, dẫn trâu – máu hàn, dẫn bò – co gân.

    → Lời giải thích hợp tình hợp lí, chính đáng vì lí do chấp hành pháp luật, lo cho sức khỏe họ hàng hai bên chứ không phải vì chàng trai không có.

    → Cách nói thể hiện sự hài hước, dí dỏm, đáng yêu, thông minh của chàng trai.

    Chi tiết hài hước: “Miễn là có thú bốn chân/dẫn con chuột béo mời dân mời làng”:

    + Thú bốn chân gợi ra hình ảnh những con vật to lớn, có giá trị.

    + Con chuột béo: Loài vật nhỏ bé, có hại và bị người nông dân ghét bỏ.

    + Sự bất thường của chi tiết: Xưa nay chưa từng thấy ai mang chuột đi hỏi vợ và cũng không thể có một con chuột nào to lớn để có thể mời dân mời làng.

    → Chi tiết hài hước vừa đem lại tiếng cười sảng khoái, vừa thể hiện sự vui tươi, hóm hỉnh của chàng trai, một tâm hồn lạc quan, phóng khoáng, yêu đời.

    * Lời thách cưới của cô gái

    – Thái độ của cô gái:

    Trước lời dẫn cưới của chàng trai cô gái “lấy làm sang” → Đây là cô gái dí dỏm, vui tươi không kém bạn đời.

    Lời nói “Nỡ nào em lại phá ngang” → Ý nhị, khiêm tốn, thông cảm với hoàn cảnh của chàng trai.

    Thủ pháp tương phản đối lập: người ta – nhà em, lợn gà – nhà khoai lang → Sự độc đáo, bất thường trong lời thách cưới bởi những lễ vật ấy bình dị đến mức tầm thường. Chính điều này đã tạo nên tiếng cười đùa vui, hóm hỉnh.

    – Lời giải thích của cô gái về yêu cầu của mình:

    Cách nói giảm dần: To – nhỏ – mê – rím – hà → Cô gái sẵn sàng đón nhận những lễ vật tầm thường, không cần lựa chọn, sắp xếp gì.

    Lễ vật được cô chia phần, sắp xếp hợp lí: Mời làng, mời họ, con trẻ, lợn gà → Cô gái là người phụ nữ đảm đang, tháo vát, khéo léo, sống có trước có sau, coi trọng tình nghĩa.

    → Thông qua lời thách cưới và dẫn cưới bất bình thường của chàng trai và cô gái đã cho thấy tâm hồn lạc quan, yêu đời, hài hước của những chàng trai, cô gái thôn quê trong cảnh nghèo khó. Chàng trai tự ý thức được cái nghèo của mình mà tự trào, tự cười cợt, cô gái thấu hiểu cảnh ngộ của hai gia đình mà vui vẻ đón nhận vì cô là người coi trọng tình nghĩa hơn của cải.

    2. Tiếng cười phê phán, mỉa mai, châm biếm

    – Câu ca dao mở đầu bằng chí “làm trai”

    Làm trai: Phải mạnh mẽ, cứng cỏi, khỏe khoắn, quyết đoán, là trụ cột của gia đình và xã hội.

    Liên hệ với chí làm trai trong văn dân gian và văn học trung đại: “Làm trai cho đáng lên trai/Xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên” (Ca dao) hoặc “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” (Cao Bá Quát).

    – Thủ pháp tương phản đối lập:

    “Khom lưng chống gối”: Gợi động tác mạnh mẽ, dứt khoát của một người làm công việc nặng nhọc, vất vả.

    “Gánh”: Hoạt động di chuyển những vật nặng.

    Hai hạt vừng”: Thứ vô cùng nhỏ bé nhỏ bé.

    → Tiếng cười được cất lên. Tư thế khoa trương nhưng hành động tầm thường. Chế giễu người đàn ông yếu đuối, tầm thường không đáng làm trai. Tiếng cười không chỉ đả kích mà còn là lời nhắc nhở sâu cay về thói hư, tật xấu của con người.

    – Cặp từ đối xứng chồng em – chồng người: Chứa đựng ngụ ý so sánh hơn thua.

    Chồng người – Đi ngược về xuôi, tung hoành ngang dọc, thỏa chí tang bồng, tháo vát tài giỏi → Thể hiện sự ngưỡng mộ, trân trọng.

    Chồng em – quanh quẩn nơi xó bếp sờ đuôi con mèo, lười nhác, đoản chí, không đáng mặt trang nam nhi → Thể hiện sự thất vọng, buồn bã.

    → Qua sự đối lập, tương phản, bài ca dao đã nói lên lời tâm sự, niềm thất vọng, xấu hổ của cô vợ có anh chồng lười nhác, hèn kém; đồng thời phê phán, chế giễu loại đàn ông lười nhác, thấp hèn, không có ý chí. Đó cũng là bài học cho những kẻ làm trai, làm chồng về lối sống và phẩm chất.

    – Hình ảnh người vợ:

    Quan niệm về người phụ nữ xưa: Dịu dàng, khéo léo, đảm đang, tháo vát, biết chăm sóc cho bản thân, cho chồng con. Nhưng người vợ trong bài ca dao lại được khắc họa vô cùng đặc biệt với ngoại hình: lỗ mũi mười tám gánh lông → Hình ảnh phóng đại bất ngờ tạo ra tiếng cười sảng khoái. Bài ca dao sử dụng cách chơi chữ “gánh lông” để miêu tả về một chiếc mũi kinh dị, kì quái.

    Những tật xấu: Đêm nằm gáy o o, đi chợ hay ăn quà, bẩn thỉu (trên đầu những rác cùng rơm) → Phép liệt kê tăng tiến những thói xấu của cô vợ không chỉ ở nhà mà còn ra ngoài cả xã hội, phóng đại làm nổi bật những tật xấu, sự vô ý tứ không thể chấp nhận ở một người phụ nữ.

    → Chế giễu người phụ nữ xấu người xấu cả nết, vô duyên đỏng đảnh.

    – Hình ảnh người chồng:

    Trân trọng chiếc mũi kinh dị của vợ, xem đó là của hiếm “râu rồng trời cho”. Trước những tật xấu của vợ, anh chồng còn bao biện mà không góp ý: “gáy cho vui nhà”, “về nhà đỡ cơm”, “hoa thơm rắc đầu” → Người chồng yêu thương, nâng đỡ, che chở cho vợ một cách mù quáng, bao biện cho vợ bằng những lí lẽ ngụy biện, phi lí.

    → Bài ca dao không chỉ đem lại tiếng cười đầy sảng khoái mà còn mỉa mai, chế giễu những thói hư, tật xấu của con người.

    → Khuyên người phụ nữ phải biết giữ gìn vẻ đẹp của mình, không nên sống buông thả, lôi thôi, luộm thuộm. Như vậy, vừa làm hạ thấp mình, vừa không tôn trọng người xung quanh.

    → Cảnh tỉnh những anh chồng yêu vợ một cách mù quáng, không có chính kiến, không biết góp ý chân thành để người mình yêu thương trở nên tốt hơn.

    III. Kết bài

    Khái quát lại đặc điểm chung của ca dao hài hước.

    Trình bày ấn tượng của mình về ca dao hài hước: ngắn gọn, súc tích, đem lại tiếng cười trực tiếp vừa ròn rã vừa sâu cay để châm biếm, nhắc nhở, thức tỉnh chứ không phải dán cách, ghét bỏ.

    Văn mẫu Phân tích những bài ca dao hài hước

    Ca dao hài hước, châm biếm là một bộ phận không thể không thể thiếu của kho tàng ca dao Việt Nam. Những bài ca dao hài hước là tiếng cười mua vui, giải trí thỏa mãn về nhu cầu giải trí tinh thần của người lao động xưa. Bài ca dao còn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động, họ là những người lạc quan, yêu đời.

    Bài ca dao thứ nhất là tiếng cười tự trào, mang ý vị hài hước, vui vẻ của người lao động trong cảnh nghèo. Lời đối đáp giữa chàng trai và cô gái trong việc thách cưới vô cùng lạ lùng, thú vị. Bài ca dao có lối kết cấu đối đáp, lượt lời đầu tiên là của chàng trai, bằng lối nói khoa trương, phóng đại, anh chàng đã nói về những lễ vật của mình. Nhưng cách nói lại sử dụng biện pháp đối lập: tự nêu ra nhưng chính anh chàng lại tự phủ định: Cưới chàng anh toan dẫn voi/ Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn/ Dẫn trâu, sợ họ máu hàn/ Dẫn bò sợ nhà nàng co gân./ Miễn là có thú bốn chân./ Dẫn con chuột béo mười dân, mời làng. Lí lẽ anh chàng đưa ra vô cùng hài hước: Dẫn voi thì sợ quốc cấm; Dẫn trâu thì sợ họ máu hàn; Dẫn bò thì sợ họ co gân. Và cuối cùng kết luận dùng con chuột béo mời dân mời làng, hi vọng con chuột béo ấy sẽ đủ để mời dân mời làng. Đáp lại lời chàng trai cô gái cũng hết sức ý nhị, dỉ dỏm, cô thách cưới một nhà khoai lang. Số khoai lang được phân phát theo trình tự hết sức hợp lí: cho dân, cho làng, cho trẻ con và cho cả những con vật trong nhà. Những lời đối đáp ấy đã cho thấy sự chu đáo, biết lo toan, đồng thời cũng rất hồn nhiên, yêu đời của cô gái. Bài ca dao thể hiện niềm lạc quan, yêu đời, ham sống của người lao động trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đồng thời thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của những chàng trai, cô gái xưa: Chàng trai mang trong mình sự hài hước, lạc quan, vui vẻ, tình cảm chân thành, còn cô gái là sự bằng lòng, vui vẻ, đảm đang, tháo vát, tình cảm và sự chu đáo dành cho làng xóm, họ hàng xung quanh.

    Bài ca dao số hai, số ba đều tập trung phê phán những người đàn ông yếu đuối, ươn hèn, vô tích sự. Câu thơ mở đầu bằng mô tip quen thuộc làm trai, nhưng có những điểm khác biệt: Làm trai cho đáng sức trai/ Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng. Câu thơ đầu cho thấy chí làm trai oai hùng đầy kiêu hãnh, như đang gánh vác việc to lớn, việc giang sơn xã tắc. Nhưng câu thơ thứ hai đã cho thấy rõ công việc anh ta gánh vác gánh hai hạt vừng. Bài ca dao sử dụng biện pháp khoa trương, câu thơ đầu nâng cao rồi đột ngột hạ thấp, để phê phán chàng trai yếu đuối về thể xác, hèn yếu về tinh thần. Quả thật đáng lên án, phê phán.

    Bài ca dao sau:

    Chồng người đi ngược về xuôi,

    Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.

    Bài ca dao trên đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa chồng người và chồng em, đồng thời gợi lên sự đối lập về không gian: đi ngược về xuôi còn chồng em không gian hoạt động chỉ ở nơi xó bếp, không gian bếp núc vốn của phụ nữ. Để hoàn chỉnh bức tranh về anh chồng nhu nhược, yếu đuối là hành động sờ đuôi con mèo. Qua đó tiếng cười bật lên, hướng vào những ông chồng vô tích sự, lười nhác.

    Bài ca dao cuối cùng phê phán những người đàn bà lười biếng, cẩu thả, vô duyên. Trong truyện cười dân gian, các tác giả dân gian thường lấy đối tượng là nam để châm biếm, phê phán như tham lam, khoác lác, lười biếng nhưng người con gái lại rất ít khi trở thành đối tượng để châm biếm, đả kích. Ca dao đã hoàn thiện sự khuyết thiếu đó. Hình ảnh người phụ nữ ẩu đoảng, lười biếng hiện lên vô cùng rõ nét: Lỗ mũi mười tám gánh lông/ Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho/…/ Trên đầu những rác cùng rơm/ Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu. Bài ca dao chế giễu những người đàn bà đỏng đảnh, vô duyên: Hình dáng thô kệch, xấu xí, có nhiều thói quen xấu: Luộm thuộm, bẩn thỉu. Tiếng cười cất lên phê phán những người đàn bà đoảng vị đồng thời cũng phê phán những người chồng mù quáng, vì quá yêu vợ mà không phân biệt tốt – xấu, thực – hư.

    Ba bài ca dao, tiếng cười ở đây tập trung phê phán cái xấu, cái chưa hoàn thiện trong nội bộ nhân dân. Tiếng cười có ý nghĩa giải trí, đồng thời cũng là cuộc đấu tranh của nhân dân với cái xấu, cái lạc hậu, bảo thủ trong xã hội.

    Ca dao hài hước châm biến thành công đều nhờ việc xây dựng tình huống gây cười, hàm chứa những mâu thuẫn gây cười. Biện pháp khoa trương, phóng đại được sự dụng thành công ở cả bốn bài ca dao. Ngoài ra biện pháp nâng cao ở phía trước hạ thấp ở phía sau cũng phát huy tác dụng để phê phán những cái xấu, cái tiêu cực trong xã hội.

    Bài ca dao là lời châm biếm hài hước, nhẹ nhàng những thói hư, tật xấu trong xã hội. Đồng thời bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động xưa: sự lạc quan, yêu đời của họ trong cảnh đời còn nhiều khó khăn, vất vả.

    Văn mẫu Phân tích những bài ca dao hài hước số 1

    – Cưới nàng, anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.

    – Chàng dẫn thế, em lấy làm sang,

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà;

    Bao nhiêu củ rím, củ hà,

    Để cho con lợn, con gà nó ăn… Dẫn trâu, sợ họ máu hàn

    Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.

    Ca dao là một thể loại trữ tình dân gian góp phần không nhỏ vào việc làm nên sự phong phú đa dạng của nền văn học Việt Nam. Ca dao hài hước với những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian đã tạo ra nhiều tiếng cười cho con người, trong đó không thể không nhắc đến bài ca dao hài hước số một trong chương trình Ngữ văn lớp 10.

    Mở đầu bài ca dao là lời dẫn cưới của chàng trai:

    Chàng trai sử dụng biện pháp liệt kê đưa ra một loạt vật dẫn cưới: voi, trâu bò, chuột béo bằng lối nói khoa trương, cường điệu, phóng đại. Chàng trai đang tưởng tượng về một lễ cưới linh đình, sang trọng với những lễ vật có giá trị. Đó cũng là ước mơ của những chàng trai thôn quê về một ngày vu quy sung túc. Tuy nhiên, những lễ vật giá trị ấy được nói giảm dần từ voi – trâu – bò và cuối cùng dừng lại ở con chuột béo; điều này tái hiện lại hành trình từ tưởng tượng đến trở về với hiện thực của chàng trai. Con người luôn muốn mơ ước, hướng đến những điều to lớn, tốt đẹp nhưng cũng luôn thức tỉnh với thực tại khó khăn, hoàn cảnh thiếu thốn của mình.

    Để an ủi chính mình, chàng trai sử dụng thủ pháp tương phản đối lập được sử dụng tài tình, khéo léo để nói về hiện thực: Dẫn voi – quốc cấm, dẫn trâu – máu hàn, dẫn bò – co gân. Lời giải thích vô cùng hợp tình hợp lí, chính đáng vì lí do chấp hành pháp luật, lo cho sức khỏe họ hàng hai bên chứ không phải vì chàng trai không có. Cách nói thể hiện sự hài hước, dí dỏm, đáng yêu, thông minh của chàng trai, bên cạnh đó, điều này cũng chính minh rằng đây là một anh chàng vô cùng lạc quan. Chi tiết hài hước: “Miễn là có thú bốn chân/Dẫn con chuột béo mời dân mời làng” thể hiện sự đối lập hài hước: thú bốn chân gợi ra hình ảnh những con vật to lớn, có giá trị. Con chuột béo là loài vật nhỏ bé, có hại và bị người nông dân ghét bỏ. Xưa nay chưa từng thấy ai mang chuột đi hỏi vợ và cũng không thể có một con chuột nào to lớn để có thể mời dân mời làng; chi tiết hài hước này vừa đem lại tiếng cười sảng khoái, vừa thể hiện sự vui tươi, hóm hỉnh của chàng trai, một tâm hồn lạc quan, phóng khoáng, yêu đời.

    Trước sự hóm hỉnh, dí dỏm của chàng chai, cô gái cũng có những lời đối đáp hài hước.

    Trước lời dẫn cưới của chàng trai cô gái “lấy làm sang” vừa thể hiện sự tôn trọng với người con trai vừa cho thấy đây là cô gái dí dỏm, vui tươi không kém bạn đời. Lời nói “Nỡ nào em lại phá ngang” thể hiện ý nhị, khiêm tốn, thông cảm với hoàn cảnh của chàng trai. Cô gái này không chỉ vui vẻ mà còn vô cùng hiểu chuyện. Thủ pháp tương phản đối lập: người ta – nhà em, lợn gà – nhà khoai lang cho thấy sự độc đáo, bất thường trong lời thách cưới bởi những lễ vật ấy bình dị đến mức tầm thường. Trước lễ vật tầm thường ấy, cô gái đã có lời gải thích về yêu cầu của mình qua cách nói giảm dần: To – nhỏ – mê – rím – hà cho ta thấy rằng cô gái sẵn sàng đón nhận những lễ vật tầm thường nhất mà không cần lựa chọn, sắp xếp gì. Lễ vật được cô chia phần, sắp xếp hợp lí: Mời làng, mời họ, con trẻ, lợn gà thể hiện cô là người phụ nữ đảm đang, tháo vát, khéo léo, sống có trước có sau, coi trọng tình nghĩa.

    Thông qua lời thách cưới và dẫn cưới bất bình thường của chàng trai và cô gái đã cho thấy tâm hồn lạc quan, yêu đời, hài hước của những chàng trai, cô gái thôn quê trong cảnh nghèo khó. Chàng trai tự ý thức được cái nghèo của mình mà tự trào, tự cười cợt, cô gái thấu hiểu cảnh ngộ của hai gia đình mà vui vẻ đón nhận vì cô là người coi trọng tình nghĩa hơn của cải.

    Bài ca dao không chỉ giúp người đọc có thêm tiếng cười sảng khoái, thư giãn mà nó còn giúp chúng ta hiểu hơn về những con người tình nghĩa bấy giờ, dù hoàn cảnh có thế nào đi nữa ở họ vẫn toát lên sự lạc quan đáng ngưỡng mộ và học tập. Nhiều năm tháng qua đi nhưng bài ca dao vẫn giữ được giá trị của nó và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước (Chi Tiết)
  • Một Số Đặc Điểm Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giảng Dạy Ca Dao, Dân Ca Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 7
  • Soạn Bài Ca Dao Dân Ca Lớp 7.
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước (Chi Tiết)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Những Bài Ca Dao Hài Hước
  • Thuyết Minh Một Thể Loại Văn Học Ca Dao
  • Về Qui Hoạch Thủy Lợi Bán Đảo Cà Mau
  • Nguy Cơ Nghèo Hóa Bán Đảo Cà Mau: Đừng Biến Thủy Lợi Thành Thủy Hại
  • Tóm Tắt, Phân Tích Thể Loại, Tác Phẩm
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc bài ca 1 và trả lời các câu hỏi: – Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo. – Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dỉ dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật nào? Lời giải chi tiết:

    – Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái. Cả hai đều nói đùa, nói vui. Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sông con người. Trong cuộc sống trai gái lấy nhau, hai gia đình ưng thuận thường có chuyện thách và dẫn cưới. Trong bài ca này cả dẫn và thách cưới có cái gì không bình thường.

    – Bên dẫn cưới (nhà trai) đem đến “một con chuột béo” miễn là có thú bốn chân”; còn nhà gái lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.

    – Trong bài ca dao này, cả chàng trai và cô gái đều tập trung trào lộng cảnh nghèo của nhà mình. Tiếng cười tự trào có phần chua chát, nhưng vui vẻ, hài hước, rất hóm hỉnh, thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sống của người lao động.

    – Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá, tương phản để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.

    + Lối nói khoa trương, phóng đại.

    Dẫn cưới: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò

    + Lối nói giảm dần:

    ● Voi ⟶ trâu ⟶ bò

    ● Củ to ⟶ củ nhỏ ⟶ củ mẻ ⟶ củ rím, củ hà

    + Lối nói đối lập: đối lập giữa mơ ước với thực tế: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò đối lập với dẫn bò.

    Câu 2 Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc các bài ca số 2, 3, 4 có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao. Lời giải chi tiết:

    – So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biếm, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân.

    Bài 1. Là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười không phải là chính mình.

    Bài 2.

    – Đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai.

    Thủ pháp nghệ thuật của bài ca này là sự kết hợp giữa đối lập và cách nói ngoa dụ.

    + Đối lập hay còn gọi là tương phản “làm trai”, “sức trai” xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan” hoặc “làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam”. Ở đây đối lập với “làm trai” và “sức trai” là “Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng”.

    + Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện tượng châm biếm “khom lưng chống gối” ấy như thế nào mọi người đã rõ.

    Bài 3.

    – Đối tượng châm biếm là đức ông chồng vô tích sự, lười nhác, không có chí lớn.

    – Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết “ngồi bếp” để “sờ đuôi con mèo”. Tác giả dân gian đã tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ. Có thể tìm thấy một số bài ca dao có nội dung tương tự:

    Chồng người lội suối trèo đèo

    Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm

    Bài 4.

    – Bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

    Câu 3 Câu 3 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước. Lời giải chi tiết:

    Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

    – Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

    – Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

    – Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

    – Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

    Luyện tập Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”, từ đó cho biết tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu và đáng trân trọng ở chỗ nào? Trả lời:

    – Thách cưới là yêu cầu của nhà gái đối với nhà trai về tiền cưới và lễ vật. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” có thể gợi cho em một nụ cười cảm thương, vừa hài hước vừa chua chát buồn thương cho sự nghèo khó của gia đình cô gái, nhưng cũng rất trân trọng vì sự thông minh, hóm hỉnh trong cách nói hài hước của cô.

    – Tiếng cười tự trào của người lao động rất đáng yêu và đáng trân trọng, bởi nó thể hiện sự lạc quan, đồng thời biểu hiện sự thông minh, sắc xảo, hóm hỉnh của những tiếng cười.

    – Tiếng cười cũng bật lên nhưng có gì như chia sẻ với cuộc sống còn khốn khó của người lao động. Đằng sau tiếng cười ấy là phê phán thách cưới nặng nề của người xưa.

    Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Sưu tầm những bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà vặt, nghiện ngập rượu chè; tệ nạn tảo hôn,… Trả lời: “Cái cò là cái cò kì Ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô Đêm nằm thì gáy o o Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà” “Bói cho một quẻ trong nhà Con heo bốn cẳng, con gà hai chân” ND chính

    Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, những tiếng cười đặc sắc trong ca dao – tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tư cười mình) và tiếng cười châm biếm, phê phán – thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan của người bình dân.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Đặc Điểm Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giảng Dạy Ca Dao, Dân Ca Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 7
  • Soạn Bài Ca Dao Dân Ca Lớp 7.
  • Đọc Hiểu Ca Dao, Dân Ca Lớp 7
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100